và Thổ Nhĩ Kì, các khúc ca anh hùng với nội dung thần thoại hay truyền thuyết đãxuất hiện và dần dần chiếm vị trí dẫn đầu trong sử thi.Khác với văn học dân gian Đông và Nam Slav, các cư
Trang 1VĂN HỌC ĐÔNG ÂU
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC ĐÔNG ÂU
1.1 Vị trí, diện mạo, đặc điểm của văn học Đông Âu
Đông Âu hoặc Khối Đông Âu là một khái niệm chính trị xã hội chủ yếu bị
ảnh hưởng bởi Chiến tranh lạnh – là yếu tố chính tạo ra biên giới của nó Biên giớicủa nó được củng cố hữu hiệu trong các giai đoạn cuối của Thế chiến II (sau Hội
nghị Yalta) và bao trùm tất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm
soát của Liên Xô, liên kết bởi các liên minh – liên minh quân sự (Khối Warszawa)
và liên minh kinh tế (khối SEV hay còn gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế) Vì cácquốc gia này theo chế độ cộng sản và nằm ở phía đông của châu Âu, với ranh giới
là dãy Ural và Caucasus nên chúng được được sắp xếp một cách tự nhiên thành cácquốc gia Đông Âu
Tuy nhiên định nghĩa này đã dần lỗi thời sau những biến động to lớn ở Đông
Âu và Liên Xô trong những năm 1988 - 1991, khi mà Đông Đức đã nhập vào trongTây Đức qua cuộc thống nhất nước Đức, và trở thành một phần của Tây
Âu và Khối Đông Âu đã bị tan vỡ và cùng theo với sự tan vỡ này, các liên minhtrên tuyên bố tự giải thể
Theo cách sử dụng và nhận thức thông thường, Đông Âu trước đây (và bâygiờ theo quy mô hẹp hơn) khác với Tây Âu vì những dị biệt về văn hoá, chính trị,
và kinh tế và biên giới của nó có chút liên quan tới yếu tố địa lý Dãy núi Ural làbiên giới địa lý rõ ràng của Đông Âu, vậy Đông Âu là phía đông dãy Ural Tuynhiên đối với Tây phương, biên giới tôn giáo và văn hóa giữa Đông và Tây Âu có
sự nằm chồng lên nhau đáng kể và quan trọng nhất là sự thay đổi bất thường tronglịch sử khiến việc hiểu về nó một cách chính xác gặp phải đôi chút khó khăn
Đông Âu gồm có:
- lãnh thổ châu Âu của Nga;
Trang 2- các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Litva);
- phần lớn các nước Balkan, trừ Hy Lạp được xem là một phần của Tây Âu, vàlãnh thổ châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ thường thì không tính vào (Slovenia, Croatia,Bosna và Hercegovina, Serbia, Montenegro, Macedonia, Albania, Bungary);
- các quốc gia khác: Ba Lan, Cộng hòa Sec, Slovakia, Hungary, Belarus,Ukraina, Romania, Mondova
Đối với Liên hiệp quốc, Đông Âu cũng là một tiểu vùng địa lý của châu Âunhưng ít biết đến hơn và hạn chế hơn, chỉ bao gồm các quốc gia sau đây: phầnchâu Âu của Nga, Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Sec, Slovakia, Hungary, Belarus,Ukraina, Romania, Moldova
Những quá trình diễn ra trong văn học Đông Âu mang đặc trưng riêng đốivới từng quốc gia trong khu vực, đồng thời cũng có những điểm chung, những néttương đồng Trong các thời kì lịch sử khác nhau, đặc điểm chung đó thể hiện ởnhững mức độ khác nhau, có các dạng thức khác nhau Những nét thống nhất vàtương đồng đó được quy định bởi các đặc điểm lịch sử, dân tộc, tôn giáo Trướchết cần nhắc đến sự gần gũi về lãnh thổ và các mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽgiữa các quốc gia trong khu vực Những nét tương đồng về dân cư và ngôn ngữgiữa các quốc gia không thể không ảnh hưởng đến những mối bang giao về vănhóa và văn học Bên cạnh đó, yếu tố tôn giáo cũng góp phần đẩy mạnh quan hệgiữa các quốc gia trong cùng một khu vực, gây trở ngại đối với các quốc gia thuộcnhững giáo hội khác nhau
Trong suốt chiều dài lịch sử, cuộc đấu tranh của các dân tộc trong khu vựcĐông Âu giành độc lập cho quốc gia, chống lại ách thống trị của quân xâm lượcnước ngoài luôn được phản ánh trong sự phát triển của văn học
Nền văn học của phần lớn các nước Đông Âu có nhiều điểm tương đồng, từ
xa xưa đã gắn bó mật thiết với nhau, đồng thời các nền văn học này là bộ phậnkhông thể tách rời của bức tranh toàn cảnh văn học chung châu Âu Phần lớn các
Trang 3nền văn học trong khu vực, trước hết là văn học Đông và Tây Slav, có mối quan hệlâu đời bền vững với văn học Nga Mối quan hệ giữa văn học Đông Âu với vănhọc Pháp, Italia, Anh, trong thế kỷ XX – với văn học Mỹ, và trong những thập niêngần đây – văn học Mỹ Latinh, khá tích cực.
