Người viết chỉ mới gặp một quyển tử bình và một quyển tử vi cho rằng phải là giờ Mùi mới đúng, nhưng ngay cả những sách này cũng phải đồng ý rằng giờ Ngọ mới là tiêu chuẩn, giờ Mùi được
Trang 1TỬ VI VÀ THẾ CUỘC
Tưởng Giới Thạch: Lên Làm Bá, Xuống Làm Vương!
Đằng Sơn
Một lý do khiến chúng ta say mê đọc các bộ sách gọi là "truyện tàu" như Đông châu liệt
sĩ, Hán Sở tranh hùng, Tam quốc chí v.v là khi thời thế đảo điên, tự nhiên chẳng hiểu từ đâu mà bao nhiêu nhân tài xuất hiện cùng một lúc, tạo thành những cảnh long tranh hổ đấu, với những diễn biến đầy kịch liệt, khúc mắc và kết cuộc thật đột ngột, bất ngờ
Đã ví von với long và hổ, thì trong lịch sử Trung Hoa cận đại có lẽ "long" phải là ông Tôn Dật Tiên Còn hổ thì sao? Nguyên sau khi Viên Thế Khải tự xưng làm vua và bị áp lực chống đối quá mạnh, phải tự phế chức rồi lo buồn mà chết năm 1916, nước Tàu cả loạn Các ông tướng vùng nổỉ lên cát cứ mỗi người một nơi, thành thời quân phiệt Sau khi Tôn Dật Tiên mất năm 1925 thì chẳng còn một hình ảnh lãnh tụ tối cao nào nữa, cảnh loạn lạc đạt đến cấp độ tận cùng Sức mạnh là lẽ phải duy nhất Anh hùng hào kiệt kẻ có chí nhỏ thì hùng cứ một phương, người nuôi chí lớn thì nghĩ chuyện "đuổi hươu ở trung nguyên" tức là gồm thâu nước Trung Hoa về một mối Thế nên nói đến "hổ" thì thời ấy
có rất nhiều Nhưng nếu hỏi hai con hổ hung mãnh nhất là ai thì câu trả lời chắc chắn phải là "Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch"
Chuyện Mao đánh bại Tưởng đánh bại Tưởng thì chúng ta ai cũng biết, nhưng vì không thể mang thành bại luận anh hùng, phải nói cả hai đều có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau Để theo đúng thứ tự lịch sử, lần này xin bàn lá số của Tưởng Giới Thạch
Âm hãm tại Thìn phản vi kỳ cách!
Năm tháng ngày giờ sinh của Tưởng Giới Thạch được ghi nhận rất rõ ràng là chính Ngọ ngày 15 tháng 9 năm Đinh Hợi 1887 Người viết chỉ mới gặp một quyển tử bình và một quyển tử vi cho rằng phải là giờ Mùi mới đúng, nhưng ngay cả những sách này cũng phải đồng ý rằng giờ Ngọ mới là tiêu chuẩn, giờ Mùi được đề nghị chỉ vì (theo lối xem của họ) thì giờ này có vẻ hợp hơn với đời của họ Tưởng Đó là sách tiếng Hoa Về sách tiếng Anh người viết đã gặp hai quyển có ghi giờ sinh họ Tưởng ("The Xoong Dynasty" và
"Chiang Kai Shek, the generalissimo and the country he lost"), đều ghi rõ ông Tưởng sinh ra "at noon", tức là giờ Ngọ
Lá số của Tưởng Giới Thạch đã là đề tài bàn cãi sôi nổi trong làng tử vi Đài Loan và Hồng Kông chẳng thua gì, nếu không muốn nói là có phần hơn cả lá số của Tôn Dật Tiên
Ấy bởi vì trước đó người ta cho rằng tính miếu hãm của chính tinh là yếu tố quyết định Riêng về trường hợp Âm Dương phú để lại có câu "nhật nguyệt tối hiềm phản bối" nghĩa
là hai sao Âm Dương sợ nhất cảnh "phản bối" Phản bối có nhiều cách, nhưng một trong hai cách xấu nhất là nam mệnh cư Thìn có Thái Âm Run rủi làm sao đây chính là trường hợp của Tưởng Giới Thạch Nhưng họ Tưởng số rõ rằng chẳng hạ tiện mà là thượng thượng cách Vậy phải chăng khoa tử vi sai?
Xin thưa rằng mặc dù tử vi không thể nào đúng trăm phần trăm, nhưng riêng trường hợp
Trang 2này thì không những chẳng sai mà còn quá chính xác "Nhật nguyệt tối hiềm phản bội" dĩ nhiên đúng, nhưng đó chỉ là phân nửa bài toán tử vi Nửa kia là lẽ "cùng tắc biến" thể hiện qua tứ hóa Khoa Quyền Lộc Kỵ Tưởng Giới Thạch sinh năm Đinh nên Thái Âm hóa Lộc, tức là ở thế cùng được biến thành kỳ cách Đó là chưa kể Đồng hóa Quyền ở quan, Cơ hóa Khoa ở tài khiến ba cường cung mệnh tài quan có đủ tam hóa Khoa Quyền Lộc; thêm Xương Khúc và bộ tam minh Đào Hồng Hỉ đều là thuộc hạ đắc lực của của cặp Âm Dương Nhờ vậy cách Nhật Nguyệt phản bội của Tưởng biến từ xấu ra thành cực tốt Lại nữa, Thái Âm cư Thìn đắc cách dễ tạo nên võ nghiệp phi thường Thật là phù hợp
vô cùng với cuộc đời Tưởng Giới Thạch
Tuổi trẻ gian lao
Tử Vi có một bí quyết bất di bất dịch là cặp Âm Dương bất luận ở đâu, hễ lạc hãm là số phải lao tâm khổ tứ, không thể nào an nhàn được Tưởng Giới Thạch mặc dù có cách đại quý, nhưng vì cặp Âm Dương cực hãm nên cũng không thoát khỏi số phận này
Ngay từ tuổi ấu thơ họ Tưởng đã phải chịu lắm chua xót, đau thương Mẹ là vợ kế của một thương gia bán muối Gia cảnh tương đối khá giả; nhưng năm 6 tuổi đã phải chứng kiến cái chết của cô em gái ruột là Thụy Cúc mới sinh Năm 9 tuổi thì chịu đại tang là cha chết Vì là phận thứ lẽ mẹ của Tưởng chỉ được bên vợ cả cho một phần tài sản khiêm nhượng; gia cảnh trở thành bần hàn túng thiếu Năm 12 tuổi một lần nữa Tưởng phải nhìn một người thân khác ra đi, lần này là em trai ruột Thụy Thanh, qua đời khi mới 4 tuổi thơ ngây
Nhìn lại hai cung phụ mẫu và huynh đệ, quả nhiên thấy phụ mẫu bị Liêm Tham hãm ở
Tỵ, thêm Đà Hình Không Kiếp, rõ rằng là số sớm khắc cha mẹ, không tử biệt cũng sinh
ly từ tuổi ấu thơ Huynh đệ ở Mão đắc Phủ tưởng tốt, nhưng tiếc thay Phủ bị hai đại phá cách là ngộ Song Hao và bị chính Triệt cắt ngang Sao Hỏa tinh được mệnh danh là "đoản thọ sát tinh" ở đây trở thành giọt nước tràn ly, thì làm sao anh em không yểu chiết?
