1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kì môn sở hữu trí tuệ

13 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 29,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. So sánh nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí. 2. Năm 2010, công ty X (Việt Nam) nộp đơn đăng kí nhãn hiệu MANLI và hình cho dược phẩm (nhóm 5), tuy nhiên bị từ chối vì bị coi là tương tự với nhãn hiệu “MANLYX” của công ty Y (Thái Lan) đã được bảo hộ cũng cho sản phẩm dược phẩm nhóm 5. Bằng lập luận và áp dụng các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, hãy đưa ra ra các giải pháp mà công ty X có thể vận dụng để nhãn hiệu MANLI có thể được chấp nhận.

Trang 1

ĐỀ BÀI SỐ 7

1 So sánh nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí

2 Năm 2010, công ty X (Việt Nam) nộp đơn đăng kí nhãn hiệu MANLI và hình cho dược phẩm (nhóm 5), tuy nhiên bị từ chối vì bị coi là tương tự với nhãn hiệu “MANLYX” của công ty Y (Thái Lan) đã được bảo hộ cũng cho sản phẩm dược phẩm nhóm 5 Bằng lập luận và áp dụng các quy định của pháp luật

sở hữu trí tuệ, hãy đưa ra ra các giải pháp mà công ty X có thể vận dụng để nhãn hiệu MANLI có thể được chấp nhận

BÀI LÀM

2 So sánh nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí

Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí đều thuộc nhóm đối tượng có tính thương mại trong quyền sở hữu công nghiệp Có thể so sánh hai đối tượng này dựa trên các tiêu chí như sau:

a) Khái niệm

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức,

cá nhân khác nhau (Khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 – sau đây gọi tắt là Luật sở hữu trí tuệ)

Chỉ dẫn địa lí là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, vùng địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (Khoản 22 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ)

b) Dấu hiệu

Dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (Khoản 1 Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ)

Trang 2

Dấu hiệu được sử dụng làm chỉ dẫn địa lí là tên gọi, biểu tượng hoặc hình ảnh Tuy nhiên, khác với nhãn hiệu, dấu hiệu dùng để làm chỉ dẫn địa lí phải là tên gọi, hình ảnh thuộc về một địa danh có thật trên thực tế và chỉ thuộc về địa danh đó mà thôi

c) Chức năng và đối tượng mang dấu hiệu

Nhãn hiệu là thuật ngữ dùng để chỉ chung cho hàng hóa và dịch vụ, có chức năng chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác Trong khi đo chỉ dẫn địa lí chỉ dùng cho sản phẩm hàng hóa, không có chỉ dẫn địa lí của dịch vụ Chức năng chính của chỉ dẫn địa lí là giúp người tiêu dùng xác định được nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm từ một khu vực địa lí cụ thể mà với những nét đặc thù của khu vực đó sản phẩm có được chất lượng tốt, đặc trưng khác với sản phẩm từ khu vực khác

d) Điều kiện bảo hộ

Đối với nhãn hiệu, để được bảo hộ phải thỏa mãn hai điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ:

- Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

- Thứ hai, phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Nhãn hiệu có khả năng phân biệt là các nhãn hiệu được tạo thành từ một hoặc một số dấu hiệu dễ nhận biết,

dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp tạo thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt (Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ)

- Đồng thời để được bảo hộ, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu còn không được thuộc vào trường hợp dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu quy định tài Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ

Trang 3

Đối với chỉ dẫn địa lí để được bảo hộ phải thỏa mãn các điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ và không thuộc các trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa chỉ dẫn địa lí quy định tại Điều 80 Luật sở hữu trí tuệ:

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý Như vậy, để được bảo hộ là chỉ dẫn địa lí, sản phẩm phải xuất xứ từ khu vực mang chỉ dẫn địa lí Khu vực mang chỉ dẫn địa lí phải có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ Khu vực địa lí có thể là một hay nhiều đơn vị hành chính, là một quốc gia, một địa danh cụ thể (ví dụ: núi Ngọc Linh là khu vực có sản phẩm sâm mang chỉ dẫn địa lí Ngọc Linh ); trường hợp khu vực không bao gồm toàn bộ một đơn vị hành chính, một địa danh cụ thể thì được lập thành khu vực sản xuất mang chỉ dẫn địa lí cụ thể

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định Danh tiếng và chất lượng của sản phẩm là tiêu chí khác biệt so với nhãn hiệu, chất lượng sản phẩm không phải là điều kiện để sản phẩm được mang nhãn hiệu trong khi chất lượng lại là tiêu chi quan quan trọng để sản phẩm bảo hộ là chỉ dẫn địa lí