Số phận của các khuynh hướng lớn (chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tựnhiên…) trong văn học Đông Âu khác với số phận của các khuynh hướng nàytrong các nền văn học dẫn đầu của châu Âu về niên đại cũng như đặc điểm
Trong văn học các nước Đông Âu, những thành tựu đáng kể nhất trong quákhứ gắn liền với chủ nghĩa lãng mạn Các tên tuổi nổi bật nhất của khuynh hướngnày là Mitskevich và Slovatsky (Ba Lan), Petefi (Hungary), Eminesku (Romania),Botev (Bungary), Presern (Slovenia)… Đáng chú ý nhất trong văn học lãng mạnĐông Âu là cảm hứng giải phóng dân tộc Việc khẳng định sự tự do của một cánhân riêng biệt đôi khi có thể được coi là sự phản bội lý tưởng yêu nước Cảmhứng giải phóng dân tộc còn tiếp tục phát triển trong văn học hiện thực, nhưng yếu
tố phê phán xã hội bị mờ hóa
Sự phát triển của hệ thống thể loại trong văn học Đông Âu mang đặc trưngriêng Trong hầu hết các nền văn học khu vực Đông Âu, trong một thời gian dàithơ ca là thể loại chiếm ưu thế trên văn đàn Tiểu thuyết được hình thành muộnhơn ở Tây Âu, tiểu thuyết lịch sử với nội dung yêu nước chiếm vị trí đặc biệt (sángtác của Sienkiewicz, Irasek, Senoa…) Bên cạnh đề tài lịch sử, đề tài nông thônđược khai thác rất tích cực
1.2 Sơ lược về lịch sử phát triển văn học Đông Âu
Trong phần này, chúng tôi trình bày khái quát về tiến trình văn học Đông Âutrước thế kỷ XVIII Các giai đoạn văn học thế kỷ XIX – XX được trình bày chi tiết
ở những chương tiếp theo
Văn học dân gian
Trang 4Trước khi có chữ viết, những cư dân Slav đã sáng tác nên các tác phẩm vănhọc dân gian truyền miệng phản ánh các mối quan hệ xã hội, đời sống sinh hoạt vàquan niệm của chế độ thị tộc bộ lạc
Một bộ phận quan trọng của sáng tác dân gian là những bài ca lao động Đây
là thể loại ca khúc thường đi kèm với các nghi lễ gắn liền với công việc đồng áng
và thời điểm giao mùa, cũng như các sự kiện quan trọng của đời người (sinh, kếthôn, tử) Phần cốt lõi của khúc ca nghi lễ thường là những lời cầu khấn mặt trời,đất đai, gió, sông, cây cối với ước mong mùa màng bội thu, gia súc đầy đàn, việcsăn bắn thuận lợi
Sáng tác dân gian của cư dân Slav rất phong phú về thể loại: truyện cổ tích,tục ngữ, câu đố, truyền thuyết về nguồn gốc các vị thần…
Thơ ca truyền miệng cổ nhất của người Slav có ảnh hưởng lớn tới sự pháttriển về sau của văn hóa nghệ thuật
Cùng với sự hình thành nhà nước, việc tiếp nhận Kitô giáo và sự xuất hiệncủa chữ viết, trong văn học dân gian xuất hiện những nhân tố mới Trong các cakhúc, truyện cổ tích, đặc biệt là huyền thoại có sự đan xen giữa thần thoại tôn giáo
cũ và những quan niện Kitô giáo Bên cạnh các nhân vật phù thủy hay thần tiên có
sự xuất hiện của Chúa, Đức mẹ, các thiên thần, các bậc thánh nhân; các sự kiệnkhông chỉ diễn ra trên mặt đất mà còn diễn ra trên thiên đường hay dưới địa ngục
Trong văn học Bungary, Serbia rất phổ biến các cốt truyện huyền thoại và cổtích từ văn học Byzantine, Tây Âu và Cận đông
Một hiện tượng mới rất quan trọng trong sáng tác dân gian Bungary, Serbiathế kỷ XII-XIV là sự xuất hiện và phát triển của các ca khúc sử thi Quá trình nàydiễn ra qua hai giai đoạn: đầu tiên, xuất hiện các ca khúc với nội dung sinh hoạtphản ánh đặc trưng của các mối quan hệ xã hội và đời sống sinh hoạt của xã hộiđầu phong kiến, bên cạnh đó là sự xuất hiện của các khúc ca anh hùng Sau đó,cùng với việc thành lập và củng cố nhà nước, bắt đầu cuộc chiến chống Byzantine
Trang 5và Thổ Nhĩ Kì, các khúc ca anh hùng với nội dung thần thoại hay truyền thuyết đãxuất hiện và dần dần chiếm vị trí dẫn đầu trong sử thi.
Khác với văn học dân gian Đông và Nam Slav, các cư dân Tây Slav (Séc,Slovakia, Ba Lan) không có thể loại sử thi anh hùng với dạng thức phát triển nhưvậy Trong văn học dân gian Séc và Ba Lan, các ca khúc lịch sử rất phổ biến Tiềnthân của các ca khúc này chính là những khúc ca anh hùng Như vậy, có thể phỏngđoán rằng các khúc ca anh hùng đã từng xuất hiện trong văn học dân gian TâySlav
Văn học Đông Âu thế kỷ XVII
Trong thế kỷ XVII, sự phát triển văn học ở các nước sống dưới ách nô dịchThổ Nhĩ Kì diễn ra chậm và tập trung duy trì những truyền thống tôn giáo trung cổ.Các thể loại tiêu biểu trong văn học các nước này là sử biên niên; các tuyển tậpgiáo huấn tôn giáo (dịch và nguyên bản), truyện về cuộc đời các thánh, trong đó có
cả truyện về cuộc đời các vị lãnh đạo nhà nước hay những anh hùng đánh đuổiquân Thổ Nhĩ Kì; sử liệu học Ở các nước chịu sự nô dịch của đế chế Osman,truyền thống văn học giáo huấn tôn giáo mặc dù lạc hậu nhưng có ý nghĩa rất lớntrong việc đoàn kết các dân tộc bị áp bức, gìn giữ ngôn ngữ và văn hóa của họ,củng cố lực lượng đấu tranh giải phóng dân tộc
Ở các quốc gia duy trì được nền độc lập của mình hoặc phụ thuộc một cách tự
do vào chính quyền đế chế, sự phát triển văn học diễn ra trong những điều kiệnthuận lợi hơn
Trong văn học Ba Lan, dòng văn học Baroque đỉnh cao giữ vị trí dẫn đầu.Dòng văn học này bao quát cả thơ trữ tình, thơ ca quý tộc, xâm nhập vào môitrường giai cấp mà trước đây nghệ thuật Phục hưng từng thống trị Những đại diệnlớn nhất của dòng văn học Baroque Ba Lan không chỉ là các tín đồ Thiên chúa(Yan Morstun) mà còn có các tín đồ Tin lành như D Naborovsky, Z Morstun
Trang 6Một trong những thể loại dẫn đầu trong văn học Đông Âu thế kỷ XVII là sửthi văn học và sử thi dân gian.
