Vì vậy vấn đề sử dụng đất hợp lý và các giái pháp chống ô nhiễm đất, duy trì tính năng sản xuất làu dài là một trong những chiến lược quan trọng của nước ta nói riêng và trên toàn thế gi
Trang 1Chương 5
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÂT VÀ CẢNH QUAN
5.1 NGUỐN GỐC, TÁC NHÂN Ô NHIỄM m ô i t r ư ờ n g đ ấ t
5.1.1 Một sô khái niệm
Đất là "tư liệu sản xuất đặc biệt" là "đối tượng lao động độc đáo" là "cơ sở sản xuất đặc biệt", đồng thời là yếu tố cấu thành của các hệ sinh thái trên Trái đất
Trên quan điểm sinh thái học thì đất là một tài nguyên tái tạo, là "vật mang" của nhiều hệ sinh thái trên trái đất Con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất "mang" trên mình nó Như vậy tưỳ thuộc vào phương thức đối xử của con người đối với đất mà đất đai có thể phát triển theo chiều hướng tốt và cũng có thể phát triển theo chiều hướng xấu Vì vậy vấn đề sử dụng đất hợp lý và các giái pháp chống ô nhiễm đất, duy trì tính năng sản xuất làu dài là một trong những chiến lược quan trọng của nước ta nói riêng và trên toàn thế giới nói chung trong việc sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ sự cân bằng của các hệ sinh thái và phát triển bền vững
Xét trên quan điểm cấu trúc và chức năng thì đất đã tự nó hình thành một hệ thống sinh thái hoàn chính, một cấu hình của một hệ thống mở
Giống như các hệ sinh thái khác, giữa các yếu tố sống và không sống trong đất luôn xảy ra sự trao đổi nâng lượng và vật chất và phản ánh tính chức năng của một hệ sinh thái hoàn chỉnh Dòng năng lượng đi qua hệ sinh thái đất được sử dụng trong quá trình tích luỹ, phân huỷ các hợp chất hữu cơ Lượng chất hữu cơ được hình thành trong một đơn vị thời gian là biểu hiện sức sản xuất của hệ và dòng năng lượng này tuân theo nguyên tắc của một vòng tuần hoàn hở, nghĩa là giảm dần qua mỗi bậc sản xuất và tiêu thụ của các tác nhân Ngược lại, vòng tuần hoàn các chất dinh dưỡng thì lại tuân theo nguyên tắc của vòng tuần hoàn khép kín
Hệ sinh thái đất có cách phát triển riêng, đó là kết quả của mối quan hệ qua lai giữa các yếu tố hữu sinh và vô sinh và khả năng tự điều chỉnh riêng, nghĩa là khả năng tự lập lại cân bằng giữa các quần thể sinh vật đất, giữa vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng Nhờ có khả năng tự điều chỉnh riêng này mà hệ sinh thái đất giữ được ổn định mỗi khi chịu tác động của các nhân tố ngoại cảnh Tuy nhiên sự tự điều chỉnh của hệ sinh thái đất có giới hạn nhất định, nếu sự thay đổi vượt quá giới hạn này, hệ sir.h thái đất mất khả năng tự điều chỉnh và kết quả là chúng bị ỏ nhiễm, giảm độ phì và giảm tính năng sản xuất
Trang 2Sau một thời gian dài tiến hoá của lịch sứ, môi trường đât là môi trường sống cua con người: nó cung cấp thức ăn cho con người, nó tạo ra điều kiện cần đế tố chức chỗ ở, chò làm việc, sản xuất, sinh hoạt và nulìí ngơi cua con người
Sự tấc động của con người có thê diều chính và tìm dược một giới hạn sinh thái hay giới hạn cho phcp của môi tnrừng đất Nếu các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái ra ngoài giới hạn sinh thái đất thì hậu quả sẽ là sự ô nhiễm môi trường đất
Muốn kiểm soát được môi tnrờng đất, cần phải biết giới hạn sinh thấi của đất vối từng nhan tô sinh thái Xử lý ò nhiễm đất tức là điều chính và đưa các nhân tô sinh thái trờ về giới hạn sinh thái cho phcp cúa đất Đây chính là nguyên lý sinh thái cơ bán vận dụng vào việc sứ dụng hợp lý tài nguyên đất và báo vệ môi trường đất
Việt Nam có diện lích tự nhiên 33.091.033 ha, xêp thứ 55 trong tống sô trên 200 nước của thế giới, là nước có qui mỏ diện tích thuộc loại trung bình nhưng vì có số dân đòng (xếp hạng thứ 1 2 trên thế giới) nên diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người vào loại thấp (đứng thứ 120), với mức 0,42 ha/người (bằng 1/6 mức bình quân của thế giới).Đất dược sử dụng vào cấc mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng và khu đất dân cư là: 18.881.248 ha, chiếm 57,04 % tổng quĩ đất và phân bố cụ thế ở cấc vùng như trong báng 5.1
Bang 5.1 Tình hình sử dụng đát của Việt Nam qua các nãm
N guồn: T rầ n An Pho/lí’ và ĩùp ihr CÔIỊỌ tác viên, dừ tủi N C K I l cáp N N m à sô K T -02-09
ũ'Dáỉìlì ịịiú hiện trạng và đề Mỉấl sử (lụng dát hợp lý trên quan cliểỉỉi sinh thúi vù phút ĩriểìì lãn bên ”, thuộc chương trình khoa học và cóm' nghệ cấp Nhà nước PCÍ-02, Hù Nội ì 995.