Cung phụ mẫu có điểm cần chú ý Tham Không Kiếp Hình là tín hiệu của sự tu hành, vậy tại sao lại trộn lẫn với Tham Đà là cách của sắc giới? Câu hỏi được trả lời khi ta nhìn lại đời họ Tưởng kỹ càng hơn Thì ra mẹ của Tưởng đã có một đời chồng trước, nhưng chồng chết sớm bà chán cảnh hồng trần xuống tóc đi tu, ai ngờ sau gặp cha của Tưởng,
nợ trần chưa dứt đành bỏ nghiệp ni cô về làm vợ kế Thế mới biết tử vi không ứng thì thôi, khi đã ứng thì chính xác đến mức rùng mình
Quyết theo võ nghiệp
Giai thoại kể rằng từ khi còn bé Tưởng đã lộ tính bạo gan, chẳng biết sợ là gì; thường cùng các trẻ hàng xóm chơi trò tập trận đánh nhau, và trong các cuộc tập trận này, Tưởng luôn luôn đóng vai thủ lĩnh Lớn lên, giã từ cuộc chơi thơ ấu Tưởng làm việc tự nhiên là
đi thi Hương Thi hương hỏng rồi mới quyết tâm theo võ nghiệp Hãy thử tưởng tượng nếu Tưởng thi Hương đậu và được chính quyền nhà Thanh cử làm một ông tri huyện nào đó; có lẽ lịch sử Trung Hoa đã đổi khác hẳn rồi
Sau khi đả bại Nga ở eo biển Đối Mã, Nhật nghiễm nhiên chiếm địa vị đệ nhất cường quốc ở Á đông, nên du học quân sự ở Nhật hiển nhiên là giấc mộng của mọi thanh niên muốn theo võ nghiệp Nhưng du học là chuyện xa xỉ, làm sao một cậu thanh niên nghèo như Tưởng lại làm được? Chuyện này lịch sử chẳng mấy rõ ràng, nhưng có thấy nói đến việc cô Mao Phú Mai (tức vợ cả của Tưởng) phải bán tư trang giúp chồng du học Điểm
Trang 3chính là, sau một lần cầu học thất bại năm 1906 phải trở về, năm 1908 Tưởng hoàn thành ước nguyện, được nhận vào học một trường võ bị của Nhật và tốt nghiệp năm 1910 Trong thời gian du học, Tưởng kết nghĩa anh em với Trần Kỳ Mỹ và được họ Trần tiến dẫn gia nhập Đồng Minh Hội và được diện kiến Tôn Dật Tiên Thế nhưng cái duyên thầy trò giữa Tôn dật Tiên và Tưởng Giới Thạch phải mười mấy năm sau mới thành hình, và
đó là chuyện về sau
Mệnh đới đào hoa lại sinh quý tử
Mệnh có Xương Khúc Tả Đào Hồng Hỉ hội họp, thê vô chính diệu có Hữu độc thủ nên số
họ Tưởng đào lý đầy vườn Sử ghi rằng khi mới 14 tuổi (tức 13 tuổi tây) Tưởng đã có một mối tình với một cô em họ xa Thời ấy còn tục tảo hôn nên mặc dù cả hai còn ở tuổi ngây thơ Tưởng bèn về nhà thưa chuyện xin mẹ hỏi cưới Tiếc thay lời cầu hôn bị nhà gái chối từ khiến Tưởng vô cùng đau đớn Để an ủi con năm Tưởng lên 15 tuổi, mẹ Tưởng nhờ người mai mối cho lấy cô Mao Phúc Mai hơn Tưởng 4 tuổi Năm 1912 thêm cô vợ
kế là Diêu Dã Thành (Dã đây nghĩa là xinh đẹp, không phải hoang dã, dã man), rồi năm
1921 lại lấy cô Trần Khiết Như mới 16 tuổi làm thiếp Đó chỉ là những người được lịch
sử ghi lại; chứ có tướng tá và đẹp trai như Tưởng có lẽ còn nhiều mối tình hờ khác nữa Đời đa thê của Tưởng chấm dứt năm 1927 khi Tưởng bỏ hết cả ba cô Mao, Diêu, Trần để lấy cô Tống Mỹ Linh (tức là một trong ba chị em nhà họ Tống lừng danh lịch sử Trung Hoa) Dù cố biện hộ cách nào đi nữa, cũng không thể tránh được kết luận rằng Tưởng có mới nới cũ, bạc nghĩa vô tình Người ta bảo "bạc đường vợ nợ đường con" nhưng câu này không đúng chút nào với Tưởng, vì hiển nhiên trời đã trọng đãi Tưởng về đường con cái Sau một lần xảy thai, năm 1910 bà vợ cả sinh hạ Tưởng Kinh Quốc Sau này kế nghiệp cha ở Đài Loan, ông Kinh Quốc bỏ chế độ "bạch khủng bố" của Tưởng, mở lại liên hệ với Hoa Lục, cất nhắc dân bản xứ Đài Loan vào giai tầng lãnh đạo; nhờ đó hoàn thành cuộc "cách mạng nhung" đưa Đài Loan lên vị trí một tiểu cường quốc, dương danh trên mặt trận kinh tế toàn cầu Con thứ Tưởng Vệ Quốc thì theo tài liệu thực ra là con của một người bạn thân và một cô gái Nhật, vì hoàn cảnh trái ngang vừa sinh ra đã ủy thác cho Tưởng Tưởng nhận trách nhiệm, giao cho vợ kế nuôi nấng, thương yêu như con ruột, sau giúp Tưởng đắc lực trong việc tối tân hóa quân lực Đài Loan