Thể loại sử thi anh hùng phổ biến ở các thời kì trước nay được cải biến thànhcác trường ca yêu nước với đề tài lịch sử và giải phóng dân tộc
Trong thơ ca sử thi mang phong cách Baroque, đề tài cuộc đấu tranh với “cáisai lầm” chiếm một vị trí quan trọng, bởi nó đáp ứng những đòi hỏi của cuộc đấutranh giải phóng dân tộc
Văn học Đông Âu thế kỷ XVIII
Trong thế kỷ XVIII, nhiều nền văn học thuộc khu vực Đông Âu đã “phụchưng” trở lại sau một quãng thời gian dài sa sút do nạn ngoại xâm
Bối cảnh lịch sử- xã hội đặc biệt đã chi phối hệ thống thể loại của các nền vănhọc trong khu vực Thơ trữ tình yêu nước chiếm một vị trí rõ nét
Trong nhiều nền văn học, thời kì Phục hưng đã đánh dấu sự ra đời của kịchdân gian Chiếm vị trí dẫn đầu không phải là bi kịch mà là hài kịch xã hội và sinhhoạt xã hội (thể loại này đặc biệt phát triển trong văn học Ba Lan)
Chương 2: Văn học Đông Âu thế kỷ XIX
Trang 72.1 Bối cảnh lịch sử Đông Âu thế kỷ XIX
Thế kỷ XIX ở châu Âu bắt đầu với những cuộc chiến tranh của Napoleon.Mục đích chủ yếu của các cuộc chiến tranh này là giành lấy thị trường mới, giànhlấy bá quyền của Pháp trong công thương nghiệp, chính trị và quân sự ở châu Âu.Trong những cuộc xâm lược của mình, Napoleon đã dùng nhiều biện pháp đối vớicác nước bị chiếm như: sát nhập thẳng vào Pháp, hoặc chia thành từng quận thuộcPháp Napoleon thiết lập chế độ tư sản ở những nước bị chiếm
Từ 1809-1812 đế quốc Napoleon trải qua một thời kỳ hòa bình và cũng làthời gian mà nó được mở rộng hơn hết Tuy nhiên, những khó khăn bên trong vàbên ngoài đã đưa đế chế đến chỗ sụp đổ nhanh chóng Thêm vào đó, do ảnh hưởngcủa phong trào đấu tranh của nhân dân Tây Ban Nha, một phong trào chống đốiNapoleon ở những nước bị xâm lược nổ ra Sau cùng, với sự thất bại của chiếndịch Nga 1815, đế chế I nhanh chóng bị sụp đổ Napoleon buộc phải thoái vị và bịđày sang đảo Elbe
Sau khi Napoleon thất bại, các thế lực phản động tạm thời thắng thế ở Pháp
và châu Âu Sự thắng lợi tạm thời của các thế lực này có thể gây khó khăn, nhưngkhông ngăn chặn được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã làm nảy sinh nhữngnguyện vọng dân chủ, dân tộc Do sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, thế lựckinh tế của giai cấp tư sản tăng lên, họ tìm cách lôi kéo nhân dân vào những cuộcđấu tranh chống phong kiến để giành lấy quyền chính trị Vì vậy trong nửa đầu thếkỷ XIX, phong trào cách mạng tư sản nổ ra ở các nước Châu Âu
Phần lớn các nước Đông Âu và Balkan cũng đấu tranh giành độc lập choquốc gia: năm 1878 giải phóng Bulgari và thành lập nước Romania độc lập, năm
1867 thành lập liên minh Áo-Hung, khởi nghĩa Ba Lan năm 1863 Sau khi cácnước Đông Âu giành được độc lập dân tộc và chính trị, vấn đề đấu tranh giảiphóng dân tộc vẫn còn tiếp tục được quan tâm Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh
Trang 8mẽ, tuy nhiên ở phần lớn các nước Đông Âu, quá trình này bị kìm hãm bởi các tàntích của chủ nghĩa phong kiến và vấn đề nông dân vẫn còn cấp thiết.
2.2 Khái quát văn học Đông Âu thế kỷ XIX
2.2.1 Văn học Đông Âu nửa đầu thế kỷ XIX
Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX đối với nhiều nền văn học của các nước Đông
Âu là giai đoạn tự khẳng định, nhận thức khả năng của mình, tìm kiếm con đườngphát triển riêng biệt Khởi đầu của quá trình này thường đi liền với việc chú trọnghơn đến folklore, tăng cường hoạt động sưu tầm Quá trình này diễn ra trong vănhọc Nga, Ucraina, Belarus, Moldavia, Litva, Latvia và Estonia Folklore học xuấthiện như một môn khoa học, các bộ lịch sử được biên soạn (ví dụ như công trìnhcủa Simonas Daukantas là bộ tài liệu lịch sử Litva đầu tiên được biên soạn bằngtiếng Litva)
Một đặc trưng khác của sự phát triển văn học đầu thế kỷ XIX là sự chuyểnđổi thường xuyên từ chủ nghĩa lý luận sang thi ca trữ tình Các khuynh hướng lýluận gắn liền với những motiv tôn giáo đã phần nào tạo nên đặc điểm của văn họcMoldavia và Do Thái, cũng như phong cách của nền văn học của các dân tộc BắcKavkaz và Dagestan
Tất cả các nền văn học của khu vực Đông Âu đều phát triển dưới ảnh hưởngcủa các tư tưởng Khai sáng, thể hiện ở các dạng thức khác nhau và mức độ tích cựckhác nhau Đối với các nước phải trải qua cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa phongkiến và sự gia tăng không ngừng của các nhân tố tư bản chủ nghĩa (Nga, Ucraina,các nước Baltic, một bộ phận thuộc Belarus và Moldavia), hệ tư tưởng Khai sángmang đậm màu sắc chống chế độ nông nô, có sự đan xen của các tư tưởng côngbằng xã hội và chính trị, đôi khi có thiên hướng đến chủ nghĩa Russo và cácnguyên tắc của cách mạng tư sản Pháp vĩ đại Đối với các dân tộc Bắc Kavkaz vàDagestan, để phù hợp với những đặc trưng của tiến trình lịch sử, chương trình Khaisáng mang tính rộng rãi và có chừng mực hơn với các nhiệm vụ như đào tạo đội
Trang 9ngũ tri thức, xây dựng hệ thống giáo dục phi tôn giáo, vượt qua sự cuồng tín tôngiáo và tính nóng vội, tiếp nhu những thành tựu của văn minh châu Âu, đề ranhững quan niệm đạo đức mới.