( ỉh ỉ chú:
Đút chuyên dùng bao iỊổtỉi: Đất xúy (lựng cúc công Ỉrìtìlỉ CÓÌHỊ nghiệp, khoa học, kỹ thuật, hệ
ỉ h ố n g g ia o th ô n g , h ệ th ô n g ỉh u ỷ lợi, clứ d iê u , văn h o á , x ả h ộ i, ỳ áo d ụ c , V tế, th ê (lục th ê th ao,
dịch vụ, dát sử clụiii> cho nha cáu quốc phỏnsị, an ỉìi/ìh, đứt clùỉìíỊ cho ílỉủtỉỉ dỏ, khai thúc khoáng
s ú n , d ú c á t, cícíí ỉùììì (lố g ố m , g ợ ch n g ó i vù c ú c vật liệu -VỚV d ự n g k h á c, đ ấ t d i tích lịch s ử văn ho á
vù danh lam thắng cchìiỉ, đất nọlỉĩa traiỉỊỊ, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng khỏỉìg vào mục đích nông nghiệp.
5.1.2 Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường đất
a) Nquồn gốc ỏ nhiễm mỏi trườtìiỊ dứt
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm hàm lượng các chất tự nhiên trong đất tăng lên, hoặc thèm cấc độc chất lạ (đến mức vượt tiêu chuẩn cho phép), gây độc hại cho môi trường, sinh vạt và làm xấu cánh quan
Trang 3Như ta biết, đất là lài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất trong sán xuất nông-lâm nghiệp Ngoài ra đất được dùng làm nơi ờ, đường giao thông, kho tàng, mật bang sán xuất công nghiệp Khi dàn sô tăng nhanh, đặc biệt là thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, nền văn minh phát triển cao, con người tìm mọi cách tăng cường mức sán xuất và tăng cường khai thác độ phì của đất như:
- Tăng cường sử dụng phân bón, tluiốc trừ sâu, diệt cỏ
- Su dụng chất kích thích sinh trường cây trồng
- Sử dụng còng cụ và kỹ thuật hiện đại
- Mớ rộng mạng lưới lưới tiêu
Tất cả các biện pháp này tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái và môi trường đất, đó là:
- Làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng thuốc trừ sâu
- Làm ô nhiễm môi trường đất do sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
- Làm mất cân bằmg dinh dưỡng
- Làm xói mòn và thoái hoá đất
- Phá huỷ cấu trúc đất và các tố chức sinh học của đất do sử dụng máy móc nặng
- Mặn hoá, phèn chua do tưới tiêu không hợp lý
b) Phân loại ỏ nhiễm dứt:
Có ihê phàn loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh và theo các tác nhân £âv ô nhiễm:
- Theo nguồn gốc phát sinh:
• 0 nhiễm đất do chất thái công nghiệp
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
• Ồ nhiễm đất do tác dộng của sinh hoạt dân cư
- Phân loại theo các tác nhân gây ô nhiễm:
• 0 nhiễm do tác nhân hoá học
• Ổnhiễm do tác nhân sinh học
• 0 nhiễm do tác nhân vạt lý
0 nhiễm đất do chất thải công nghiệp
Các hoạt động công nghiệp xả vào đất một lượng lớn các phế thái của chúng Các lượng phế thải đó, nguy hiểm nhất là các chất thái nguy hại, được thòng qua khí thái, nước thải và rác thải hoặc thái trực tiếp xuống đất Chúng làm ô nhiễm môi trường đất, phá huỷ sự cân bằng của hệ sinh thái đất
Q u á trìn h k h a i k h o á n g g â y ỏ n h iễ m và s u y th o á i m ô i tr ư ờ n g đ ấ t ở m ứ c n g h i ê m TỌ'ng nhất Do khai thác, một lượng lớn phê thái, quặng từ lòng đất được đưa lên tren bổ mặt Mặt khác thám thực vật trong khu vực khai khoáng bị huỷ diệt, đất có thế tị xói
Trang 4mòn Tiếp theo là một lượng lớn phế thai, xí quặng theo khói bụi bay vào không khí lồi lại lắng đọng xuống đất và làm nhiẽm ban đất trong một phạm vi lớn.
