CẤU TRÚC PHÂN TỬ CỦA NHIỄM SẮC THỂ- NST được cấu tạo gồm AND và protein; cũng có một lượng nhỏ ARN nhưng chỉ để chuẩn bị chuyển ra TBC - Hỗn hợp AND và protein đgl chất nhiễm sắc - Prote
Trang 1CẤU TRÚC PHÂN TỬ CỦA NHIỄM SẮC THỂ
- NST được cấu tạo gồm AND và protein; cũng có một lượng nhỏ ARN nhưng chỉ để chuẩn bị chuyển ra TBC
- Hỗn hợp AND và protein đgl chất nhiễm sắc
- Protein cấu trúc NST được chia thành hai loại: histon (protein có tính kiềm) và phi histon (protein có tính acid)
- Histon là các protein có khối lượng phân tử nhỏ hơn 23kDa Khối lượng khô của histon tương đương với AND trong thành phần chất nhiễm sắc Tích điện dương do tần số aa lysin và arginin cao
=> Giúp tương tác với AND tích điện âm
- Có 5 loại histon: H1, H2a, H2b, H3 và H4 Các histon này được tìm thấy ở mọi loài sinh vật nhân chuẩn, trừ vài trường hợp ngoại lệ
- Trình tự aa của histon có tính bảo thủ rất cao được chứng minh bằng cấu trúc ổn định của các thể nhân trong cấu tạo chất nhiễm sắc khi so sánh giữa các loài khác nhau Điều này có ý nghĩa sống còn đối với sinh vật nhân chuẩn
- Về cấu trúc:
Các thể nhân gồm lõi histon bao quanh là vòng AND
Phần lõi gồm hai đĩa son song, mỗi đĩa gồm bốn phân tử
histon là H2a, H2b, H3 và H4 Phân tử AND chạy quanh
vành đĩa và gắn với một phân tử H1 nằm ngoài thể nhân
Vòng xoắn AND cuốn quanh thể nhân gồm 146 cặp base
Độ dài đoạn nối giữa các thể nhân có thể thay đổi tùy loài
Ỏ người, nó gồm khoảng 60 cặp base nên độ dài tổng cộng
của phân đoạn AND tương ứng với một thể nhân là khoảng
200 cặp base => đây là mức đọ đóng gói cơ bản của AND
trong chất nhiễm sắc Sự
Sự đóng gói tiếp theo phụ thuộc vào protein H1( nằm ngoài lõi thể nhân) Các phân tử H1 có thể nhân thành cấu trúc cuộn xoắn có đường kính ~30nm =>> đường kính của các sợi nhiếm sắc thường nhìn thấy ở các ảnh chụp từ kính hiển vi
điện tử Trong chất nhiễm sắc còn có mức độ
cuộn xoắn cao hơn , mức độ cuộn xoắn cao nhất
là ở kì giữa của quá trình phân bào
Tổ chức của các cấu trúc này gồm các sợi nhiễm
sắc gắn kết với phần khung của NST Phần
khung chủ yếu gồm protein có tính acid (phi
histon) là topoisomerase II
Có những vùng đặc biệt trên phân tử AND gồm
vài trăm cặp base, giàu A và T, được gọi là vùng
Trang 2gắn kết của khung SAR( scaffold attachment region) có vai trò liên kết trực tiếp phân tử AND vào cấu trúc khung của NST
Vùng gắn kết các khung được sắp xếp như những chiếc thòng lọng có độ dài khác nhau
Các protein phi histon của nhân tham gia vào nhiều hoạt động điều hòa chức năng của chất nhiễm sắc, kể cả việc điều hòa sự hoạt động của các gen, phối hợp hoạt động với các yếu tố phiên mã vốn có vai trò chủ yếu
-