Trong sự phát triển của các khuynh hướng và phương pháp nghệ thuật củacác nước thuộc khu vực Đông Âu có sự tiếp nối như trong tiến trình văn học Tây
Âu, tuy nhiên nhiều giai đoạn hoàn toàn chưa thể hiện rõ nét hoặc bộc lộ một cách
mờ nhạt Sự phát triển theo trình tự và đầy đủ nhất của văn học qua các thời kì chủnghĩa cổ điển, chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực cóthể thấy rõ trong văn học Nga Trong văn học Ucraina, chủ nghĩa cổ điển và chủnghĩa tình cảm tuy có tồn tại, nhưng không có các thể loại phát triển rực rỡ Thayvào đó, chủ nghĩa lãng mạn phát triển rực rỡ, tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽchung của văn hóa dân tộc, góp phần hình thành ngành phê bình văn học Ucraina
và hàng loạt ngành khoa học nhân văn Trong văn học Ucraina có sự chuyển giao
từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực, cũng như có sự xuất hiện của cáctác phẩm trào phúng cách mạng dân chủ Quá trình này thể hiện rõ nhất trong sángtác của T G Sevchenko
Những truyền thống của chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa tình cảm cũng cóthể nhận thấy trong văn học Belarus, đôi khi thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽvới nhau, gắn liền không tách rời Ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn thể hiệntrong thơ ca – trong thể loại balat và trường ca
Ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn cũng thể hiện rõ trong văn học của cácnước Baltic (ví dụ như trong sáng tác của nhà thơ Litva Simonas Stanyavichus) vàvăn học Moldavia (sáng tác của Konstantin Stamati)
Văn học Bắc Kavkaz và Dagestan không trải qua các thời kì chủ nghĩa cổđiển và chủ nghĩa tình cảm kiểu châu Âu, nhưng có thể nhận thấy những hiệntượng văn học thú vị ở một mức độ nào đó tương đương với chủ nghĩa lãng mạn
Trang 10Trong khu vực Đông Âu nửa đầu thế kỷ XIX có thể nhận thấy những hiệntượng văn học đặc trưng cho các quốc gia có sự tương đồng về mặt lãnh thổ, ngônngữ và dân tộc
Trong văn học Đông Âu nửa đầu thế kỷ XIX, nhiều tác phẩm được viết bằngngôn ngữ của quốc gia có nền văn học phát triển hơn, và tác giả đồng thời thuộchai nền văn hóa Ví dụ như các tác giả G F Kvitka-Osnovyanenko,
E P Grebenko sáng tác bằng cả tiếng Nga và tiếng Ucraina; Yan Barshevsky sángtác bằng tiếng Ba Lan và Belarus; Antanas Klementas, Silivestras Valyunas sángtác bằng tiếng Litva và Ba Lan Nhà văn Moldavia Alexander Khuzhdeu viết cáctác phẩm của mình bằng tiếng Nga, nhà văn Osetia I G Yalguzidze sáng tác bằngtiếng Gruzia
Do một số đặc trưng riêng biệt và trình độ phát triển của văn học Nga, nềnvăn học này đã có ảnh hưởng rõ nét đến các nền văn học khác trong khu vực – đặcbiệt là văn học Ucraina, Belarus, ít rõ nét hơn là ảnh hưởng đến văn học Moldavia,các nước Baltic, Bắc Kavkaz và Dagestan, văn học Do Thái Sự ảnh hưởng nàyđược củng cố bởi các mối liên hệ giữa các nền văn học, do các nhà văn Nga đãtừng lưu trú tại nước khác (ví dụ như Puskin đã từng đến Moldavia), các nhà vănnước ngoài đã từng lưu trú tại các trung tâm văn hóa của Nga (Sevchenko đã từngđến Petersburg), các nhà văn nước ngoài có tác phẩm được đăng tải trên các ấnphẩm định kỳ của Nga (tác phẩm của nhà văn Moldavia A Khuzhdeu được đăngtrên tạp chí Moscow “Kính thiên văn”, tác phẩm của Khan-Girei được đăng trêntạp chí Petersburg “Người đương thời”)
Ngoài ra, các nền văn học khác cũng ảnh hưởng lẫn nhau Văn học Litvachịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học Ba Lan, văn học Latvia và Estonia hướngđến học hỏi các khuôn mẫu bằng tiếng Đức Các quốc gia Bắc Kavkaz và Dagestanduy trì những mối quan hệ mật thiết với văn hóa Cận Đông và châu Á
2.2.2 Văn học Đông Âu nửa sau thế kỷ XIX
Trang 11Ở giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, nét đặc trưng của phần lớn các nền văn họckhu vực Đông Âu là sự đan xen của nhiều khuynh hướng văn học, tiếp tục nhữngtruyền thống của chủ nghĩa cổ điển, đến cuối thời kì này có sự xuất hiện của cáckhuynh hướng hiện thực phê phán
Có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành chủ nghĩa hiện thực ở phầnlớn các nước khu vực Đông Âu là văn học và phê bình cách mạng dân chủ Nga.Trong số các nhà văn hiện thực Nga, có uy tín nhất ở giai đoạn này là Gogol vàTurgenev, các sáng tác của Tolstoy và Dostoevsky được phổ biến và có ảnh hưởng
ở phần lớn các nước Đông Âu muộn hơn
Trong sáng tác của nhiều nghệ sĩ, khuynh hướng chính trị của vấn đề giảiphóng nhường bước cho những trăn trở mang tính triết học về số phận con người