Các chất thái này thường xuyên chứa những san phẩm dộc hại ở dạng dung địch và dạng rắn Khoáng 50% chát thái còng nghiệp là dạng rắn (than, bụi, chất hữu cơ xỉ quặng ) và trong đó 15% có khá năng gáy độc nguv hiếm Độ pH của đất giám do mưa axít và chất t hái công nghiệp Tưưng ứng sự ai ám di 50% độ no bazơ nghĩa là 1/2 cation bazo' dã dược thay thế hang H+ và Alu (theo TAMM 19X8, ANDERSON 1988)
Điểu đáng lo ngại là các phế thái công nghiệp thường làm ỏ nhiễm đất bới các hoá chất và kim loại nặng Phênol là vật thai cua công nghiệp dệt, luyện kim đen, luyện than cốc - khi thấm vào đất, vào nước thì làm cho đất, nước có mùi đặc biệt, nguy hiếm là khi phênol kết hợp với clo ớ những đất bị nhiễm mận sẽ tạo thành cloróphênol rất độc, có mùi buồn nôn, gây ung thư Hàm lượng phènol từ 25-30mg// nước đất gày độc cho cây
và chết động vật đất Các nguyên tố kim loại nặng (Cu, Zn, Pb, Hg, Cr, Cd, ) thường chứa trong phế thái của ngành luỵện kim mầu, sán xuất ỏtô Nước thái chứa kim loại nặng cuối cùng làm ô nhiễm đất
Các loại phế thải rắn công nghiệp được tạo nên từ hầu hết các khâu còng nghệ sán
x u ấ t và từ t r o n g c á c q u á trìn h sử d ụ n g s án p h ẩ m C ác loại p h ế thái n à y đ ư ợ c tậ p tr u n g tại các cơ sớ sán xuất hoặc vận chuyên khói khu vực, rồi bằng cách này hay cách khác và cuối cùng cũng trơ về với mòi trường đất Theo các đặc tính lý hoá, các phế thái rắn công nghiệp gày ỏ nhiễm mỏi trường đất này được chia làm bốn nhóm như sau:
- Phế thái vô cơ từ các cơ sở công nghiệp như: mạ điện, tliuý tinh, công nghiệp giấy,
cặn xí ở các trạm xử lý nước
- Phế thái khó phân huý như dầu mỡ ni lông, sợi nhân tạo, phế thái từ công nghiệp
da, cao su
- Phế thái dễ cháy từ các nhà máy lọc dầu, sứa chữa ỏtỏ-xc máy, sán xuất máy lạnh, thực phẩm
- Phê thái độc hại: các phế thải tác động mạnh, phế thái có chứa đồng vị phóng xạ Đặc điểm của phế thài công nghiệp gây ô Iihiềm môi tnrờng đất là đa dạng về thành phần và kích thước, không tập trung và đa nguồn gốc, vì vậy việc lựa chọn phương pháp
xử lý chúng cũng rất phức tạp
0 nhiễm đất là hậu quả của ở nhiễm kh í quyển và mưa axit
Mưa axít và ô nhiễm môi trường đất
Bình thường nước mưa có độ pH khoảng 5,6 do sự có mặt của CO; tạo thành H:CO, trong khí quyên Trong phân định thực tế, các cơ quan báo vệ môi trường Hoa Kỳ(ERA) dã sử dụng tiêu chuẩn nước mưa có độ pH nằm trong giới hạn từ 5 đến 6,5 lànước mưa trung tính Nước mưa có độ pH nhỏ hon 5 là mưa axít Tuy nhiên tố chức Y tế thế giới (WHO) qui định mưa axit là mưa có dộ pH nhỏ hơn 5,5 Ở Việt Nam đang áp
Trang 5dụng tiêu chuẩn này trong khảo sát và đánh giá mưa axit trên toàn quốc Trong khí quyển có hai chất ô nhiễm chủ yếu gây mưa axit là S 02 và NO-, Các tác hại của mưa axit đối với mói trường đất được thống kê như sau:
- Mưa axit làm chua các hồ nước Ở Canađa có hơn 4.000 hồ nước bị axit hoá, khiên các sinh vật trong hồ chết hết Hồ biến thành hồ chết và làm ô nhiễm môi trường đất
- Mưa axit hoà tan các khoáng ít tan trong đất, đẩy nhanh quá trình phong hoá khoáng, tăng nhanh tổng số muối tan trong đất, làm cho đất mặn hoá
- Mưa axit rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ trong đất, làm cho đất trở nên chua dần, không thích hợp cho các hoạt động của các vi sinh vật hữu ích Các cation kiềm rửa trôi làm cho độ bão hoà bazơ của đất ngày càng giảm xuống, đất mất dần độ phì nhiêu Nêu
độ bão hoà bazơ xuống quá thấp, khoáng sét sẽ bị phá huỷ Cation kiềm tiếp tục bị rửa trôi, môi trường quá chua, khoáng sét biến thành hydroxit và S i02 thứ sinh Đất thật sự mất khả năng sản xuất
- Đất có hàm lượng tổng kim loại nặng cao, do bản thân đất hay do đất đã bị ô nhiễm, nhưng vì gặp điều kiện môi trường kiềm, các kim loại nặng trờ nên không linh động nên không phát tác được, nên chưa gây tác động tiêu cực đến cây cối và con người Gập mưa axit, đất chua đi, các kim loại nặng trớ nên linh động hơn, và chúng tác động xấu đến môi trường
Hoạt động công nông nghiệp làm cho không khí bị ô nhiễm S 0 2, NOx, HCI, HF Quá trình yếm khí trong đất ngập nước là điểu kiện để hình thành H2S - khí này bay vào không trung rồi cũng bị oxy hóa thành H2S 0 4 Tan trong nước mưa, tất cả các khí đó làm chua nước mưa và cũng làm chua đất
Ở các trưng tâm công nghiệp Châu Âu người ta tính có đến 80% lượng sulfua đi vào khí quyển là do hoạt động của con người Vùng bán đảo Scandinaver trong thời gian
1957 đến 1963 lượng lưu huỳnh trong đất tăng gấp đỏi Trong sông ngòi ờ Nam Thụy
Điển lượng lun huỳnh từ các dòng sông đưa vào đồng ruộng trong thời gian 190) đến cuối những năm 1960 đã tăng gấp 3 lần (từ 7kg lên 22kg/ha/nãm) Lượng lưu huỳnh trong nước mưa biến động theo từng thời kỳ song nói chung là tăng lên
