ââsfaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaadfsaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 1Câu 1:
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, mở rộng tự do hóa thương mại, làn sóng ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang trở nên mạnh
mẽ trên khắp thế giới và trở thành một xu thế mới trong quan hệ kinh tế quốc tế Không nằm ngoài xu thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều Hiệp định FTA, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội
Trong đó phải kể đến những hiệp định: TPP, EU, HQ, NB, VN-CHILE,…
Tháng 07/1995, Việt Nam đã ký kết các điều ước quốc tế gia nhập ASEAN và chính thức tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vào tháng 01/1996 Tiếp đó, Việt Nam đã tham gia một số Hiệp định FTA như: ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) được thiết lập bởi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ASEAN – Trung Quốc năm 2002, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACTIG) năm 2004, thực hiện từ 01/07/2005; riêng Việt Nam còn được điều chỉnh bởi Biên bản ghi nhớ Việt Nam – Trung Quốc (tháng 07/2005); ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) được thiết lập bởi Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc (AKTIG) ký kết tháng 08/2006, thực hiện từ 01/06/2007; Khu vực thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản (AJFTA) được thiết lập bởi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) ký kết năm 2003, thực hiện từ năm 2008; riêng Việt Nam còn được điều chỉnh bởi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) năm 2008, thực hiện từ 01/01/2009
Bên cạnh đó, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Australia/New Zealand (AANZFTA) được thiết lập bởi FTA và quan hệ kinh tế thân thiện toàn diện ASEAN-Australia/New Zealand (AANZCERFTA), ký kết tháng 02/2009, thực hiện từ 01/01/2010 cũng đều có sự tham gia của Việt Nam Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) được hình thành và thiết lập bởi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn
Độ (AICECA) ký năm 2003 và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
-Ấn Độ (AITIG) ký kết năm 2009, thực hiện từ 01/06/2010 Khu vực thương mại Việt Nam – Chile được thiết lập bởi Hiệp định FTA song phương Việt Nam – Chile ký kết tháng 10/2011
Đặc biệt, từ giữa năm 2012, tiến trình đàm phán tham gia các Hiệp định FTA đã được đẩy mạnh hơn Đến cuối năm 2014, Việt Nam và các đối tác
đã kết thúc đàm phán 3 Hiệp định FTA song phương và đa phương: Hiệp định FTA Việt Nam với EU (EVFTA), với Hàn Quốc (VKFTA), với Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan (VCUFTA) Đây là dấu ấn rất quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập ngày càng sâu hơn với kinh tế thế giới
*Ưu điểm:
Trang 2-Bảo vệ quyền lợi lẫn nhau.
-Đc ưu tiên hưởng những đặc quyền, đặc lợi cho nhau ( ngoại lệ của nguyên tắc tối huệ quốc bởi vì đã kí kết HĐTMTD nên không vi phạm nguyên tắc này:vd: thuê quan, bán phá giá, hiệp định công bằng quốc gia, -Hỗ trợ lẫn nhau
-Nhờ việc dỡ bỏ các rào cản thương mại hàng hóa như tự do hóa thuế quan, các biệp pháp phi thuế quan và thực hiện các hiện pháp giúp thuận lợi hàng hóa nên các nước thành viên có thể tự do trao đổi mua bán hàng hóa mà không bị đánh thuế bên đó có các thủ tục hải quan cũng đc đơn giản hơn.Đồng thời việc tham gia các hiệp định tự do cũng góp phần mở rộng thị trường cho các nước thành viên, tạo ra một sân chơi chung rộng lớn mà ở đó các QG cạnh tranh với nhau một cách lành mạnh.Từ đó tạo
ra sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các QG thành viên phải có những chính sách phù hợp để tạo đk cho các DN trong nước có thể tồn tại và phát triển