Chất lượng đặc thù sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được thể hiện bằng một hoặc một số yếu tố như chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lí, hóa học,vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương pháp kĩ thuật hoặc chuyên gia theo phương pháp thử được xác định cụ thể từ trước (Khoản 2 Điều 81 Luật sở hữu trí tuệ)

Danh tiếng, uy tín của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được thể hiện thông qua sự biết đến sản phẩm đó một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng sản phẩm liên quan trong quá trình tồn tại và phát triển của sản phẩm đó

Trang 4

Các điều kiện địa lí liên quan đến chỉ dẫn địa lí bao gồm hai yếu tố cơ bản, đó là: Yếu tố tự nhiên và yếu tố con người Chất lượng đặc thù của hàng hóa, bản chất của hàng hóa được quyết định hoàn toàn hoặc ở mức độ nào đó và chủ yếu bởi điều kiện tự nhiên, con người của môi trường địa lí nơi chúng được sản xuất ra: Các điều kiện tự nhiên độc đáo về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái, các điều kiện tự nhiên khác; các tính chất đặc thù con người như các yếu tố độc đáo, đặc thù về kĩ năng, kĩ xảo, của người sản xuất, quy trình sản xuất của địa phương

e) Đăng kí bảo hộ, cơ sở phát sinh quyền bảo hộ và quyền sở hữu đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí

Quyền đăng kí bảo hộ nhãn hiệu được quy định tại Điều 87 Luật sở hữu trí tuệ, theo đó những chủ thể sau có quyền đăng kí đối với nhãn hiệu:

- Những chủ thể sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vị trên thị trường;

- Những chủ thể tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp cũng có quyền đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm mình đưa ra thị trường nhưng do chủ thể khác sản xuất với hai điều kiện sau: Chủ thể sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và họ đã biết việc đăng kí đó mà không phản đối;

- Tổ chức, tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng kí nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế nhãn hiệu tập thể;

- Tổ chức có chức năng chứng nhận, kiểm soát chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng kí nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh dịch vụ đó Chủ thể sau khi tiến hành đăng kí nhãn hiệu và được cấp giấy chững nhận đăng kí nhãn hiệu sẽ trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu, có các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu

Khác với đăng kí nhãn hiệu, quyền đăng kí chỉ dẫn địa lí của Việt Nam chỉ thuộc về duy nhất một chủ thể đó là nhà nước Các cá nhân, tổ chức sản xuất ra

Trang 5

sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí, tổ chức tập thể đại diện cho các cá nhân, tổ chức

đó hoặc cơ quan quản lí hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lí thực hiện quyền đăng kí chỉ dẫn địa lí nếu được nhà nước cho phép (Điều 88 Luật sở hữu trí tuệ)

Sau khi đăng kí và được cấp giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí các chủ thể thực hiện quyền đăng kí không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lí mà chủ sở hữu duy nhất của chỉ dẫn địa lí là nhà nước

Quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lí đều phát sinh trên cơ sở được cấp văn bằng bảo hộ

g) Thời hạn bảo hộ

Hiệu lực của giấy chững nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực được xác định định thời hạn Cụ thể, giấy chững nhận đăng kí nhãn hiệu có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm (Khoản 6 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ)

Hiệu lực của giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí theo quy định tại Khoản 7 Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ thì có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp Tuy nhiên theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 95 Luật sở hữu trí tuệ, khi các điều kiện địa lí tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm

đó thì giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí sẽ bị chấm dứt hiệu lực Như vậy,

có thể nhận định rằng đối với chỉ dẫn địa lí hiệu lực văn bằng bảo hộ là không xác định thời hạn

Sở dĩ có sự khác biệt về hiệu lực của giấy chững nhận đăng kí nhãn hiệu và hiệu lực của giấy chững nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí là vì các lí do sau: Đối với nhãn hiệu, chức năng chủ yếu là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể với nhau, mọi chủ thể có nhu cầu đều có thể đăng kí bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà mình sản xuất, kinh doanh Chủ sở hữu nhãn hiệu có trách

Trang 6

nhiệm đăng kí, gia hạn hiệu lực giấy chững nhận đăng kí nhãn hiệu nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, nếu không gia hạn thì được xem là không có nhu cầu tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đó và các chủ thể khác có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu đó

có thể đăng kí để được sử dụng Đối với chỉ dẫn địa lí, việc sản phẩm được mang chỉ dẫn địa lí hoàn toàn hay chủ yếu được quyết định bởi việc sản phẩm