Các loại axit đổ xuống đất làm đất chua, làm ảnh hưởng tới sự cân bằng của đất
Năm 1956 trong khi đại bộ phận bán đảo Scandinaver hầu như trung tính thì miền đông nước Anh, Hà Lan và Bi độ pH < 5,0 Năm 1959 tình hình đã thay đối, vùng ;ó độ
pH < 5,0 đã toả rộng theo hướng Đông Bắc châu Âu Vùng bán đảo Scandinaver cộ pH
đã xuống khoảng 5,5 đến 6,0 Miền Bắc nước Đức, Hà Lan, Bỉ đã xuất hiện vùng cộ pH dưới 4,5 Đến năm 1961 trung tâm đất chua lại mở rộng đáng kể Từ năm 1961 mưa hàng nãm ở trung tâm đã có độ pH xuống dưới 4, có thời gian xuống đến 3 Ớ Thuỵ Điển có lúc độ pH nước mưa hạ xuống đến 2,8 Đến năm 1966 phía Tây Nam và miền Trung Thuỵ Điển và Na Uy độ chua của đất tâng lên Trong thời gian 1965 - 1970 nước
hồ và sông của Thuỵ Điển có độ pH giảm, nhất là ờ miền Nam và ờ miền Trung
Trang 6Ion H+ gây ra độ chua của đái, ngoài ra ion H+ còn có khả năng trao đổi ion với các ion khác như Na+, Ca+, Mg+, K+ chúng bị H+ thay thế và nước mưa rửa trôi Do mưa axit nặng
nể, nhiều vùng ruộng ở hán dáo Scanđinavcr có tỷ lệ kiềm trong dung tích hấp thự đất còn rất thấp: v% < 10% NẹhTa là hon 90cì(duim tí -i hấp thụ là H+, cây cối mọc rất kém
Muốn khôi phục lại đất phân bón cho đất r uộng nhiều Ca+, Mg+ việc cải tạo đất trồng phải được xem là công việc lâu dài, mất hànir trăm năm
Việc ô nhiễm SO: 2 nếu chưa làm độ chua táng đáng kể đến mức rửa trôi mất Ca, Mg thì lại làm tăng tổng số muối tan tron" đái Các axit hoà tan các ỏxít kim loai kiềm, cacbonat làm hình thành các loại muối Iroim đất CaS04, CaHCO,, CaCl2 làm lăng độ mặn của đất
Quanh các khu cóns> nchiệp nsĩoại thành Hà Nội đất đai giàu lưu huỳnh hơn trung tâm châu thổ sông Hổng và cũng có hàm lượng tổng muối tan cao hơn
Ò nhiễm đất là hậu quả của 0 nhiẻm nước
Nông dân lấy nước thái tưới cho đổna ruộng Nếu không điều tra chất lượng nước, cóthể làm cho đất bị ô nhiễm ảnh hưòìiii xấu đến sinh trưởng của cây Tưới nước có độ mặn cao làm cho đất bị mặn hoá
w Sideriuo nam 1992 đã phân cấp độ mặn theo độ dẫn điện và phân tích tống số muối tan theo phương phấp chiết từ hố đất bão hoà nước như‘sau:
Trang 7Và còn dựa vào C1 hay S 0 4: chiếm ưu thế phân loại:
Bảng 5.2 Ảnh hưởng của việc xử lý nước thải đến tỷ lệ kim loại nặng trong đát
và giun đất, (Beyer và ctv, 1982)
Đối chứng Tưới nước thải Đối chứng Tưới nước thải
Nước bẩn ở mỏ như nước thải từ mỏ sắt hay mỏ lưu huỳnh do quá trình oxy hoá tạo thành FeS04, Fe2(S 04)3, H2S 04 hoà tan trong nước làm đất tích luỹ sắt, đất chua dần và diện tích đất ô nhiễm ngày càng lớn
Đất ô nhiễm lưu huỳnh trong điểu kiện hao phí bị oxy hoá thành sulfat khiến tích luỹ muối sulíat, độ mặn tăng lên, H2S 04 hình thành làm đất có phản ứng chua, thành loại đất chua, mặn gọi là phèn
Trong điều kiện khử sulíat hay ỉưu huỳnh bị khử thành H2S, hoặc các muối sulfat tích lại trong đất
Đồng cỏ bị nước chứa kim loại nặng tràn qua làm tăng hàm lượng kim loại nặng trong đất và trong cỏ làm cho trâu bò gặm cỏ bị nhiễm độc chết
Trang 8Hàng ngày, từ sinh hoạt, con người ta thái vào môi trường đất một lượng đáng kể chất
thải rắn và chất thái lóng, v ề chất thái lóng: trung bình người dân đô thị ở các thành phố
lớn của Việt Nam mỗi ngày sử dụng một lượng nước cấp khoảng 100-150 lít, và cũng thải ra môi trường một lượng nước thái như vậy, trong đấy có chứa bao nhiêu là chất độc hại Những chất độc hại đấy đọng lại nhiều nhất trong môi trường nước và đất v ề chất thải rắn: trung bình mỗi người mỗi ngày tluii ra một lượng chất thài rắn từ 0,4 đến 1,8 kg/người.ngđẽm, khối lượng này tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đỏ thị, từng lứa tuổi Lượng phân này xả vào mỏi trường theo hệ thống thoát nước Trong đó có chứa nhiều chất ô nhiễm, ví dụ hàm lượng chất lơ lửng là 65-100 g/người.ngđẽm Trong rác và phế thải rắn sinh hoạt có phế thái thực phẩm, lá cây, vật liệu xây dựng, các loại bao bì, phân người và súc vật.v.v Trong các loại phế thái sinh hoạt này hàm lượng chất hữu cơ lớn,
độ ẩm cao Nếu không xử lý tốt thì chúng vẫn được tồn lưu trong môi trường nước và đất, và đó là môi trường cho các loài vi khuẩn, trong đó có nhiều loại vi khuẩn gây bệnh phát triển
5.1.3 Ánh hưởng cua hoạt động xáy dựng vói môi trường đát
a) Ảnh hưởng của quá trìnli x â \ dựnq
Những ảnh hương đến môi trường đát chủ yếu là do việc sử dụng phàn bón trong nông nghiệp, sử dụng hoá chất báo vệ thực vật, do các hoạt động sán xuất công nghiệp, tiểu thú công nghiệp và do ảnh hưởng không nhó của các hoạt động xây dựng