Nhìn lại, cung Tử Tức ở Sửu quả nhiên chẳng tầm thường Tử Phá được Tả Hữu Thai Tọa giáp, Không Kiếp chiếu đều là thượng cách Phá lại tự hóa Lộc, thêm Mã Khốc Khách rõ là quý cách Với Không Kiếp và Hình hội họp, nếu mệnh yếu ắt con cái giỏi giang nhưng bất hiếu Đây vì Tưởng cách cục cực mạnh, thành thử diệu dụng được các hung cách nói trên; trở thành số được "tử thừa phụ nghiệp" tức là được con cái kế thừa, làm sáng thêm sự nghiệp của mình
Hạn vào tử tức, bạo phát mười năm
Hạn 26-35 (ứng với thời gian 1912-21) vào cung thê nguyên thủy, vô chính diệu ngộ phụ Triệt, Thiên Quan; quan lộc gặp Cự Kỵ nên khó được hội thanh vân Hạn này xảy ra sau cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, nhưng trong tổ chức của Tôn Dật Tiên ông Tưởng vẫn chỉ là hàng vô danh tiểu tốt
Thời gian 1916-18 bôn ba ở Thượng Hải chẳng nên cơm cháo gì Mùa xuân 1918 về nhậm chức chủ nhiệm khoa tác chiến của quân đoàn Việt địa (thuộc Quảng Đông) dưới quyền ông tướng vùng Trần Quýnh Minh, cơm không lành canh không ngọt mùa hạ đã từ
Trang 4chức Năm 1920 Trần Quýnh Minh bổ nhiệm Tưởng vào chức cao hơn là đệ nhị tổng chỉ huy quân đoàn nhưng có lẽ vì đã "kỵ rơ" với họ Trần mà Tưởng chối từ, lui về làng cũ ở
ẩn Năm sau 1921 lại mang tang mẹ; hoàn toàn ứng với sự kiện là đại hạn phụ mẫu vào cung Mão có Phủ ngộ Triệt Song Hao Hỏa tinh như đã nói trên
Năm 1922 là năm đầu của đại hạn tử tức, với những hung cách vô cùng tốt đẹp như đã nói trên Phải chăng vì vậy mà cơ hội đã đến với Tưởng năm trong một hoàn cảnh lạ kỳ Nguyên năm này Trần Quýnh Minh mưu phản, Tôn Dật Tiên cùng vợ là Tống Khánh Linh phải lánh nạn trên một chiến hạm Tưởng đến nơi, xẻ chia cảnh thập tử nhất sinh này với vợ chồng họ Tôn hơn 40 ngày Sau khi thoát khỏi nạn này, Tưởng trở thành người tâm phúc của họ Tôn Vì vậy năm 1923 được Tôn cử làm tham mưu trưởng của nguyên soái đại bản doanh Rồi năm 1924 Tôn mở trường võ bị Hoàng Phố, Tưởng được chọn làm hiệu trưởng Thế là cuối cùng, Tưởng đã tìm được chỗ dụng võ
Tháng 2 năm 1925 khi Tôn Văn đang mang mệnh trầm trọng ở Bắc Kinh, Tưởng lãnh đạo đội quân chỉ ba ngàn người do chính tay mình huấn luyện thành tài ở Hoàng Phố, cả phá đại binh 4 vạn quân của Trần Quýnh Minh Sau khi họ Tôn qua đời tháng 3 năm
1925 (kỳ trước ghi lầm là tháng 12, xin thành thật cáo lỗi độc giả), vài tướng lãnh ở vùng Quảng Đông định thừa cơ chiếm quyền đều bị Tưởng mau chóng dẹp tan Thế là trong nháy mắt tiếng anh hùng vô địch của Tưởng vang lừng thiên hạ, trở thành nhân vật thực
tế nắm quyền ở Quảng Châu
Năm 1926 Tưởng bắt đầu cuộc hành quân bắc phạt Chi tiết nhiêu khê rắc rối nhưng nhưng đại khái thế của Tưởng mạnh như chẻ tre, đến cuối năm 1928 thì mọi lực lượng quân phiệt đều bị Tưởng khuất phục Vậy là Tưởng đã nhất thời gồm thâu thiên hạ, thật là một thành tích vô cùng kinh khủng Bởi vậy có kẻ nịnh thần tuyên dương rằng vũ công của Tưởng còn vĩ đại hơn Tần thủy Hoàng
Nhưng trong phút huy hoàng đã manh nha mầm tai họa Thu được giang sơn rồi Tưởng
có ý giải giới quân đội, cho lính về quê cày ruộng làm ăn Ý định này khiến các tướng có công lớn trong cuộc bắc phạt như Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân bất mãn; và là nguyên nhân dẫn đến cuộc nội loạn sau được sử gọi là "trung nguyên đại chiến" năm 1930 Trong cuộc đại chiến này, phe Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân có khoảng 800 ngàn quân, đối địch lại khoảng một triệu quân của Tưởng, quả là cảnh máu xương sông núi, thắng bại khó phân Nhưng phải chăng là nhờ còn trong vận Tử Phá Tả Hữu mà tư lệnh Mãn châu Trương Học Lương quyết định theo phe Tưởng làm lệch cán cân; và một lần nữa Tưởng lại cả thắng
Bá nghiệp tan tành
Khi cuộc "trung nguyên đại chiến" xảy ra, đảng cộng sản là ngư ông đắc lợi, nhờ đó thiết lập được căn cứ ở Giang Tây Sau 3 lần tấn công nửa vời, năm 1933 Tưởng quyết định tổng tấn công Lực lượng của Tưởng có khoảng 700 ngàn quân, phe cộng chỉ có 150 ngàn thì làm sao chịu nổi Năm 1934 phe cộng quyết định mở đường máu rút lui Cuộc rút lui