đc, bên cạnh đó cũng đòi hỏi các DN phải tự mình cải tiến, mở rộng quy
mô, áp dụng khoa học kĩ thuật để có thể giảm thiểu các CP không cần thiết, tăng khả năng cạnh tranh với các DN nước ngoài.Đồng thời khi tham gia vào các FTA thì hh và các DN giữa các nước sẽ cạnh tranh tạo nên sự đa dạng về hh với giá cả hợp lí nhất điều này giúp NTD sẽ đc tiếp cận và lựa chọn những hh phù hợp về chất lượng và giá cả
-Ngoài ra khi tham gia các FTA còn góp phần thu hút vốn đầu tư nội và ngoại khối, tăng cường chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm lẫn nhau Lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn là tiềm năng phát triển trong tương lai
Việc hợp tác chặt chẽ về kinh tế sẽ tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt lợi ích giữa các QG, khi sự phụ thuộc này ngày càng lớn thì khả năng xung đột và sử dụng vũ khí để giải quyết xung đột giữa các QG sẽ ngày càng nhỏ bởi nếu v sẽ gây ra những tổn thất to lớn cho nên kinh tế QG Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) được khởi động từ tháng 8/2012, sau 8 phiên đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, hai bên
đã đi đến thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích Nhân dịp Hội nghị Cấp cao đặc biệt kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN - Hàn Quốc, ngày 10/12/2014 tại Bu-san (Hàn Quốc), hai nước đã ký Biên bản thỏa thuận về kết thúc đàm phán Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc Trong Hiệp định này, phía Hàn Quốc dành cho Việt Nam ưu đãi cắt, giảm thuế quan, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng nông nghiệp, thủy hải sản chủ lực, công nghiệp dệt, may, sản phẩm cơ khí và tạo cơ hội cho các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trên nhiều lĩnh vực Phía Việt Nam cũng dành ưu đãi cho Hàn Quốc với các nhóm hàng công nghiệp, nguyên phụ liệu dệt, may, nhựa, linh kiện điện tử, xe tải và
Trang 3xe con, phụ tùng ô tô, điện gia dụng, sắt thép, dây cáp điện, góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài nước
Hiệp định FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan Nga - Belarus-Kazacstan (VCUFTA), được khởi động vào tháng 3/2013 Sau 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ ở cấp kỹ thuật, hai bên cũng đã thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và bảo đảm cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện cụ thể của mỗi bên Ngày 15/12/2014, hai bên đã ký Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định Theo đó, phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam ưu đãi về các mặt hàng như: nông sản, bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản và hàng công nghiệp như dệt, may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến Đồng thời, Việt Nam cũng mở cửa thị trường theo lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, hàng công nghiệp, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, góp phần làm đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng trong nước
Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ có ý nghĩa tăng cường hợp tác thương mại song phương hướng tới mục tiêu 70 tỷ USD vào năm
2020, mà còn góp phần thúc đẩy toàn diện quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc Theo dự báo, khi thực hiện Hiệp định FTA song phương này, các DN Hàn Quốc sẽ có một “cuộc đổ bộ” lớn vào Việt Nam Tính đến nay, Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam cả về quy mô tổng vốn đầu tư và số dự án, với tổng vốn đăng