và những bước tiến lớn của lịch sử Trong văn học Rumani, các nhà thơ lãng mạn
đã phản ứng ít tích cực hơn trước những sự kiện lịch sử cụ thể trong đời sống củanhân dân, thậm chí là những sự kiện gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộcvốn là chủ đề chính trong thi ca
Trên con đường nhận thức số mệnh lịch sử của nhân loại, các nhà thơ lãngmạn đã thể hiện chiều sâu và tầm nhìn xa rộng, phản ánh những xung đột mới, cấpthiết trong thế kỷ XIX
Thi ca tiếp tục duy trì và phát triển ở mức độ nhất định khuynh hướng đặctrưng của văn học lãng mạn nửa đầu thế kỷ – khuynh hướng xây dựng những hìnhtượng mang tính khái quát và tính tượng trưng Chủ đề nghệ thuật và thi nhânchiếm vị trí quan trọng trong thi ca thời kì này Các nhà thơ thời kì này rất tích cựctìm kiếm những hình thức thi ca mới (hệ thống ẩn dụ phong phú hơn, sử dụngnhiều hơn các từ nhiều nghĩa và các phương tiện biểu cảm)
Việc thay đổi phương thức tiếp cận tư tưởng dân tộc đã dẫn đến nỗ lực trinhận vận mệnh dân tộc như một mắt xích của chuỗi lịch sử thế giới Phương diệnnày đã trở thành đặc điểm quan trọng của thi ca nửa sau thế kỷ XIX ở nhiều nước
Trang 12Đông Âu (Ba Lan, Séc, Hungari, Rumani) Hình tượng công dân bị kẻ thù ngoạibang đàn áp và tham gia cuộc chiến chống lại kẻ thù đã nhường chỗ cho hìnhtượng cá nhân sống trong những điều kiện xã hội nhất định, chịu áp lực của nhữngđiều kiện đó, đồng thời trăn trở về các giá trị tinh thần và đạo đức, về số phận củamình trước sự sống và cái chết.
Vấn đề giải phóng dân tộc được mang diện mạo mới và dẫn đến cái nhìn sâusắc hơn về cuộc sống của nhân dân, nhận thức sáng suốt hơn về quá khứ và tươnglai của nhân dân, về vị trí của họ trong thế giới Trong thi ca, yếu tố lãng mạn kếthợp với các nhân tố hiện thực tạo nên một thể loại thi ca đặc biệt có triển vọngtrong tương lai Tiêu biểu là sáng tác của các nhà thơ Kh Botev, I Bazov,
Ya Nerudu, S Chekh, P Orsag-Gvezdoslav, Ya Arani
Nhìn chung, thi ca nửa sau thế kỷ XIX đã dần tiến tới chủ nghĩa hiện thực,
có cảm hứng lịch sử, hướng đến các thể loại lớn, có khả năng bao quát hiện thựcrộng lớn (trường ca, các tập thơ), trong thi ca, thế giới nội tâm của con người đượckhám phá sâu hơn
Gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực là những thay đổi căn bảntrong hệ thống thể loại Thơ trước đây chiếm ưu thế nay đã nhường chỗ cho vănxuôi Các thể loại nhỏ có khả năng phát triển trong truyện ngắn, truyện vừa Đề tàicủa các thể loại này được mở rộng hơn: tâm điểm chú ý là những đại diện của cáctầng lớp thấp kém trong xã hội, những số kiếp lầm than, bị áp bức Các nhà văndần dần thoát khỏi sự lý tưởng hóa và tính đa cảm thường thấy khi miêu tả hìnhtượng nhân dân trong văn học thời kì trước, đi sâu hơn vào những mâu thuẫn phứctạp, căng thẳng phát sinh do sự hình thành nhanh chóng của chế độ tư bản chủnghĩa Văn học phản ánh cuộc sống của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, ởthành thị và nông thôn, ở những vùng miền khác nhau của mỗi quốc gia với nhữngđặc trưng riêng về lịch sử và văn hóa
Trang 13Trong các sáng tác văn xuôi về đời sống xã hội, các nhà văn (Kavalerov,Philimon) đặt ra trước mắt mục đích phản ánh trực tiếp về môi trường xung quanh,
rõ nét nhất là các xung đột và các loại hình trong xã hội Đặc trưng tiêu biểu củacác sáng tác kiểu này là tính thiên hướng mở, dòng văn học phê phán và trào phúngphát triển mạnh Nhìn chung, sự phát triển của thể loại trào phúng trong văn xuôicũng như thơ là đặc điểm quan trọng của văn học thời kì này Ở một số nền vănhọc, trong các thể loại nhỏ ghi nhận sự trưởng thành về nghệ thuật và chiều sâuhiện thực rõ rệt hơn trong tiểu thuyết Khuynh hướng xâu chuỗi các thể loại vănxuôi nhỏ khá rõ nét Khuynh hướng này cho phép trong khuôn khổ truyện ngắn cóthể đạt đến tầm bao quát hiện thực rộng lớn, và trong phạm vi cả chuỗi truyện ngắn
có thể đạt đến tầm nhận thức đầy đủ về những vấn đề quan trọng của đời sống xãhội và con người
Tiểu thuyết vươn lên dẫn đầu các thể loại văn học Tốc độ và đặc trưng củaquá trình này ở các nền văn học khu vực Đông Âu không giống nhau bởi xuất phátđiểm khác nhau: trong văn học Ba Lan, tiểu thuyết tồn tại từ thế kỉ XVIII, trongkhi đó trong văn học Bulgari mới chỉ xuất hiện những tác phẩm đầu tiên thuộc thểloại tiểu thuyết
Gắn liền với vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc là vai trò đặc biệt của thểloại tiểu thuyết lịch sử trong hầu hết các nền văn học thuộc khu vực Đông Âu.Chính những thành công của thể loại này đã quyết định đóng góp của các nền vănhọc khu vực Đông Âu vào tiến trình văn học thế giới (các sáng tác của