vỉ đại này sau được gọi bằng mỹ danh là cuộc "vạn lý trường chinh" kéo dài hơn một năm, với kết cuộc là phe cộng về được đến một cứ điểm mới, nhưng lực lượng tiêu hao trầm trọng chỉ còn dưới 30 ngàn người
Cuối năm 1936, trong khi tàn quân của phe cộng đang nín thở chờ một cuộc tổng tấn công được mệnh danh là "5 phút sau cùng" thì hình như số trời đã định mà xảy ra biến cố sau này gọi là "Tây An sự biến" Trương Học Lương, người đã về phe với Tưởng trong
Trang 5cuộc trung nguyên đại chiến đột ngột trở mặt, bắt giam Tưởng mưới mấy ngày, ra điều kiện rằng Tưởng phải nhận lời cộng tác với phe cộng để kháng chiến Nhật mới thả Tưởng may mắn thoát nạn rồi không ra lệnh tận diệt cộng sản Nhờ đó lực lượng cộng sản mới sống còn
Giai thoại kể rằng ngay trong cuộc vạn lý trường chinh đã có lúc Tưởng có cơ hội dùng hỏa công thiêu rụi Mao và mấy vạn đồng đảng, nhưng Tưởng quyết định không làm Lại thêm một bí mật là sau vụ Tây An sự biến tại sao Tưởng không ra lệnh tổng tấn công cộng sản? Một số tài liệu không thân thiện với Tưởng nói lý do là Tưởng đã đồng ý không tấn công cộng sản nên mới được Trương Học Lương thả Thực tế là cho đến bây giờ người ta vẫn chưa tìm được bất cứ dấu tích nào chứng tỏ Tưởng đã hứa làm việc này,
dù là hứa miệng
Nói thế nào thì nói, rốt cuộc thì nhờ không bị tận diệt năm 1936 mà lực lượng cộng sản
có cơ hội hồi sinh và phát triển Sau đệ nhị thế chiến chấm dứt, cuộc chiến tranh quốc cộng lại vỡ bùng Năm 1947 phe cộng bắt đầu thắng lợi, và năm 1949 quân đội của Tưởng hoàn toàn tan vỡ Tưởng phải bỏ đại lục chạy sang Đài Loan
Những diễn biến trên đây ứng với hai đại hạn 46-55 và 56-65 kéo dài từ 1932 đến 1951 Đại hạn thứ nhất vào cung Tý, vẫn đắc tam hóa, nhưng cung thiên di có Cự Kỵ, nô bộc có Tham Liêm hãm Hình Không Kiếp thật chẳng hay; năm 1936 Thái tuế trùng phùng đại hạn, theo nào bị cấp dưới phản bội Đại hạn thứ hai thì vào Hợi, quan ở Mão là Phủ chính Triệt Song Hao Hỏa tinh, là đại phá cách đã được nhắc đến mấy lần trong bài này, thêm cung tài có Tướng ngộ chính Tuần khác nào ông Tướng bị dao kề cổ Năm 1949 Thái Tuế ở Sửu xung Tướng, tiểu hạn lại vào Mão chính là đến ứng kỳ, nên sự nghiệp tan tành thật là phải quá!
Vẫn một cõi xưng vương!
Nhưng may sao đại hạn 56-65 dù xấu vẫn còn có điểm gỡ gạc là vào đúng vị trí Thái Tuế nên không đến nỗi như Hạng Vũ vào thế cùng ở bến Ô Giang Các chuyên gia chính trị bậc nhất thế giới thời ấy tiên đoán rằng chính phủ của Tưởng không thể nào tồn tại ở Đài Loan quá một năm Thực tế đã cho thấy rằng họ hoàn toàn sai Bằng biện pháp vừa khủng bố vừa khuyến khích tiến bộ, Tưởng ổn định tình hình Đài Loan, rồi an hưởng tuổi già ở đó Năm 1975 đại hạn vào cung Thân có Đồng Lương Đào Hồng Hỉ Thái Tuế ngộ Phủ Song Hao Triệt, tiểu hạn ở Tỵ gặp Liêm Tham Hình Không Kiếp quả là đã đến số Nên yên ổn trút hơi thở sau cùng ở Đài Loan, thọ 89 tuổi
Mặc dù chẳng bao giờ thực hiện được giấc mộng trở về giải phóng lục địa, mấy mươi năm sau cùng của Tưởng ở Đài Loan phải kể là một thành công vào hàng phép lạ Ta có thể trách Tưởng đã quá tàn ác với người Đài Loan (có tài liệu cho rằng Tưởng đã tàn sát mấy trăm ngàn người để bắt dân đảo này theo mình), nhưng phải công nhận rằng sự kiện Đài Loan biến hình từ một hòn đảo lạc hậu thành một tiểu cường quốc không ít thì nhiều cũng do công lao của Tưởng
Đúng như câu "nhất tướng công thành vạn cốt khô", một người làm nên sự nghiệp bằng chiến tranh như Tưởng tất nhiên có người khen kẻ chê, người mê kẻ ghét Nhưng điểm chính là xưa nay kẻ dựng lên bá nghiệp rồi tan rã mà vẫn còn được hùng cứ một phương
và mạnh miệng mắng chửi kẻ thù mà chẳng bị hậu quả gì cả; lúc chết được hưởng quốc táng, lại có quý tử nối nghiệp thì có lẽ chỉ một mình Tưởng Giới Thạch mà thôi
Trang 6Ngày 10 tháng 17 năm 2004
ĐẰNG SƠN
Tử Vi & Thế Cuộc: Tôn Dật Tiên Lưu Danh Thiên Cổ
Đằng Sơn