ký đạt 36,71 tỷ USD và 4.063 dự án đầu tư còn hiệu lực Các DN FDI Hàn Quốc là thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, sử dụng trên 50 vạn lao động và đóng góp trên 25% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam Việt Nam cũng là đối tác đầu tư ra nước ngoài lớn thứ 3 của Hàn Quốc sau Mỹ, Trung Quốc Khoảng 95% các dự án đầu tư của Hàn Quốc được thực hiện bởi các DN nhỏ và vừa (quy mô dưới 500 người, doanh thu dưới 150 triệu USD) chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ như ngành may mặc, sản xuất giày, dép… Quan hệ thương mại giữa hai nước trong những năm qua cũng phát triển mạnh, từ 500 triệu USD năm
1992 lên 2,1 tỷ USD năm 2000, 278,3 tỷ USD vào năm 2013, con số này tính đến hết tháng 10/2014 đã tăng trên 4,5% so với cùng kỳ năm 2013 Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 70 tỷ USD vào năm 2020, dự kiến sẽ chiếm 30% tổng kim ngạch thương mại ASEAN - Hàn Quốc (200 tỷ USD) Tuy nhiên, trong những năm qua, Hàn Quốc là một trong những đối tác mà Việt Nam có thâm hụt thương mại cao nhất (năm 2013 là 14,067 tỷ USD) do Việt Nam phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất Số lượng các DN Việt Nam có hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu với Hàn Quốc tính đến hết tháng 11/2014 là 13,1 nghìn DN, năm 2013 con số này là 10,9 nghìn DN
*Nhược điểm:
Trang 4- HH khi ký hầu như chỉ bán đc ở 1 nước, không bán đc với các nước khác Bởi khi ký HĐTDTM chúng ta sẽ bán cho họ với giá ưu tiên( giá thấp) còn với các nước khác thì bán giá không ưu tiên sẽ tạo ra vấn đề đó
là cũng một sản phẩm là có 1 khoảng cách giá, vậy nên ở các nước khác
có bán đc nhưng số lượng cũng rất ít và thu về lợi nhuận không nhiều -Khó khăn với những nước có trình độ phát triển chưa cao, sức cạnh tranh của các DN trong nước sẽ kém hơn các nước khác,do đó nếu QG không
có những chính sách hợp lí, những tính toán kĩ lưỡng trước khi tham gia
và các HĐTMTD thì DN trong nước sẽ khó có thể cạnh tranh và đi đến tình trạng phá sản Từ đó dễ đánh mất thị trường nội địa
- Khi hình thành khu vực TMTD nảy sinh vấn đề đó là hiện tượng chệch hướng thương mại, hh từ bên ngoài ồ ạt vào khi đã gỡ bỏ thuế quan
Một là, khi thị trường mở rộng, các công ty của nước ngoài cũng sẽ có những cơ hội thuận lợi để thâm nhập thị trường trong nước Đặt trên cán cân,
rõ ràng các doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế nguồn lực như vốn, trình độ sản xuất và quản lý, kinh nghiệm thương trường lớn mạnh hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong nước Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước nguy cơ không đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, dễ bị cạnh tranh, khó phát triển
Hai là, về vấn đề rào cản kỹ thuật và yêu cầu về xuất xứ hàng hóa nghiêm ngặt Đối với các FTA Việt Nam mới ký kết, gia nhập gần đây thì các quy tắc xuất xứ đều theo xu hướng là gia tăng giá trị tại Việt Nam trong khu vực các nước tham gia FTA Đây là một bất lợi vì Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên phụ liệu về nước để gia công hàng xuất khẩu, cho nên nếu không chuyển vùng nguyên liệu từ nhập khẩu sang trong nước cung cấp, hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không được hưởng các ưu đãi thuế Ngoài
ra, các quy định kỹ thuật như bao gói, nhãn mác, dư lượng hóa chất tối đa trong sản phẩm xuất khẩu cũng là một rào cản cho hàng xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản của Việt Nam có thể bị mắc ở rào cản về các biện pháp vệ sinh dịch tễ Việc quy định các tiêu chuẩn này thuộc quyền của nước nhập khẩu, do vậy khó lòng ngăn cản nước nhập khẩu lạm dụng các quy định
về tiêu chuẩn này để làm rào cản ngăn hàng hóa Việt Nam xâm nhập vào thị trường nước họ