H Sienkiewicz, A Irasek, A Shenoa, I Vazov) Các tiểu thuyết lịch sử của cácnhà văn trong khu vực thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước nồng nàn Nét đặc sắc củacác tác phẩm thể hiện ở ý nghĩa giáo dục và mối liên hệ hiếm có về tình cảm vớiđộc giả Thể loại tiểu thuyết này gắn liền với vấn đề lịch sử dân tộc Một cái nhìnnhất định, toàn diện về thời kì lịch sử được phản ánh và vai trò của thời kì đó tronglịch sử dân tộc đã lí giải khuynh hướng sáng tác những bộ tiểu thuyết anh hùng đồ
Trang 14sộ (như sáng tác của H Sienkiewicz, Irasek) được liên kết bởi một cốt truyện, mộtnguồn cảm hứng chung và một quan niệm lịch sử thống nhất Gần với đề tài đấutranh giải phóng dân tộc là đề tài các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến (sáng táccủa Irasek, Shenoa) Những bức tranh về các phong trào nông dân cũng như nhữngtấm gương hi sinh anh hùng của các nhân vật được tái hiện lại với tầm vóc sử thichân thực Các sáng tác của Sienkiewicz hay Shenoa thường được so sánh với cáctiểu thuyết của Walter Scott Những nét tương đồng giữa các tác phẩm khá rõ nét:nội dung phiêu lưu, màu sắc lịch sử sắc nét, nhiều yếu tố lãng mạn trong cốt truyện
và quan điểm của các nhân vật Tuy nhiên, khác với kiểu “con người trung lập” của
W Scott, người anh hùng trong các sáng tác của các nhà văn Đông Âu là ngườitham gia tích cực vào các sự kiện lịch sử có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử.Tuyến truyện tình yêu không quyết định sự vận động của cốt truyện mà hoàn toànlui về tuyến sau
Tiểu thuyết lịch sử đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thể loạitiểu thuyết hiện thực trong văn học Đông Âu, mặc dù tiểu thuyết lịch sử có nhiềuđặc điểm khiến nó được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn Tiểu thuyết lịch sử giải quyếtcác vấn đề quan trọng đối với tiểu thuyết hiện thực nói chung, trước hết là việckhai thác mối quan hệ giữa cuộc đời cá nhân với lịch sử
Sự hình thành thể loại tiểu thuyết về thời đại hiện nay diễn
ra khó khăn và chậm chạp hơn, mặc dù trong những thập niêncuối thể kỉ XIX đã chứng kiến những bước tiến Đời sống xã hộiđược tái hiện trước mắt các nhà văn với những đường nét rõ rệttrong khoảng cách lịch sử, càng gần về hiện tại càng bị chia nhỏ
ra, đánh mất mối liên hệ và bị tách ra thành những bức tranhphong tục Nhìn chung, trong thể loại tiểu thuyết diễn ra quá trìnhkiếm tìm sự tổng hợp cách nhìn, khai thác những mối quan hệ sâu
Trang 15xa giữa số phận cá nhân với sự phát triển của xã hội, tìm hiểu vềcá thể con người và giải quyết các vấn đề xã hội.
Trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX có sự ra đời của tiểuthuyết xã hội từ cuộc sống hiện đại trong các nền văn học trướcđây chưa có thể loại này (các sáng tác của Arbes, Svetlaya ở Cộnghòa Séc; Miksat, Tolnai – Hungari)
Các tác phẩm kiểu như tiểu thuyết Búp bê của Prus là thành
tựu quan trọng của chủ nghĩa hiện thực phê phán và cũng là loạitiểu thuyết mới đối với văn học khu vực Đông Âu – tiểu thuyết tâmlý xã hội về cuộc sống hiện đại với cách phân tích đời sống xã hộivà tinh thần của đất nước Các tiểu thuyết kiểu này rất gần với
tiểu thuyết Nga thời kỳ này (Anna Karenina của Tolstoy, các tiểu
thuyết của Gonsarov) Nét tương đồng thể hiện ở tầm bao quátrộng lớn đời sống xã hội hiện đại trong sự vận động của nó, việcđặt ra những vấn đề cấp thiết của thời đại, tầm quan trọng củavấn đề đạo đức, sự chú ý đến quá trình kiếm tìm về mặt tinh thầncủa các nhân vật Gắn liền với những đặc điểm đó là nghệ thuậtkhai thác tâm lý nhân vật, không chỉ thể hiện ở những bức tranhxã hội rộng lớn mà còn thể hiện trong thể loại đặc thù – tiểu
thuyết tâm lý, ví dụ như tiểu thuyết Không giáo điều của
Sienkiewicz Tiểu thuyết Ba Lan có nét tương đồng với tiểu thuyếtNga cả ở ý nghĩa đặc biệt của vấn đề trách nhiệm của con ngườiđối với xã hội
Trong tiến trình phát triển của chủ nghĩa hiện thực ở nửa sauthế kỷ XIX, thể loại trào phúng xã hội chiếm một vị trí đặc biệt(các sáng tác của Gavlichek-Borovsky, Karadzhale,
Trang 16A Konstantinov) Có thể nói đến sự xuất hiện và phát triển củathể loại trào phúng hiện thực Về quan niệm nghệ thuật, thể loạinày khác với thể loại trào phúng khai sáng phổ biến ở các thời kìtrước, hay thể loại trào phúng lãng mạn vẫn còn có vị trí trongvăn học thời kì này.