Sách vở ghi lại rằng ngày 10 tháng 12 năm 1949 Tưởng Giới Thạch lên phi cơ bỏ Hoa lục tháo thân tìm đất sống ở Đài Loan Với Mao Trạch Đông là kẻ chiến thắng, lịch sử Trung Hoa sang một trang mới và những nghịch lý mới Tình cờ làm sao, từ ngày lịch sử
ấy đến nay tính ra đúng 55 năm Con số 55 có ý nghĩa rất đặc biệt với những người lưu tâm đến mệnh lý, ấy bởi vì nó chính là tổng số 5 cặp số (1,6), (2,7), (3,8), (9,4), (5,10) của hà đồ, một đồ biểu vừa có tính toán học vừa có tính huyền bí vào bậc nhất của Á Đông
Mà đã nói đến mệnh lý và hà đồ thì lại phải trở về nước Trung Hoa Lịch sử cận đại của Trung Hoa đầy sắt máu hỗn loạn Đấu tranh luôn luôn phân thành phe phái, ai cũng nói mình đúng nó sai, nên một người được phe Tưởng thán phục, ngợi khen tất bị phe kia Mao chê bai mắng chửi và ngược lại Thế mà có một nhân vật đặc biệt không bị quy luật này chi phối, đó là ông Tôn Văn, tức Tôn Dật Tiên
Điểm độc đáo của ông Tôn là ông được cả hai phe, theo Tưởng cũng như theo Mao, cùng
ca ngợi Hơn nữa, đã qua đời hơn ba phần tư thế kỷ, đến nay ông vẫn được nhiều người Trung Hoa trong nước cũng như hải ngoại coi như là tác nhân chính dẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 lật đổ nhà Mãn Thanh và biến Trung Hoa thành một nước cộng hòa
Để tỏ lòng nhớ ơn, họ gọi ông một cách tôn kính là "quốc phụ," dịch nôm na là "vị cha già của đất nước."
Người tò mò không khỏi thắc mắc, lá số họ Tôn có gì đặc biệt mà ông lại có một chỗ đứng lịch sử đặc biệt như vậy?
VẤN NẠN NĂM THÁNG NGÀY GIỜ SINH ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
Để bắt đầu ta phải giải quyết vấn nạn về năm và ngày sinh Theo ông Bạch Thủy Thanh Tùng viết năm 1937 trong quyển sách bát tự "mệnh lý sách ẩn" thì ông Tôn sinh năm Ất Sửu (1865) Một số sách ra sau này như "Tử Vi Đẩu Số Tân Giải" của ông Khổng Nhật Xương, "Tử Vi Đẩu Số Mệnh Phổ Khảo Chứng" của ông Hồng Lăng cũng ghi như vậy Một trường phái khác, trong đó có hai mệnh lý gia nổi tiếng của Đài Loan là các ông Chính Huyền Sơn Nhân (trong bộ "Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số") và ông Phan Tử Ngư (trong quyển "Tử Vi Đẩu Số Tâm Đắc") lại cho là năm Bính Dần Ngày sinh thì các tài liệu trên đều cho là 6 tháng 10 âm lịch; nhưng theo chính lời tự thuật của ông Tôn Dật Tiên thì ông sinh ngày 16 tháng 10 âm lịch Có bốn dữ kiện mà hai đã bất đồng rồi thì làm sao xem số?
Rất may, sau khi người vợ đầu của ông Tôn Dật Tiên qua đời năm 1952, người ta tìm ra trong các tài liệu cá nhân của bà một văn bản quan trọng là tờ "định thời chỉ," do một ông thầy bát tự ghi lại năm tháng ngày giờ sinh khi ông Tôn vừa ra đời
Tờ "định thời chỉ" này ghi rất rõ: "Đồng Trị ngũ niên, thập nguyệt, lục nhật, Dần thời"; tức năm Đồng Trị thứ 5, tháng 10, ngày 6, giờ Dần; và ngay cạnh đó phân thành bát tự cũng nguyên văn "Bính Dần, Kỷ Hợi, Tân Mão, Canh Dần." Dùng phép tỷ giảo, thiết nghĩ phải coi tờ thời trị này là tiêu chuẩn mà bỏ các tư liệu khác, tức là phải coi ông Tôn
Trang 7Dật Tiên ra đời ngày 6 tháng 10 năm Bính Dần giờ Dần
THÂN NGỘ TỨ QUYỀN, UY DANH HIỂN HÁCH!
Điểm lạ lùng về lá số của ông Tôn là mệnh ở Dậu có Thiên Đồng hãm độc thủ, thân ở Sửu có Thiên Cơ cũng hãm độc thủ; nghĩa là chính tinh ở mệnh lẫn thân đều lâm hãm địa Thêm sinh tháng 10 đương nhiên là cảnh "Mệnh không thân kiếp" thì sao lại được lịch sử lưu danh? Có lẽ vì khúc mắc đó mà nhiều nhà mệnh lý đến giờ phút này vẫn chưa tin rằng ông Tôn Dật Tiên sinh ngày 6 tháng 10 năm Bính Dần giờ Dần Có người còn cho rằng ông phải sinh giờ Mão mới đúng, vì tối thiểu giờ Mão cặp Kiếp Không ở Dần Thân là miếu địa
Thế nhưng nhìn kỹ lại, nhờ sinh năm Bính Thiên Đồng ở mệnh hóa Lộc, Thiên Cơ ở thân (tức cung quan) hóa Quyền; nên mệnh thân đều đắc cách "tuyệt xứ phùng sinh" trở thành
kỳ cách Thân ở Sửu có Cơ hóa Quyền như đã nói trên, lại có ba tự Quyền (của Cự
Lương Đồng) hội họp Vậy là thân và tam phương triều về đều có quyền; lại thêm Tả Hữu Hồng Hỉ Quang Quý; bảo sao số không bột phát kinh khủng?
