MỞ ĐẦU Khi trình bày quan niệm về nhận thức, trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau. Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ và hình thức khác nhau. Song đây chính là con đường biện chứng của quá trình nhận thức: “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Trong bài tập em xin lựa chọn đề tài: “Quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của nhận thức và chỉ ra sự khác biệt của quan điểm đó với quan điểm của Chủ nghĩa duy tâm, Chủ nghĩa duy vật siêu hình” để làm rõ về vấn đề nhận thức.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Khi trình bày quan niệm về nhận thức, trong lịch sử triết học đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ và hình thức khác nhau Song đây
chính là con đường biện chứng của quá trình nhận thức: “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Trong bài tập
em xin lựa chọn đề tài: “Quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của nhận thức và chỉ ra sự khác biệt của quan điểm đó với quan điểm của Chủ nghĩa duy tâm, Chủ nghĩa duy vật siêu hình” để làm rõ về
vấn đề nhận thức
Trang 2NỘI DUNG
1. Quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc
và bản chất của nhận thức.
1.1. Bản chất của nhận thức.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của nhận thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất Chính vì vậy có thể hiểu bản chất của nhận thức như sau:
Thứ nhất, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc
con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên sẽ trở thành nhận thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến thế giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua
hoạt động lao động Vì vậy, nhận thức là cái “vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Mức độ cải biến đến đâu hoàn
toàn do chủ thể nhận thức
Thứ hai, nhận thức là sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo Tính sáng
tạo của nhận thức được thể hiện rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có, nhận thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế Tuy nhiên sang tạo của nhận thức là sang tạo của sự phản ánh, bởi vì nhận thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại
1.2. Nguồn gốc của nhận thức.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình phản ảnh thế giới khách quan vào đầu óc con người nên không đồng nhất với ý
Trang 3thức Do đó nguồn gốc của nhận thức cũng bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
1.2.1. Nguồn gốc tự nhiên của nhận thức.
Nguồn gốc tự nhiên của nhận thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ
óc con người và hoạt động của thế giới khách quan cùng với mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh sáng tạo, năng động
Về bộ óc người: Nhận thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng hiệu quả, nhận thức của con người càng phong phú và sâu sắc Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên quá trình phản ánh Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Những đặc điểm được tái tạo ở dạng vật chất chịu sự tác động bao giờ cũng mang thông tin của dạng vật chất tác động Những đặc điểm mang thông tin ấy được gọi là cái phản ánh Cái phản ánh và cái được phản ánh không tách rời nhau nhưng không đồng nhất với nhau Cái được phản ánh là những dạng cụ thể của vật
Trang 4chất, còn cái phản ánh chỉ là đặc điểm chứa đựng thông tin của dạng vật chất đó (cái được phản ánh) ở một dạng vật chất khác (dạng vật chất nhận sự tác động)
Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất
- Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
- Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc…khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống
- Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện
- Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất có tổ chức cao nhất, mà có tổ chức cao nhất chính là bộ óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan
Trang 5chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Quá trình phản ánh sáng tạo năng động này được gọi là nhận thức
1.2.2 Nguồn gốc xã hội của nhận thức.
Nguồn gốc xã hội của nhận thức là lao động và ngôn ngữ Hai yếu tố này vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề của sự ra đời nhận thức
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên
nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não,… của con người Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung
nhận thức Không có ngôn ngữ, nhận thức không thể tồn tại và thể hiện
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và
Trang 6phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của nhận thức là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức và cao hơn là nhận thức
2. Sự khác biệt của quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng với quan điểm của Chủ nghĩa duy tâm và Chủ nghĩa duy vật siêu hình về nguồn gốc và bản chất của nhận thức
Xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người; chủ nghĩa duy tâm khách quan lại coi nhận thức là sự "hồi tưởng lại" của linh hồn bất tử về "thế giới các ý niệm" mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng đã bị lãng quên, hoặc cho rằng nhận thức là sự "tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối".
Đối lập với những quan niệm đó, chủ nghĩa duy vật siêu hình thừa nhận khả
năng nhận thức được thế giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ nghĩa duy vật trước Mác đã coi nhận thức là
sự phản ánh trực quan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của
sự vật Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Chính vì thế mà
C.Mác đã nhận xét rằng: "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cái cảm
Trang 7giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ quan".
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục những hạn chế trên của Chủ nghĩa duy vật siêu hình và đã lí giải một cách khoa học vấn đề bản chất của nhận thức dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất ở bên ngoài và độc lập với ý thức Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người một cách chủ động và sáng tạo (xác định khách thể và chủ thể của nhận thức)
- Thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người: “Về nguyên tắc, không có cái gì là không thể biết, có chăng chỉ là cái chưa biết được mà thôi”
- Nhận thức không phải là một hành động nhất thời, thụ động mà là một quá trình biện chứng phát triển theo quy luật nội tại của nó; là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn, là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn
- Nhận thức có nguồn gốc từ thế giới vật chất nhưng cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Con người là chủ thể của nhận thức trước hết vì con người là chủ thể trong hoạt động của mình
Tóm lại: “Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng,
năng động sáng tạo thế giới khách quan dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội".
Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Trang 8KẾT LUẬN
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trả lời đầy đủ mặt thứ hai vấn đề cơ bản cua triết học với câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan và quy luật của nó hay không? Việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức đã là cơ sở khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề về bản chất của nhận thức Đây là một bước phát triển của nhận thức lý luận trong triết học Với ự phân tích sâu sắc về biện chưng của quá trình nhận thức, lí luận nhận thức đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận của nguyên lí sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, và nguyên lý này được coi là cơ sở phương pháp luận cho việc nhận thức để hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học (Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học), Hà Nội, 2005
2. https://voer.edu.vn/c/ly-luan-nhan-thuc/c237ab4e/98816473
3. http://www.triethoc.info/2015/02/nguon-goc-cua-y-thuc.html