Ba là, ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics ở Việt Nam chưa phát triển mạnh nên chí phí của nền kinh tế sẽ còn cao so với các quốc gia khác Trước mắt, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải vượt qua những trở ngại về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng quản trị quốc gia của Chính phủ, về môi trường cạnh tranh quốc gia và một số vấn đề an sinh xã hội…
Câu 2: Nguyên nhân bị kiện bán phá giá:
-Chưa tính được hết tất cả các CP thật sự bỏ ra để tạo ra sản phẩm: 窗窗窗窗
Trang 5Yêu cầu về giá bán, giá thành sản xuất của từng mã sản phẩm, theo từng thị trường, để tính toán giá xuất khẩu và giá trị thông thường đòi hỏi số liệu phải rất chi tiết, tách được các loại giá, chi phí bán hàng/sản xuất,
Việc này sẽ càng phức tạp hơn khi cơ quan điều tra áp dụng phương pháp tính toán cho trường hợp nền kinh tế phi thị trường – tức là yêu cầu báo cáo cả giá thành của sản phẩm chứ không chỉ giá bán, như trong các cuộc điều tra của Hoa Kỳ, EU, Thổ Nhĩ kỳ hoặc Ấn Độ Phương pháp này làm cho việc báo cáo và chứng minh số liệu sẽ rất khó khăn nếu doanh nghiệp không có hệ thống kế toán cho phép truy xuất số liệu tính giá thành của từng mã sản phẩm, đặc biệt là số liệu của các yếu tố đầu vào của phẩm như nguyên liệu sản xuất trực tiếp, nguyên liệu đóng gói bao bì, chi phí nhân công, chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí điện nước, kho bãi và một số chi phí khác Ngoài ra, khi báo cáo các số liệu, doanh nghiệp còn phải xây dựng được phương pháp tính toán, phân bổ chi phí, các yếu tố đầu vào cho một đơn vị thành phẩm một cách hợp lý và phù hợp với phương pháp tính theo quy định của pháp luật về chống phá giá và thực tiễn của cơ quan điều tra Trong một số vụ kiện gần đây về sản phẩm thép hay thủy sản, việc lựa chọn đúng phương pháp tính toán, phân bổ chi phí
và nguyên liệu đầu vào đã giúp doanh nghiệp đạt mức thuế suất chống
Phần mềm và hệ thống kế toán mà phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam, thậm chí là cả doanh nghiệp FDI hiện nay đang sử dụng hầu như chưa cho phép báo cáo chi tiết số liệu theo yêu cầu nói trên Các phần mềm thông dụng thường được sử dụng chủ yếu để lập báo cáo tài chính và các nghiệp vụ kế toán đơn giản Hệ quả là việc chuẩn bị và báo cáo số liệu được thực hiện bằng phương pháp thủ công hay vì kê khai tự động, dẫn đến sự thiếu sót hoặc nhầm lẫn trong số liệu báo cáo mà trong rất nhiều trường hợp doanh nghiệp không thể phát hiện ra hết trong thời gian trả lời bản câu hỏi của cơ quan điều tra (rất ngắn, chỉ từ 30-45 ngày)
Ví dụ, để kê khai lượng vật tư đóng gói cho một đơn vị thành phẩm của một mã sản phẩm trên bảng tính excel, doanh nghiệp cần kết hợp thông tin giữa bộ phận sản xuất, vật tư và kế toán theo từng mã vật tư, mã thành phẩm, quy cách đóng gói cho từng sản phẩm trước khi xây dựng công thức tính toán lượng vật tư tiêu thụ Số liệu có được đồng thời phải đảm bảo đối chiếu được với giá trị của vật tư đó ghi nhận trong hệ thống kế toán Nhầm lẫn về số liệu kê khai thủ công có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thuế suất, ví dụ: trong các vụ kiện chống bán phá giá tôm nước
ấm đông lạnh, sai lệch về lượng nguyên liệu tôm đầu vào có thể ảnh hưởng tới hơn 70% thuế suất chống phá giá
Trang 6Với hạn chế của phần mềm kế toán như hiện nay của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu Việt Nam, việc kháng kiện sẽ có rủi ro rất cao
vì khi đó doanh nghiệp và các đơn vị tư vấn sẽ không đủ thời gian để truy xuất, phân tích và báo cáo chính xác số liệu Ngoài ra, khi chưa có số liệu chính xác, các luật sư và chuyên gia chưa thể xây dựng và lựa chọn được phương pháp báo cáo giúp doanh nghiệp đạt mức thuế suất thấp nhất, có lợi nhất cho doanh nghiệp