Vì Tôn Dật Tiên có cách "mệnh Không thân Kiếp" thiết tưởng cần nói thêm về cặp sao này Nhiều người vẫn triệt để theo sách cổ, lên án cặp Không Kiếp theo lẽ "Không tác hư không, Kiếp tác sơ cuồng" nghĩa là Địa Không làm chuyện không đâu, Địa Kiếp làm chuyện rồ dại Theo ý người viết, vậy là đã nhìn cặp sao này ở ý nghĩa quá nhỏ hẹp Không Kiếp là yếu tố bất ổn nên hiển nhiên bất lợi cho đời sống bình thường, nhưng ta đâu thể dùng lẽ thường để xét đời của các nhân vật kiệt liệt Thí dụ trong ngay trong loạt bài này thì đã có hai người là bà Condoleezza Rice, vừa được Tổng Thống W Bush đề cử làm tổng trưởng ngoại giao Hoa Kỳ; và rõ ràng hơn nữa Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Laura Bush
Thay vì đi vào chi tiết rắc rối, chỉ xin đưa quan điểm rằng chính nhờ cặp Không Kiếp "hư không" và "rồ dại" này mà họ Tôn đã nghĩ ra một học thuyết rất lạ lùng là "ngôn nan hành dị"; giảng nghĩa nôm na ra là có nhiều chuyện nói nghe khó mà làm rất dễ Và đời
họ Tôn đã là chứng minh hùng hồn giá trị của học thuyết này Không một tấc sắt trong tay mà đòi lật đổ một triều đại đã kéo dài mấy trăm năm, chẳng phải là việc không tưởng hay sao? Ta có thể nói họ Tôn chỉ là một người may mắn tình cờ ở đúng chỗ đúng thời nên được hưởng công lao Nhưng nói gì mặc lòng, điểm quan trọng nhất là họ Tôn đã dám bất chấp hậu quả, nhất định theo đuổi lý tưởng có vẻ hết sức viển vông của mình Thế nên ngược lại phải nói ông lưu danh hậu thế chính là nhờ cặp Không Kiếp "không đâu" và "điên rồ" vậy!
GIAI THOẠI TÔN DẬT TIÊN
Người Á Đông có khuynh hướng huyền thoại hóa những nhân vật kiệt liệt, thế nên những
dữ kiện về đời ông Tôn thật khó biết đúng sai, nhưng dù sao thì vẫn là dữ kiện, nên xin ghi lại đây:
Người ta bảo cậu bé Tôn Văn sinh ra trong một gia đình nghèo ở huyện Thúy Hanh thuộc tỉnh Quảng Đông Lên 6, 7 tuổi đã phải vào rừng lên núi kiếm củi với chị Lớn hơn chút nữa thì phải làm trẻ chăn bò Năm 11 tuổi (tức 10 tuổi Tây) mới được cho đi học, và mặc
dù còn thơ ngây, cậu Tôn Văn đã thấy ngay tính quan liêu trong cung cách của các thầy giáo, bọn trẻ như ông chẳng được giảng dạy gì cả, phải tự học lấy, lại phải tôn kính cơm bưng nước rước phục vụ cho thầy
Trang 8Lại có chuyện kể rằng trước nhà cậu Tôn Văn có một cây đa to Những ngày nóng dưới bóng râm của cây đa ấy có một ông già tên Bằng Sảng Quan từng đi lính cho Thái Bình Thiên Quốc ngồi kể lại chuyện xưa cho bọn trẻ nghe Những câu chuyện này đã tạo ấn tượng rất mạnh trong đầu cậu, dẫn đến cái nhân cách mạng sau này
Năm 1978, mới ở tuổi 13, cậu có một cơ hội hết sức đặc biệt là cùng mẹ sang quần đảo
Hạ Uy Di sống chung với người Anh đã tha phương cầu thực ở đó nhiều năm trước và may mắn trở thành một ông chủ nhỏ Thật ứng hợp làm sao, vì đây vẫn thuộc đại hạn đầu tiên ở Dậu có Thiên Đồng Đồng hãm địa vốn ứng với sự phiêu du, đối cung Âm, tam hợp Cơ đều là động tinh, hạn tài có nguyệt mã (khác Thiên Mã) Lộc Tồn, Lộc Quyền hội họp đúng là cách đi xa đắc chí Cung huynh đệ thì có Sát Phá Tham Mã Khốc Khách Xương Khoa song Hao đắc địa, đúng là cách có anh em xuất ngoại tay trắng làm nên
Ở Hạ Uy Di cậu Tôn được anh gửi vào trường học Nhờ đó cậu có cơ hội làm quen với những tư tưởng của tây phương như triết lý dẫn đến cuộc cách mạng Pháp và thuyết tiến hóa của Charles Darwin Cậu cũng được chứng kiến cuộc đấu tranh tuyệt vọng của người dân bản xứ chống lại mưu toan của Hoa Kỳ sát nhập Hawaii Trông người lại nghĩ đến ta, cậu đau lòng trước cảnh đất nước Trung Hoa đang bị các cường quốc Tây phương xâu xé Cái nhân cách mạng lại càng rõ nét
NHẤT ĐỊNH ĐẤU TRANH!