Như vậy, nét mới của văn học Đông Âu nửa sau thế kỷ XIXchính là sự hình thành và phát triển nhanh chóng của chủ nghĩahiện thực, khuynh hướng dẫn đầu trong phần lớn các nền văn họckhu vực Đông Âu
2.3 Tác gia, tác phẩm tiêu biểu: Henrik Sienkiewicz (Ba Lan) (các tác
phẩm tiêu biểu: Quo vadis, Hania)
Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Henryk Sienkiewicz (1846-1916) tên đầy đủ là Henryk Adam AlexanderPyus Sienkiewicz, có bút hiệu là Litwos Ông sinh ra ở làng Wola Okrzejska, tỉnhLublin, Ba Lan, là con trai một địa chủ quý tộc nghèo Đến tuổi đi học, do ảnhhưởng của các biến động kinh tế, gia đình ông phải chuyển về Warszawa, và năm
1858 Henryk vào học trung học tại đây Từ năm 1866 đến 1870, ông học tại trườngĐại học Tổng hợp Warszawa, lúc đầu học Luật và Y khoa, sau chuyển sang Văn và
Sử Từ năm 1869, tên tuổi của Henryk bắt đầu xuất hiện trên tạp chí sinh viênTổng quan hàng tuần Sau khi tốt nghiệp đại học, Henryk bắt đầu kiếm sống bằngnghề làm báo
Sự nghiệp sáng tác của Henryk Sienkiewicz được chia thành 3 giai đoạn:những năm 70-đầu những năm 80; 1883-1905; và sau cuộc cách mạng năm 1905
Giai đoạn sáng tác những năm 70-đầu những năm 80
Henryk Sienkiewicz bắt đầu gây được sự chú ý với công chúng với tiểu
thuyết viết từ thời sinh viên Phí hoài (Namarne, 1871) và các truyện ngắn lấy đề
Trang 17tài từ cuộc sống nông thôn, số phận người nông dân, như Người đầy tớ già (1875), Hania (1876), Những phác thảo bằng than (1877), Nhạc sĩ Janko (1879), đồng
thời ông cũng trở thành một nhà báo được thừa nhận tài năng, cộng tác với nhiều
tòa soạn như Báo Ba Lan, Cánh đồng, Tiếng nói… Sự thật, cái đẹp và lợi ích xã
hội là những yêu cầu mà chàng trai trẻ Sienkiewicz đặt ra cho những đồng nghiệpcầm bút của mình Khác với những người đồng chí thuộc nhóm người “trẻ”,Sienkiewicz tiếp nhận nền văn minh tư sản giống như lẽ tất nhiên không tránhkhỏi, mặc dù thiện cảm của nhà văn vẫn nghiêng về thời đại cũ đã qua Trong cáctruyện ngắn thời kì đầu, việc thi vị hóa những con người thời xưa với nhân cáchđạo đức không phức tạp nhưng vĩ đại đã tạo nên cho văn phong của Sienkiewiczmột sự biểu cảm đặc biệt trữ tình Chính trong những sáng tác thời kì đầu,Sienkiewicz lần đầu tiên tìm thấy chính mình như một người nghệ sĩ có thế mạnh
là phủ nhận thói dung tục, tầm thường của tầng lớp tư sản, mặt khác lại bị hạn chếbởi cách nhìn thế giới hạn hẹp, lỗi thời
Năm 1876, tờ Báo Ba Lan cấp tiền cho Henryk Sienkiewicz đi Mỹ với điềukiện ông phải viết một loạt bài báo về nước này (những bài báo đó sau này được in
thành sách Những bức thư trên đường sang Mỹ, 1882) Tại Hoa Kỳ, Henryk
Sienkiewicz tham gia vào những thử nghiệm xây dựng trại XHCN ở Anaheim (gầnLos Angeles) nhưng không thành công
Từ năm 1878, Henryk Sienkiewicz trở về châu Âu, đi du lịch qua rất nhiềunước, viết báo, viết văn và diễn thuyết Làm quen với các dạng thức quan hệ tư bảntiến bộ, nhà văn tự giải phóng khỏi những hình dung ngây thơ về những con đườngphát triển của văn minh Lòng yêu nước nồng nàn, thái độ hoài nghi đối với thếgiới tư bản đã trở thành nét đặc sắc trong khuynh hướng nghệ thuật của HenrykSienkiewicz
Một châu Âu tư bản, đặc biệt là nước Anh, đã làm cho Henryk Sienkiewicz
vô cùng ngạc nhiên bởi vẻ bề ngoài là nền dân chủ, nhưng lại ẩn giấu đằng sau
Trang 18nhiều mâu thuẫn xã hội So với các quốc gia châu Âu, nước Mỹ gần hơn với lítưởng của Henryk Sienkiewicz về một đất nước thịnh vượng với chế độ dân chủ.Nước Mỹ của những thương nhân được nhà văn đặt trong sự tương phản với mộtnước Mỹ của những con người bình dân, những người cần lao hăng hái di cư đếnnhững vùng đất lạc hậu, và ở chính những nơi đó lại thấy tương lai của đất nước.Nhà văn bị cuốn đi giữa thiên nhiên trong lành và với niềm cảm thông sâu sắc ông
đã kể về số phận bi thương của “những đứa con” của thiên nhiên – những người dađỏ đã giết hại rất dã man các môn đồ của nền văn minh Mỹ
Mùa xuân năm 1878, Henryk Sienkiewicz đến Paris và một năm sau từ Parisông về nước Tuy nhiên, những ấn tượng về nước Mỹ đã thấm sâu vào tâm hồn nhàvăn và vẫn tiếp tục nuôi dưỡng sức sáng tạo của ông
Năm 1879, Henryk Sienkiewicz trở thành chủ bút một tờ nhật báo mới ở BaLan
Giai đoạn sáng tác 1883-1905
Năm 1881, Henryk Sienkiewicz kết hôn với Maria Szetkiewiczowna, nhưng
4 năm sau bà mất vì bênh lao, để lại hai người con
Năm 1888, được một người hâm mộ giấu tên tặng 15 nghìn rup, HenrykSienkiewicz đã lập một quỹ từ thiện mang tên vợ ông để giúp đỡ những người hoạtđộng văn hóa bị bệnh lao (thời đó là một căn bệnh nan y và phổ biến)
Sau khi trở về Ba Lan, Henryk Sienkiewicz bắt đầu sáng tác những tác phẩm
dài hơi, và trở nên thật sự nổi tiếng với 3 bộ tiểu thuyết lịch sử: Bằng lửa và gươm (1883-1884), Trận hồng thủy (1884-1886), Ngài Wolodyjowski (1887-1888).