窗窗窗窗
- Do NN thường xuyên hỗ trợ cho nền Nông nghiệp VN Các hình thức tài trợ chủ yếu là: trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi, sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như các hỗ trợ xuất khẩu
-Do chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường:Việt Nam không được công nhận là nền kinh tế thị trường nên khi doanh nghiệp Việt Nam bị kiện chống bán phá giá tại EU, cơ quan điều tra EU đã không sang thị trường Việt Nam giám sát giá sản xuất sản phẩm mà lại sang thị trường trong khu vực có điều kiện kinh doanh tương tự như Việt Nam để điều tra
và đưa ra kết luận
doanh nghiệp xuất khẩu tôm, cá tra Việt Nam là những doanh nghiệp bị kiện chống bán phá giá nhiều nhất tại EU do mức giá đưa sản phẩm vào thị trường này thấp hơn những quốc gia khác Tuy nhiên, khi điều tra vụ việc, cơ quan kiểm tra EU lại không sang Việt Nam khảo sát giá trực tiếp
mà lại sang Indonesia - quốc gia được EU cho là có điều kiện kinh doanh tương tự Việt Nam để điều tra mức giá sản phẩm khi sản xuất
Vậy tại sao VN vẫn chấp nhậnn đối đầu với những vụ kiện bán phá giá ? TL: VN đang cần vốn đề đầu tư, kinh doanh,tồn tại, phát triển,…( quay
đồng vốn) bởi thời gian cho các vụ kiện rất dài ( phát hiện, kiện, xác minh, điều tra, minh chứng,…) tận dụng thời gian đó chũng ta có thể quay đồng vốn để kinh doanh
窗窗窗窗
(Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá của nhà sản xuất, xuất khẩu Nhiều trường hợp việc bán phá giá có mục đích không lành mạnh nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:
- bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường từ đó chiếm thế độc quyền;
- bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần;
Trang 7- bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh
Đôi khi việc bán phá giá là việc không mong muốn do nhà sản xuất, xuất khẩu không thể bán được hàng, cung vượt cầu, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hư hại nên đành bán tháo hàng hoá để thu hồi một phần vốn.)
Theo qui định của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) và pháp luật các nước về vấn đề chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá.)
●Biện pháp:
- DN phải có hồ sơ, sổ sách kế toán, hình ảnh để minh chứng tài chính
- Cty phải có hồ sơ, sổ sách, kế toán, hình ảnh,, để minh chứng cho tài chính ;窗窗窗窗
các doanh nghiệp cần quan tâm và có sự đầu tư hợp lý để đảm bảo hệ thống kế toán và quản lý dữ liệu của mình có thể đáp ứng yêu cầu kỹ
Trước hết, doanh nghiệp cần liên tục cập nhật và nâng cấp phần mềm kế toán để đảm bảo việc hạch toán, lưu trữ và truy xuất số liệu chính xác khi cần thiết, giảm thiểu sai sót về số liệu cũng như thời gian chuẩn bị hồ sơ
so với việc trình bày báo cáo theo phương pháp thủ công
Doanh nghiệp cũng cần tăng cường việc đào tạo nhân sự và triển khai các quy trình kiểm soát nội bộmột cách định kỳ Một hệ thống kiểm soát nội
bộ, báo cáo hiệu quả sẽ giúp cho quá trình đối chiếu số liệu và cung cấp tài liệu chứng từ cần thiết được chính xác và nhanh chóng
Thêm vào đó, đối với những cuộc điều tra tại các thị trường quan trọng mang tính “sống còn” đối với doanh nghiệp, cần thiết phải có sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và pháp lý từ các chuyên gia số liệu và luật sư có kinh nghiệm và uy tín tại nước sở tại, bởi khi đó việc báo cáo số liệu cho cơ quan điều tra không chỉ đòi hỏi tính chính xác mà còn phải được xuất trình theo cách có lợi nhất cho tính toán biên độ của doanh nghiệp Hơn nữa, uy tín của luật sư cũng giúp doanh nghiệp tạo độ tin cậy tốt hơn với