Cứ theo các câu chuyện kể thì khúc quanh lớn của đời ông Tôn Dật Tiên xảy ra vào năm
1894 khi ông và một đồng chí tìm cách đệ trình lên quan lớn Lý Hồng Chương một bản
đề nghị dài tám ngàn chữ, yêu cầu cải cách canh tân Không được Lý Hồng Chương tiếp,
kế đó Trung Hoa đại bại trong cuộc chiến với Nhật Bản (phải ký hòa ước bồi thường chiến phí và nhượng đảo Đài Loan năm 1895) Đây chính là giọt nước tràn lý, cái nhân cách mạng đã mọc lên thành cây; và ông Tôn lao đầu vào cuộc đấu tranh, chẳng bao giờ nhìn lại nữa
HÌNH TÙ KỴ ẤN, LAO NGỤC NAN ĐÀO!
Cuộc cách mạng của Tôn Dật Tiên bắt đầu một cách khiêm nhượng nếu không muốn nói
là tai hại Ông trở lại Hạ Uy Di, kêu gọi mãi mới tìm được khoảng 20 đồng chí, lập thành Hưng Trung Hội cuối năm 1894, chủ trương làm cách mạng bằng vũ lực, có nhờ cả một chuyên viên người Đan Mạch làm huấn luyện viên sử dụng vũ khí tiền tiến của tây
phương Nhưng Thiên Đồng cư mệnh khó lòng thực tế, hiển hiện rõ rệt vì mưu toan nổi dậy đầu tiên của ông năm 1895 chưa khởi sự đã lộ ra ngoài và bị bóp chết từ trong trứng nước Nhà Thanh trương hình ông lên, treo thưởng lớn May ông kịp thời lánh nạn sang Nhật Bản
Ở đây phải nói về cung tử tức Cung này vừa có Liêm hóa Kỵ, vừa bị cả Hình lẫn Kình trấn giữ, nhằm cả hai hung cách là Hình Tù giáp Ấn và Hình Tù giáp Kỵ Từ đó phải đoán đường con cái phải gặp cảnh sinh ly tử biệt Quả nhiên, mặc dù có một trai hai gái với bà vợ đầu, vì đời tranh đấu bôn ba ông Tôn ít khi có cơ hội gặp con Bất hạnh hơn nữa là người con gái thứ của ông, tức cô Tôn Kim Diễm, sinh năm 1895, tiểu hạn nhằm đúng ngay cung mệnh nên bị ứng mạnh, đột ngột qua đời năm 1913, khi chưa kịp đến tuổi đôi mươi
Hai hung cách này ở cung tử nghĩa là xung cung điền Thế nên ngoài chuyện bất hạnh
Trang 9đường con cái cũng rất khó tránh chuyện ngục tù Đọc thoáng qua đời Tôn Dật Tiên ta không thấy ông bị tù, nhưng xem lại kỹ hơn thì năm 1896 sang vận động đấu tranh ở Luân Đôn ông bị một thám tử người Anh lừa bắt rồi đưa vào giam ở sứ quán Trung Hoa, suýt bị giải về nước cho nhà Thanh xử tử
May sao, ông tìm cách liên lạc được với một ông thầy dạy học cũ Tin ông bị bắt do đó lộ
ra ngoài rồi được đăng lên đủ thứ báo Quần chúng Anh giận dữ lên tiếng đòi chính phủ phải can thiệp để ông được thả ra Chính quyền nhà Thanh yếu kém, làm sao dám đi ngược lại nước Anh là đại cường số một của thế giới thời ấy? Thế nên ông được thả sau
12 ngày bị giam giữ Nhìn lại đại hạn năm 1896, quả nhiên cung tật vào Ngọ bị đúng các cách Hình Tù giáp Ấn và Hình Kỵ giáp Ấn đã kể trên Thế mới biết tử vi chính xác Số
đã nói phải tù thì dù anh hùng kiệt liệt như họ Tôn cũng khó mà thoát được
CHÍNH NHỜ BẤT CẨN, NỔI TIẾNG NĂM CHÂU!
Theo quyển "The Soong Dynasty" (triều đại nhà Tống) của ông Sterling Seagrave thì ông Tôn bị bắt hoàn toàn là vì bất cẩn, đã phạm những lỗi lầm cơ bản nhất của một người đang bị nhà Thanh treo giá bêu đầu Chi tiết chẳng cần đề lại đây, nhưng giả như ông cẩn thận hơn thì có lẽ đã không bị bắt, mà không bị bắt thì đã chẳng ai buồn biết Tôn Dật Tiên là ai
Sự thật đã chứng tỏ là nhờ báo chí khắp nơi đăng tải mà sau khi được thả ra thì Tôn Dật Tiên thành một tên tuổi quốc tế, và rồi nhanh chóng được huyền thoại hóa như một thiên thần Hóa ra, "nhờ" bất cẩn mà ông Tôn đã đạt cái thành công to lớn nhất của một người đấu tranh chính trị là trở thành tên tuổi trên đầu môi chót lưỡi của người đời Thế mới biết đời này dại khôn khó luận, họa phúc nan lường
Nhưng hoàn cảnh của ông trong nhiều năm kế tiếp đó vẫn chỉ là có tiếng mà không có miếng Tính đến cuối năm 1910 các tổ chức dưới quyền ông tổ chức thêm nhiều cuộc nổi dậy nữa, và đều thất bại thê thảm Xem lại lá số thì đây là hai hạn 26-35 và 36-25 (thời gian 1891-1910) Hạn đầu ở Hợi có Thái Dương cực hãm lại không được cát hóa, may
mà Di có Cự tự Quyền Lộc Tồn nguyệt mã, Phúc vào Sửu được bốn Quyền tụ họp như đã bàn trên nên biến hung hiểm thành cơ hội Hạn sau vào Phá ở Tý tưởng tốt đẹp, tiếc rằng Phá rất kỵ Xương Khúc, cung lại bị Thiên Phúc trấn giữ, đại sự nan thành
MỘT BƯỚC CÔNG DANH, MƯỜI NĂM LAO TOÁI!