Henryk Sienkiewicz viết những tiểu thuyết lịch sử này với mục đích khơi dậy lòng
tự hào dân tộc Ba Lan trong thời kì đen tối khi đất nước bị chia cắt và nhiều cuộc
khởi nghĩa chống ngoại xâm lần lượt thất bại Tiểu thuyết Bằng lửa và gươm viết
về cuộc chiến tranh giữa vương quốc Rzeczpospolita của người Ba Lan với ngườiCazzak Ucraina (từ 1647 đến 1651) do thủ lĩnh huyền thoại Bohdan Chmielnicki
Trang 19lãnh đạo Bộ sách Trận hồng thủy gồm ba tập, mô tả cuộc chiến đấu của người Ba
Lan chống lại cuộc xâm lăng của người Thụy Điển (1655-1656) mà sử sách gọi là
“Trận hồng thủy Thụy Điển” Trong cuốn Ngài Wolodyjowski, tác giả ca ngợi
những chiến công quả cảm của các hiệp sĩ Ba Lan trong cuộc chiến chống quânThổ Nhĩ Kỳ (1672-1673) Bộ ba tiểu thuyết lịch sử của Henryk Sienkiewicz vừa rađời đã được đón nhận nồng nhiệt, biến tác giả thành nhà văn Ba Lan có thu nhậpcao nhất thời đó (tiền nhuận bút của bộ ba tác phẩm này trong 20 năm đã lên đếnhơn 70 nghìn rup)
Vào những năm tiếp theo, Henryk Sienkiewicz xuất bản tiếp 2 tiểu thuyết
tâm lí xã hội về cuộc sống đương thời là Không giáo điều (1890) và Polamiecki
(1895) phê phán giới quý tộc đang suy đồi
Đỉnh cao thật sự trong sự nghiệp sáng tác của Henryk Sienkiewicz, tác phẩm
để đời mang lại danh tiếng thế giới cho ông, là bộ tiểu thuyết Quo Vadis viết về
cuộc đấu tranh của những người Thiên Chúa giáo với bạo chúa Nero
Năm 1893, Henryk Sienkiewicz tái hôn với Maria Wolodkowicz, con gáicủa một thương gia giàu có, nhưng cuộc hôn nhân này kết thúc không hạnh phúc
10 năm sau, năm 1904, Henryk Sienkiewicz cưới người vợ thứ ba là MariaBabska, người mà ông đã quen biết từ năm 1888
Henryk Sienkiewicz không hiểu được cuộc cách mạng 1905 Ông chỉ nhìnthấy trong đó sự chia rẽ dân tộc, khối thống nhất yêu nước của những người BaLan trong cuộc chiến chống quân xâm lược nước ngoài đã bị phá vỡ Nhà văn đã
đáp lại sự kiện cách mạng 1905 bằng tiểu thuyết Vòng xoáy (1910).
Năm 1905, Henryk Sienkiewicz được trao giải Nobel vì những đóng góp
xuất sắc trong lĩnh vực sử thi, mà cụ thể là tiểu thuyết Quo Vadis Viện Hàn lâm
Thụy Điển đánh giá ông là “Một trong những thiên tài hiếm hoi thể hiện được tinhthần dân tộc… Sáng tác của H Sienkiewicz vừa có tầm bao quát rộng vừa đượcsuy tính kĩ lưỡng, văn phong sử thi đạt đến độ hoàn thiện nghệ thuật”
Trang 20 Giai đoạn sáng tác sau cuộc cách mạng 1905
Năm 1910-1911, truyện vừa của Henryk Sienkiewicz Trên sa mạc và trong rừng thẳm được xuất bản Trong tác phẩm này, nhà văn đã thi vị hóa những mơ
ước thơ trẻ hồn nhiên kiểu hiệp sĩ, khích lệ lòng yêu nước và cái nhìn lạc quan với
thế giới Tác giả của Trên sa mạc và trong rừng thẳm lại một lần nữa khẳng định
tài nghệ của mình qua việc xây dựng một cốt truyện hấp dẫn, việc miêu tả mộtcách sống động các nhân vật, những bức tranh thiên nhiên rực rỡ, và khả năng khơidậy trong tâm hồn thơ trẻ những niềm say mê cao cả
Năm 1911, Henryk Sienkiewicz bắt đầu viết chùm tiểu thuyết Những quân đoàn lê dương Đây là lần cuối nhà văn thử nghiệm viết một tác phẩm có quy mô
lớn Tác phẩm kể về những quân đoàn lê dương đã từng chiến đấu trong đội quâncủa Napoleon Cảm hứng viết tác phẩm này được khơi gợi từ tư tưởng quên mìnhphục vụ Tổ quốc Theo tác giả, tư tưởng đó có thể liên kết và hòa giải mọi tầng lớptrong xã hội Ba Lan Chiến tranh thế giới 1914 đã làm gián đoạn quá trình sáng tác
Những quân đoàn lê dương Sienkiewicz rời quê sang sống ở nước Thụy Sĩ trung
lập, làm việc trong tổ chức Hồng thập tự Ba Lan Năm 1916 ông mất ở Vevey, támnăm sau thi hài của ông được chuyển về Warszawa và an táng trong nhà thờ
Ý nghĩa sáng tác của Henryk Sienkiewicz đã vượt ra khỏi khuôn khổ vănhọc Ba Lan Lúc sinh thời, ông không chỉ nổi tiếng là một nhà văn mà còn là mộttrong những nhà phê bình văn học có uy tín Trong số rất nhiều bài bình luận vănhọc, bài tiểu luận, bài phê bình sân khấu,… của Henryk Sienkiewicz, nhiều côngtrình đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị khoa học Henryk Sienkiewicz còn là mộtnhà phê bình hội họa Ba Lan xuất sắc
Tiểu thuyết Quo vadis
Tác phẩm nổi tiếng Quo vadis được viết trong thời kỳ sung sức nhất của H.
Sienkiewicz Ý đồ sáng tác xuất hiện vào mùa xuân năm 1893, khi nhà văn tớithăm Rome lần thứ hai Như nhà văn đã viết trong bức thư gửi nhà khảo cổ học