Hiện tại, các thành phố phát triển theo chiểu ngang nhiều hơn là theo chiều đứng, nên đã
sử dụng nhiều đất đai và người dân buộc phái di chuyển rất xa từ nơi ở tới chỗ làm việc
Từ năm 1990 đến năm 2000, quãng dường trung bình một người dân Anh phái đi mỗi ngày tăng từ 1,5 dặm đến 25 dặm, 90% người di chợ phái đùng ôtô Ị5| Như vậy phát triển đô thị không chí lièn quan dẽn việc xấy dựng từng công trình riêng lẻ, mà còn mơ lộng quy mô xây dựng các cơ sở kỹ thuật hạ tầng
Theo con số thống kê và dư báo thì tại nước Anh, thế kỷ 20 đã mất đi 20% đất sản xuất nông nghiệp Nếu tất cả đất Iiông nghiệp của nước Anh được sử dụng cũng không sán xuất đủ lương thực cho thành phố London Tất cả khu rừng của nước Anh cũng
không hấp thụ hết lượng C 0 2 của London Dự báo nước sinh hoạt sẽ cạn kiệt ở Liên hiệp
châu Âu vào nãm 2008, và ớ nước Anh và 2012
Hiện nay, diện tích lúa toàn vùng kinh tế trọng điếm phía bắc (Hà Nội, Hái Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh) là 190.313 ha So với năm 1997, diện tích này giảm 4.975 ha
mà chủ yếu là chuyển sang đất xây dựng các khu công nghiệp, đô thị và xây dựng cơ sở
hạ tầng
Công trình xây dựng cùng với những hoạt động sống của con người đã làm thay đổi chu trình của hệ sinh thái Môt trong những chu trình này là chu trình tuần hoàn của
Ó n h i ễ m đ ấ t d o s i n h h o ạ t c ủ a c o n n g ư ờ i
Trang 9nước mưa Thông thường, nước mưa rơi xuống được ngấm vào trong lòng đất, dưới ánh nắng mặt trời, nước bốc hơi thành mây, trở lại thành mưa và lại trở về Iĩiặt đất Khi khu đất được xây dựng, nước mưa được dẫn từ mái nhà, từ đường phố, quảng trường được thu vào hệ thống cống rãnh và thoát ra sông ra biển, nước đã không thấm vào lòng đất
Nó ảnh hưởng đến hệ nước ngầm, ảnh hưỏng đến đặc tính của đất và ảnh hưởng đến thảm thực vật
Có thế thấy rõ hơn về hoạt động xây dựng của con người đã ánh hường trực tiếp đến môi trường đất qua thí du của nhà cao tầng, nhà chọc trời còn được gọi là “thành phô theo chiều đứng”
Nền móng của nhà cao tầng làm thay đổi và phá vỡ cấu trúc hạ tầng của đất nền Nhiều trường hợp phải thay nền đất để đảm bảo sự chịu lực Trong trường hợp này ảnh hường của nó đến môi trường đất là rất đa dạng Sự cân bằng hiện có bị phá vỡ, và những tác động có thê xảy ra là nén đất, sụt đất, biến dạng cấu trúc, hạ mức nước ngầm Việc hạ mức nước ngầm trong một diện tích rộng có thể gây hậu quả tai hại cho môi trường xung quanh
Nhà cao tầng cũng ảnh hưởng đến khoảng không gian trống Chúng cản trớ ánh sáng mặt trời chiếu đến những thảm thực vật ở xung quanh
b) Ánh hưởng của công trình xảy dựng khi bị phá hoại
Con người đã tiêu hao 1/3 năng lượng thỏ được khai thác đế sản xuất vật liệu, làm cấu kiện xây dựng và để xây dựng nhà cửa, những công trình đô thị Song khi những công trình này đố xuống, chúng đã để lại nhiều chất thải cho môi trường đất Để bảo vệ môi trường đất và có thể sử dụng lại vật liệu mà không để lại chất thải cho môi trường đất, khi phá dỡ các công trình đối với nhà cao tầng là một vấn đề nan giải, dặc biệt đối với các công trình bằng bê tông cốt thép Việc phá dỡ các công trình làm bằng bê tỏng cốt thép sẽ khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với công trình có kết cấu thép, đặc biệt việc phá dỡ của chúng ở trên những độ cao Thí dụ công trình của nhà Tháp hội chạ (Messetunn) tại Frankfurt am Main bằng bê tông cốt thép, có chiều cao 256,5m, nặng 188.000 tấn Móng của nhà truyền lên một tấm bê tông cốt thép là móng bè, mỗi chiều dài 60m dầy 6 ni được đặt trên 61 cọc khoan nhồi có đường kính l,3m, dài 35m mỗi cọc Chi phí vật tư cho móng chiếm 1/4 tổng chi phí vật tư của công trình Nếu như phải phá
dỡ công trình mà không để lại chất thải cho môi trường đất thì hiện tại việc làm này không thể thực hiện được
5.1.4 Các tác nhân gây ô nhiễm đất
a) Cúc tác nhân hóa học
Ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hoá học và các chất kích thích sinh trướng
Người ta ước tính chỉ có khoảng 50% Nitơ trong phân bón đưa vào đất được cày trồng
sử dụng, lượng còn lại là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất Chúng làm thay đổi thành
Trang 10phần và tính chất của đất, làm chai cứng đất, làm chua đất, làm thay đổi cân bằng dinh dưỡng đất - cây trồng Các loại phân bón khi xâm nhập vào đất, một phần được tích luỹ trong đất, một phần vào nguồn nước, và một phần bay vào khí quyển dưới dạng khí và hơi gây ô nhiễm môi trường khí Khi nồng độ NO," cao trong đất, truyền vào môi trường nước, nếu sử dụng nước thì sự tạo thành Methemoglobìn trong máu trẻ em làm trẻ em dễ
bị hội chứng tím tái và tử vong