đó xuất xứ từ một khu vực địa lí cụ thể, tức là chỉ dẫn địa lí chỉ gắn liền với một khu vực địa lí duy nhất và chủ sở hữu duy nhất là nhà nước nên không cần tiến hành gia hạn hiệu lực văn bằng Chính vì vậy, khi các điều kiện địa lí tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm không thay đổi thì văn bằng bảo

hộ đương nhiên vẫn có hiệu lực mà không cần gia hạn

h) Hiệu lực không gian của văn bằng bảo hộ

Đối với cả giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu và giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí thì đều có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam

2 Năm 2010, công ty X (Việt Nam) nộp đơn đăng kí nhãn hiệu MANLI và hình cho dược phẩm (nhóm 5), tuy nhiên bị từ chối vì bị coi là tương tự với nhãn hiệu “MANLYX” của công ty Y (Thái Lan) đã được bảo

hộ cũng cho sản phẩm dược phẩm nhóm 5 Bằng lập luận và áp dụng các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, hãy đưa ra ra các giải pháp mà công

ty X có thể vận dụng để nhãn hiệu MANLI có thể được chấp nhận.

Đại diện cho công ty X, em xin đưa ra một số lập luận sau:

Trước hết, đi từ khái niệm nhãn hiệu, theo quy định tại Khoản 16 Điều 4

Luật sở hữu trí tuệ: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch

vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Từ định nghĩa này có thể nhận thấy

rằng, chức năng chính của nhãn hiệu là giúp người tiêu dùng nhận biết và phân biệt sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau Một dấu hiệu có thể được dùng làm nhãn hiệu nếu có thể thực hiện được hai chức năng này và

Trang 7

không thuộc các trường hợp không được phép sử dụng làm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Cụ thể tại Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ quy định cụ thể điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ như sau:

- Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc

- Thứ hai, phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác

Về khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu, Khoản 1 Điều 74

Luật sở hữu trí tuệ quy định như sau: “Nhãn hiệu có khả năng phân biệt là các

nhãn hiệu được tạo thành từ một hoặc một số dấu hiệu dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp tạo thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt”

Các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt được liệt

kê tại Khoản 2 Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ:

“a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;

c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

Trang 8

d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực

bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;

i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

Trang 9

k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;

m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày

ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu”.

Các trường hợp dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu được liệt kê tại Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ:

“1 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

2 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng,

cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

3 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

Trang 10

4 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

5 Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.”

Để xác định dấu hiệu “MANLI” của công ty X có được bảo hộ hay không thì phải xem xét dấu hiệu này có đủ điều kiện để được bảo hộ hay không, có thuộc trường hợp không được bảo hộ là nhãn hiệu hay không, có thuộc trường hợp bị coi là không có khả năng phân biệt hàng hóa hay không? Sau đây là sự đối chiếu với dấu hiệu “MANLI”:

Thứ nhất, “MANLI” là dấu hiệu từ ngữ được cấu tạo từ 5 chữ cái và được phát âm thành hai âm tiết “MAN – LI” - cách phát âm theo cách phát âm của người Việt Nam Có thể thấy đây là dấu hiệu dễ nhớ, dễ nhận biết

Thứ hai, dấu hiệu “MANLI” không thuộc vào trường hợp không được bảo

hộ là nhãn hiệu quy định tại Điều 73 Luật sở hữu trí tuệ

Thứ ba, về khả năng phân biệt hàng hóa Theo như trả lời từ Cục sở hữu trí tuệ, dấu hiệu “MANLI” của công ty X bị coi là tương tự với nhãn hiệu

“MANLYX” của công ty Y (Thái Lan) đã được bảo hộ cho cùng một nhóm sản phẩm (nhóm 5) Như vậy, dấu hiệu “MANLI” chỉ đang bị nghi ngờ là có dấu hiệu trùng và có thể gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “MANLYX” của công ty Y mà thôi Tuy nhiên, có thể thấy trong trường hợp này dấu hiệu “MANLI” hoàn toàn

có khả năng phân biệt với nhãn hiệu “MANLYX” của công ty Y, vì căn cứ để xác định yếu tố tương tự gây nhầm lẫn phải là phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu, và danh mục hàng hóa được xác định trong giấy đăng kí nhãn

Ngày đăng: 13/01/2018, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w