Kế đó là hạn 46-55 vào chính cung Sửu là lúc thời cơ đã đến Biến cố đầu tiên là cuộc nổi dậy thất bại ở Hoàng Hoa Cương tháng 4 năm 1911 khiến 72 đồng chí của ông Tôn phải
hy sinh (sau này được gọi là cuộc nổi dậy của 72 liệt sĩ)
Ngày 9 tháng 10 một cuộc nổi dậy nữa bị bại lộ, nhưng phải chăng vì năm 1911 đại tiểu hạn trùng phùng, số trời đã định phải có biến cố thuận lợi xảy ra cho ông Tôn, mà lịch sử
đã thể hiện cái tính nghịch lý của nó? Sự thật là vì chính quyền nhà Thanh nhất quyết tận diệt lực lượng cách mạng bằng bạo lực, nhiều người có cảm tình hoặc dính líu đến tổ chức của ông Tôn cho rằng mình phải nhất tề nổi dậy để tìm cái sống trong cái chết Chi tiết chẳng cần nói thêm, vì đây chính là cuộc cách mạng Tân Hợi 10 tháng 10 năm 1911, dẫn đến sự cáo chung của nhà Mãn Thanh và sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong lịch sử Trung Hoa, đầy hy vọng nhưng ngập tràn sắt máu Là vị anh hùng số một, ông Tôn vinh quang về nước và được bầu vào chức lâm thời đại tổng thống cuối năm 1911
Trang 10Thế nhưng xét trên căn bản đại hạn thì cung Sửu có một khuyết điểm lớn vì nó ở vị trí Trực Phù là nơi rất yếu, đầy thua thiệt của vòng Thái Tuế Thành thử, công lao cách mạng bị Viên Thế Khải tìm cách chiếm đoạt Năm 1912 họ Viên ép ấu chúa Phổ Nghi thoái vị, rồi đóng một vở kịch hòa giải với lực lượng cách mạng, bảo rằng chính mình cũng chủ trương dân chủ Cực chẳng đã ông Tôn phải nhường chức lâm thời đại tổng thống cho họ Viên và nhận một chức vụ khiêm nhượng nếu không muốn nói là bù nhìn là phụ trách việc thiết lập hệ thống đường xe lửa cho chính phủ mới Khi nắm quyền rồi họ Viên diệt hết lực lượng chống đối bằng vũ lực cũng như thủ đoạn mờ ám, và rồi tự xưng làm vua Cuối cùng vì áp lực nổi dậy khắp nơi, họ Viên lâm bệnh rồi chết trong nhục nhã năm 1916 sau chỉ 83 ngày "tại vị."
Họ Viên chết rồi chuyện cũng chẳng yên vì trung ương trống rỗng tất bốn phương loạn lạc Trong những năm sau đó, ông Tôn hết lên voi rồi lại xuống chó, liền liền như chong chóng Hôm nay là đại lãnh tụ, mai lại phải về vườn hoặc hốt hoảng lưu vong; nhưng phải chăng ở tam hợp Thiếu Âm-Long Đức-Trực Phù thêm Không Kiếp thích hợp cho việc dưỡng nuôi tư tưởng mà hai năm 1918 và 1919 ông đã hoàn chỉnh "hệ tư tưởng Tôn Văn" dẫn đến thuyết tân Tam Dân, tức "dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc" và thuyết "tri nan hành dị" (nói khó làm dễ), có thể coi là một cách nhìn vô cùng mới lạ về những vấn đề lớn của cuộc đời
VẪN CHỈ LÀ MỘT CON NGƯỜI!
Cho đến đây ta chỉ thấy ông Tôn Dật Tiên như một vị đại anh hùng, cả đời hy sinh vì đất nước chẳng lý gì đến quyền lợi cá nhân Đây dĩ nhiên là hình ảnh được vẽ ra trong đa số các sách viết về ông bởi người Trung Hoa
Để quân bằng xin bàn đến cung thê vì cung này rất lạ Lương có Thanh Long Lưu Hà thêm Xương Khúc Thai Tọa giáp tất nhiên chẳng dở, và hoàn toàn ứng hợp với bà vợ kiệt liệt của ông, tức bà Tống Khánh Linh (sau là phó chủ tịch và rồi chủ tịch danh dự của Hoa lục) Thế nhưng sao lại có thêm Hỏa Linh Đào Hồng Hỉ Không Tả Hữu và Mộc Dục hội họp, đại biểu liên hệ thiếu đứng đắn?
Xem kỹ lại đời ông, ta mới hiểu Ông lấy một cô Lô Mộ Trinh làm vợ theo lệnh cha mẹ năm 1885, sinh con trai trưởng Tôn Khoa năm 1891, con gái thứ Tôn Kim Diễm 1895, con gái út Tôn Kim Uyển 1896 Năm 1913 khi ông sang Nhật để tránh họa Viên Thế Khải, bà vợ cũng theo ông Thế nhưng khi ở Nhật ông và bà Khánh Linh nảy ra một mối tình thầm kín Vấn đề là ông Tôn và cha bà Khánh Linh, tức ông Charlie Tống vừa là hai người bạn thân, vừa là hai đồng chí đấu tranh, tuổi ông Tôn lại hơn bà Khánh Linh hai con giáp Bà Khánh Linh có lần khéo miệng thưa chuyện này với cha và bị cực lực phản đối
Năm 1915 bà Tống Khánh Linh trốn nhà từ Thượng Hải sang Nhật gặp ông Tôn Ông Tôn bảo bà là ông đã ly dị vợ, và hai bên tiến hành hôn lễ Nhưng chẳng có tài liệu nào chứng thực là ông Tôn đã ly dị vợ, nên tối thiểu trên mặt luật pháp phải nói là ông Tôn đã
bỏ vợ theo một người đàn bà khác Phần bà Khánh Linh, rõ ràng đã bất chấp lệnh cha mẹ lén bỏ sang nước khác theo tiếng gọi của con tim Vậy thì, dù muốn dù không cũng phải nhìn nhận hai người đã có liên hệ thiếu đứng đắn Tức là khoa Tử Vi một lần nữa lại đúng không thể tưởng tượng được
Người đau đớn nhất trong vụ này là cha bà Khánh Linh, ông Charlie Tống; vì đã coi ông