Ô nhiễm đất do sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm, diệt chuột,
Tất cả các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm, diệt chuột, đều làm ô nhiễm môi trường đất, nhất là hợp chất hữu cơ tổng hợp Có trên khoảng 1000 hợp chất hoá học được sử dụng trên thế giới, trong đó có DDT Thuốc trừ sâu diệt cỏ phân huỷ rất chậm
và tạo ra những dư lượng trong đất Trung bình có khoảng 50% lượng thuốc trừ sâu được phun đã rơi xuống đất và lôi cuốn vào chu trình đất - cây trồng - động vật - con người
Ví dụ thuốc trừ sâu DDT sau 5 năm sử dụng vẫn còn được tìm thấy 4 - 5% sót lại trong
đất, do khó bị phân huỷ và khó bị hấp thụ vào các cấu tử của đất DDT ở nồng độ thấp (24 mg/1) trong nước sẽ gây nên sự thay đổi sinh lý ngược của cá, và nếu cùng nồng độ
đó trong không khí sẽ làm chim chết DDT rất dễ dịch chuyển trong nước DDT khi vào cơ thể sẽ tích tụ thành các khối u ác tính DDT thường tích tụ trong nước, đất, không khí, sau
đó chuyển về biển cả và được các thuỷ sinh vật hấp thụ, gây ô nhiễm tới thực phẩm
Khuynh hướng sản xuất thuốc trừ sâu hiện nay là chiết xuất những chất từ thảo mộc
có tác dung diệt sâu nhưng không làm phương hại đến môi trường đất hoặc sản xuất thuốc trừ sâu bằng sử dụng những hợp chất phân huỷ nhanh, rút ngắn tối thiểu thời gian tiếp xúc với đất
- Nhiệt độ trong đất tăng làm giảm hàm lượng ôxy, mất cân bằng ôxy trong nước, đất
và quá trình phân huỷ các chất hữu cơ sẽ tiến triển theo kiểu kị khí tạo ra nhiều sản phẩm trung gian độc cho cây trồng như NH3, H2S và andehyt, nhiệt độ làm chết cây trồng Nguồn gây ỏ nhiễm nhiệt là do sự thải bỏ nước làm mát các thiết bị của nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện nguyên tử,
Trang 11ci) ô nhiễm đất do các cluít phóng xạ
Nguồn ô nhiễm đất bởi các chất phóng xạ là những phế thải của các trung tâm khai thác các chất phóng xạ, trung tâm nghiên cứu nguyên tử, các nhà máy nhiệt điện nguyên
tử, các bệnh viện dùng chất phóng xạ và những vụ thử vũ khí hạt nhân Các chất phóng
xạ thâm nhập vào đất và theo chư trình dinh dưỡng tới cây trồng, động vật và con người Người ta thấy rằng, sau những vụ nổ thử vũ khí hạt nhân, những vùng cách xa trung tâm thử thì chất phóng xạ trong đất cũng tăng lên 10 lần Sau các vụ nổ nguyên tử, trong đất thường tồn lưu 3 chất phóng xạ, chủ yếu là s,90, I m , c j 17 Các chất này theo chu trình dinh dưỡng sẽ thâm nhập vào người làm thay đổi cấu trúc tế bào, gày ra những bệnh về
di truyền, bệnh về máu, ung thư,
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Tràn (1981) và Lê Xuân Khoa, Nguyễn Xuân
Cự (1991) cho biết một số nguồn nước ở Hà Nội và đất ở khu vực nhà máy Nhiệt điện Phả Lại có hoạt động phóng xạ p nhưng thấp hon so với ngưỡng qui định
e) 0 nhiễm đất do các chất khác
Các chất vô cơ kích thước lớn như các phế thải là vật liệu xây dựng, phế thái là sắt thép hoặc các chất thải là nhựa tổng hợp, polietilen là loại bền vững trong đất Chúng rất khó bị phân huỷ và khi thải bỏ vào trong đất, chúng sẽ ngăn cản sự phát triển của thảm thực vật, làm thay đổi cấu trúc của đất và địa hình Vì thế, người ta thường tận dựng các loại phế thải này trong việc san nền hoặc tái sử dụng
g) Tiêu chuẩn đánh giá đất bị ô nhiễm
Theo phân tích hoá học
- Dựa vào nồng độ của các hợp chất Nitơ sinh ra trong quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ chứa đạm, người ta có thê đánh giá độ nhiễm bẩn của đất:
- Nhiểu NH3: Đất mới bị ô nhiễm
- Nhiều NO-T: Đất đang bị ỏ nhiễm
- Nhiều N 0 3“: Đất đã có mức độ khoáng hoá cao
Dựa vào hàm lượng clo:
ít muối clo: Đất sạch
• Nhiều muối clo: Đất bẩn
• Không có clo: Đất tự làm sạch
Đất tự làm sạch trong vòng 1- 2 năm với tốc độ rất nhanh
Dựa vào các c h ỉ sô vệ sinh (CSVS)
Nitơ Anbumin của đất
csv s = -
1—— -Nitơ hữu cơKhi đất bị nhiễm bẩn thì vi sinh vật hoạt động yếu, Nitơ hữu cơ tăng lên và chi số vệsinh giảm Người ta qui định tình trạng ô nhiễm của đất tương đương với c s v s như sau:
Trang 12thành p h ố và nông thôn < 2,5 triệu tế bào V S V /lg đất > 2,5 triệu tế b à o V S V / lg đấtĐất ở nơi khác < 2,5 triệu tế bàoV S V /lg đất > 2,5 triệu tế b à o V S V / lg đất
Dựa vào s ố liệu Irứnq ẹiun
- 1 0 0 trứng giun/lkg đất: đất sạch
- 100 - 300 trứng giun/lkg đất: đất hơi bán
- > 300 trứng giun/lkg đất: đất rất bẩn
Dựa vào hàm lượng kim loại nặng trong clấi
Chất lượng của đất cũng dược đánh giá bằng hàm lượng kim loại nặng trong đất
Tiêu chuẩn đánh giá là TCVN 7209 - 2002: Chất lượng đất - Giới hạn tối đa cho phốp của kim loại nặng trong đất (Phụ lục v l )
Dư lượng hóa chất bao vệ thực vậi intHịỉ (lất.