cơ quan điều tra Ngoài ra, sự hỗ trợ từ những chuyên gia và luật sư trong nước có kinh nghiệm, hiểu biết về luật và thực tiễn điều tra chống phá giá cũng rất quan trọng vì sẽ giúp xử lý các vấn đề đặc thù của doanh nghiệp
và hệ thống kế toán Việt Nam, giải thích, chứng minh, thuyết phục và hỗ trợ luật sư nước ngoài khi làm việc với các cơ quan điều tra Trong rất nhiều trường hợp, đội ngũ luật sư có uy tín, kinh nghiệm có thể giúp các doanh nghiệp thay đổi từ thế bị động trả lời câu hỏi, bị thẩm tra sang chủ
Trang 8động dẫn dắt và thuyết phục cơ quan điều tra sử dụng những thông tin có lợi cho mình
窗窗窗窗
- Chủ động phòng chống các vụ kiện bán phá giá của nước ngoài
+ Chính phủ tích cực triển khai đàm phán song phương,đa phương để tranh thủ nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, do đó không áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với Việt Nam
+ Dự báo danh mục các ngành hàng và các mặt hàng Việt Nam có khả năng bị kiện phá giá trên cơ sở rà soát theo tình hình sản xuất,xuất khẩu từng ngành hàng của Việt Nam và cơ chế chống bán phá giá của từng quốc gia để từ đó có sự phòng tránh cần thiết
+Xây dựng chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp để phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu với khối lượng lớn vào một nước vì điều này có thể tạo ra cơ
sở cho các nước khởi kiện bán phá giá Theo hướng đó các doanh nghiệp cần chú trọng đến các thị trường lớn (Trung Quốc, Nhật Bản ) các thị trường mới nổi (Hàn Quốc, Úc ) các thị trường mới (SNG, Trung Đông, Nam Phi…) Bên cạnh đó cần tăng cường khai thác thị trường nội địa – một thị trường có tiềm năng phát triển Đây là những kinh nghiệm ta đã rút ra được từ các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa của Mỹ trước đây +Tăng cường áp dụng các biện pháp cạnh tranh phi giá để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu thay cho cạnh tranh bằng giá thấp
Đó là phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh các dịch vụ hậu mãi, tiếp thị quảng cáo, áp dụng các điều kiện mua bán có lợi cho khách hàng…
+Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về thị trường xuất khẩu,về luật thương mại quốc tế,luật chống bán phá giá của các nước… và phổ biến, hướng dẫn cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết nhằm tránh những sơ hở dẫn đến các vụ kiện
- Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xảy ra
* Về phía chính phủ: cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong kháng
kiện
- Thành lập quỹ trợ giúp theo đuổi các vụ kiện để hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp kháng kiện
Trang 9- Cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về các thủ tục kháng kiện, giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp cho doanh nghiệp thắng kiện…
* Về phía các hiệp hội ngành hàng: cần phát huy vai trò là tổ chức tập
hợp và tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành nhằm nâng cao năng lực kháng kiện của các doanh nghiệp
- Thông qua hiệp hội quy định hành vi bảo vệ lẫn nhau, phối hợp giá cả trên thị trường, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh có thể tạo ra
cớ gây ra các vụ kiện của nước ngoài
- Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi kháng kiện thành công để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả,định hướng phát triển thị trường, những quy định pháp lý của nước sở tại về chống bán phá giá… để các doanh nghiệp kháng kiện có hiệu quả giảm bớt tổn thất do thiếu thông tin
* Về phía các doanh nghiệp: cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị
nước ngoài kiện bán phá giá
- Hoàn thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định của luật pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh doanh nhằm chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán phá giá của doanh nghiệp, tổ chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp…
- Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang nhằm lôi kéo những đối tượng có cùng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình Như trong vụ kiện tôm đã có “Liên minh hành động ngành thương mại công nghiệp tiêu dùng Mỹ” (CITAC) “Hiệp hội các nhà nhập khẩu và phân phối tôm Mỹ” (ASDA) đứng về phía các doanh nghiệp Việt Nam chống lại vụ kiện bán phá giá của Mỹ
- Chủ động thương lượng với chính phủ của nước khởi kiện thực hiện cam kết giá nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi phá giá, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp cùng ngành hàng của nước nhập khẩu Cam kết giá
là việc nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết sửa đổi mức giá bán (tăng giá lên) hoặc cam kết ngừng xuất khẩu với giá bị coi là bán phá giá hàng hoá Đây
là một thoả thuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu và nước nhập khẩu Khi một cam kết giá được chấp thuận quá trình điều tra sẽ chấm dứt Hiện nay, cam kết giá được coi là một biện pháp đối phó chủ
Trang 10động của các nước xuất khẩu trong các vụ kiện chống bán phá giá, đặc biệt đối với các sản phẩm công nghiệp Trong giai đoạn 1995-2001 trên thế giới đã có 34 nước thực hiện cam kết giá, trong đó có 10 nước chưa phải là thành viên WTO Cam kết giá có ưu điểm là nhanh chóng hơn và
ít tốn kém hơn so với việc phải hoàn tất cuộc điều tra của cơ quan điều tra
về bán phá giá Hơn nữa các nhà sản xuất, xuất khẩu ở nước bị kiện sẽ được hưởng phần lớn chênh lệch trước và sau cam kết tăng giá bán thay cho việc nộp thuế chống bán phá giá cho nước nhập khẩu Tuy nhiên, nhà xuất khẩu lúc này cũng phải đối mặt với việc giảm khả năng cạnh tranh
về giá của hàng xuất khẩu,chấp nhận thực hiện các thủ tục hành chính nghiêm ngặt và phức tạp hơn trong giao dịch xuất khẩu… Vì vậy cần có
sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố về kinh tế, xã hội, luật pháp, khả năng cạnh tranh… trước khi thực hiện biện pháp này
thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và thị trường xuất khẩu, tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện
về thông tin, tiến hành cam kết giá khi cần thiết…
Để chúng ta có thể “đồng hành” cùng các biện pháp chống bán phá giá, các doang nghiệp Việt Nam trước hết cần trang bị cho mình những kiến thức pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế Bên cạnh đó, cần lưu ý một số vấn đề cụ thể sau:
Một là, sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện phá giá khác
Chính phủ Việt Nam cần có kế hoạch sẵn sàng đương đầu với các vụ kiện bán phá giá khác Việt Nam cần chủ động giảm thiểu tiêu cực của việc chống bán phá giá từ các nước khác Cụ thể Việt Nam cần:
Xây dựng một hệ thống thông tin về phá giá và chống bán phá giá
Xây dựng cơ chế cảnh bảo về kiện phá giá và chống bán phá giá (trực thuộc Bộ Thương mại), dự kiến những mặt hàng có khả năng bị kiện phá giá
Xây dựng cách thức tận dụng có hiệu quả các thủ tục điều tra trong khuôn khổ WTO cũng như thủ tục điều tra của nước kiện phá giá Chẳng hạn, khi bị áp dụng thuế chống bán phá giá, quốc gia bị áp thuế
có thể tăng giá hàng hoá của mình để chịu mức thuế chống bán phá giá thấp hơn ở giai đoạn xem xét lại hành vi phá giá
Tích cực tham gia vào các diễn đàn cùng với các nước đang phát triển để xây dựng một cơ chế chống bán phá giá chặt chẽ hơn trong khuôn khổ WTO