Chất lượng cùa đất cũng dược đánh giá bằng dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất Tiêu chuẩn đánh giá là QCVN 04:2008/BTNMT Chất lượng đất - Giới hạn tối đa cho phép dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất
5.2 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẤT
5.2.1 Định hướng chiến lược
Sử dụng đất hợp lý là một yếu tố quan trọng trong việc họp thành chiến lược bảo vệ môi trường đất và phát triển bền vững
Những định hướng trong khai thác, sử dụng đất của Nhà nước Việt Nam đến năm 2010:
Cơ bản phủ xanh đất trống đổi núi trọc, phục hồi độ phì nhiêu của đất và cân bằng sinh thái phát triển bền vững
Trang 13Sử dụng tiềm năng đất trống đồi núi trọc ở miền núi, trung du, bãi bồi ven biển và mặt nước chưa ổn định nhằm tăng thêm sản phẩm hàng hoá và nguyên liệu cho công nghiệp.Hoàn thành cơ bản công tác định canh định cư, cải thiện và nâng cao đòi sống vật chất, tinh thần của đồng bào vùng kinh tế mới, đồng bào các dân tộc, góp phần tích luỹ cho Nhà nước và củng cố được an ninh quốc phòng.
5.2.2 Chống xói mòn đát
Từ xói mòn (erosion) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “erosio” nghĩa là cào mòn “to gnaw away” Xói mòn đất được định nghĩa như là mang đi khỏi lớp đất mặt do nhiều tác động khác nhau như là nước mưa, dòng nước chảy, gió, tuyết hoặc các tác nhân địa chất khác, bao gồm các quá trình sạt lở do trọng lực (Rattan Lal 1990)
ở Việt Nam, trên những vùng đất trống, lượng đất bị xói mòn rất lớn, đạt tới 100 -
2 0 tấn/ha/năm
Những nguyên nhân chính gây xói mòn đất
- Lượng mưa và cường độ mưa.
Những biện pháp píìòniị chống xói mòn đất
Các nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới đã đi đến kết luận: Không có bất kỳ một biện pháp đơn lẻ nào có khả năng chống được xói mòn đất, mà thông thường luỳ llieo điều kiện cụ thể của từng vùng mà phải chọn và xếp đặt một hệ thống các biện pháp thích hợp
Về nguyên lý, Ellison (1944) đã xác định tác nhân gây xói mòn mạnh mẽ nhất là xung lực hạt mưa đập vào mặt đất Ông chia quá trình này thành 3 pha:
- Pha 1: Tách các hạt đất ra khỏi khối đất
- Pha 2: Di chuyển các phần tử bị tách ra đi nơi khác
- Pha 3: Lắng đọng chúng ở một nơi khác
Nếu hạn chế được pha 1, sẽ không xảy ra pha 2 và pha 3 Do đó, các hệ thống biệnpháp thuộc nhóm 1 là nhóm tăng cường che phủ mặt đất trở nên quan trọng nhất Bớivậy, việc bố trí một cơ cấu cây trồng đa dạng theo kiểu nông - lâm kết hợp, tạo ra lán che nhiều tầng nhiều lớp sẽ hạn chế xung lực đáng kể của hạt mưa Các biện pháp khác như công trình đồng ruộng (field engineering) như: ruộng bậc thang, kiến thiết đổi nương, đào mương giữa dốc, hồ vẩy cá , làm đất và gieo trồng theo đường đồng mức, hoặc trồng các hàng cây ngang dốc để cắt dòng chảy.v.v đều có tác dụng phân tán, làm giảm cường độ dòng chảy cua bùn cát, hạn chế xói mòn đất
Trang 14Nguyên lý chung để kiểm soát xói mòn đất được minh hoạ như sơ đổ sau:
G iảm tốc độ
xung lực của mưa
Tăng sức írns chịu cíia đít
G iảm dòng chảy lỏng
Cái thiện cáu trúc đất và tính bền vững càu trúc đất
Tăng mức độ
gổ ghề
Tăng sức
ch ố n g đỡ đối với dòng chảy
Giám tốc độ dòng chảy
Từ sơ đồ trên, nhận thấy tồn tại 3 hệ thống chống xói mòn:
- Hệ thống các biện pháp tãna cường che phu mặt đất thông qua việc quản lý đất và thiết lập, quản lý hệ thống cây trồng
- Hệ thống các biện pháp ngăn chận, cắt ngắn, phân tán và làm giảm lưu lượng của dòng cháy lỏng
- Hệ thống các biện pháp tăng cường khá nàng ứng chịu xói mòn của đất
Phòng chống xói mòn có thể trên phạm vi toàn lãnh thố, cũng có thể trên phạm vi khu vục
khí, hạn chê và khác phục hậu quả mưa axit
Vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí đã được trình bày trong chương 3
“ Bảo vệ môi trường không khí” Tuy nhièn, lưu ý rằng đế hạn chế mưa axit phải tìm cách loại bỏ hai chất khí chính gây mưa axit là NOx và S 0 2 Một số định hướng cụ thểnhư sau:
Quá trình lọc rửa được thực hiện qua 4 bước, cụ thể như sau:
1) - Cho NO-, tác dung với một chát khử:
NO, + SO_r+ H20 ► H2S 04 + NO2) NO và N 02 phản ứng với nhau rồi đi qua ống lọc chứa đầy H2S 0 4:
N20 , + 211.SO; ► 2NOI ISO; + 2H;0 + 1/20,
Trang 153) Ôxy hoá N 0 H S 04 để thu hồi H2S 04 vào ống lọc đế thực hiện tiếp chu trình:
2 N 0 H S 04 + 1/20, + H20 ► 2H;S 04 + 2NO,4) Cho N 02 lội qua nước để tạo thành HNO, trong buồng phản ứng:
Để loại bỏ S(X người ta có thể dùng một trong các biện pháp sau đây:
Loại bỏ lưu huỳnh vô cơ khỏi nguyên liệu trước khi đốt
Cho khí thải có chứa khí S 02 đi qua dung dịch nước vôi trong Biện pháp này rất đơn giản và rẻ tiền mà hiệu suất cũng tương đối cao
Đối với hợp chất lưu huỳnh hữu cơ trong than đá nếu không xử lý được thì áp dụng biện pháp tách và thu hồi axit trong quá trình đốt than Biện pháp này có thê giảm một
tỷ lệ đáng kể khí S 02 trong khí thải
Dùng nguồn nhiên liệu chứa ít hoặc không có lưu huỳnh
5.2.4 Báo vệ môi trường đất bàng cách xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp
Vấn đề xử lý nước thải đã được trình bày trong chương 4 “Bảo vệ mỏi trường nước”.Mục đích là phòng ngừa nguồn nhiễm bẩn đất từ nước bề mặt và nước ngầm Muốn vậy, cần gạn lắng các chất lắng đọng, áp dụng các biện pháp phân hủy chúng, sau dó sử dụng các phương pháp hoá học, sinh học để kết tủa , làm giảm các chất hoà tan và phàn huỷ hữu cơ trước khi thải ra đất
5.2.5 Bảo vệ môi trường đất bằng cách thu gom và xử lý chất thài
Đối với chất thải lỏng
Phải thực hiện đầy đủ 3 giai đoạn xử lý: xử lý sơ bộ, xử lý tập trung và xử lý triệt để
Đối với chất thải rắn
Cần thu gom và xử lý triệt để chất thải rắn Quản ]ý chất thải rắn là một quá trình tổng hợp, bao gồm thu gom, vận chuyển, tập trung và xử lý chế biến rác và phế thải rắn Việc xử lý chất thải rắn là rất cần thiết trong chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường đất
Xử lý cliấl thủi rắn sinh hoạt: Hiện nay người ta thường dùng các biện pháp sinh học:
ủ hiếu khí Irong nhà máy, ủ hiếu khí tại bãi tập trung rác Ouá trình xử lý rác thải bằng biện pháp ủ sinh học phải được thực hiện đầy đủ qua 8 công đoạn sau:
- Công đoạn phân loại
- Công đoạn đảo trộn
Trang 16- Công đoạn ủ compost (công đoan này kéo dài khoảng 21-25 ngày trong điều kiện ủ háo khí ở nhiệt độ từ 45-72°C).
thép đặt sâu dưới đất, không được thấm nước, ở độ sâu từ 10 -12m Chất có chứa đồng vị
phóng xạ, được qui định ở các nước phát triển, được “cất” trong thùng có vỏ chống
phóng xạ, và được chôn lấp dưới các đáy đại dương ở độ sâu từ 500-1.00m, so với đáy
đại dương
Xử lý các phế thải rắn công nghiệp:
Các phế thải rắn sinh ra trong quá trình sán xuất công nghiệp có thể được sử dụng lại làm nguyên liệu thứ cấp cho quá trình sán xuất hoặc ờ một quá trình khác Các phế thải không sử dụng được, tuỳ vào mức độ Rây ô nhiễm và cấp độc hại đối với môi trường và con người, có thể xử lý theo các phương pháp qui định của Nhà nước và thế giới
mục đích nông - lám nghiệp
Ọuàn lý dịch hại tổng hợp (IPM-lntergreted Pest Management) là dùng biện pháp tổng hợp đê’ phòng trừ dịch hại Đây là một hiện pháp dê bảo vệ môi trường nói chung
và môi trường đất nói riêng Các biện pháp cu thế là:
- Cấy, trồng đúng thời vụ Cấy trồng dứng thời vụ là biện pháp phòng trừ sầu bệnh chủ động Cấy trồng đúng thời vụ còn tạo điều kiện cho thời kỳ quyết định năng suất, không trùng với thời kỳ sâu bệnh phát triển mạnh
- Chọn giống có khả năng chống sâu bệnh
- Vệ sinh đồng ruộng tốt Diệt trừ mọi mầm môYig sâu bệnh sau mỗi vụ thu hoạch
- Không phun thuốc hoá học định kỳ Chỉ phun thuốc theo kết quả điều tra khi đạt tới ngưỡng cần thiết phải phun
- Phun đứng liều lượng Tôn trọng thời gian cách ly
- Chọn loại thuốc ít độc hại cho người và gia súc
- Tuyệt đối tuân theo các quy định về bảo quản và sử dụng thuốc
Trang 17Ở Việt Nam vấn đề ô nhiễm đất chưa có những biêu hiện rõ rệt, tuy nhiên theo từng tác nhân, từng nơi, từng chỗ đã bộc lộ rõ rệt hiện tượng ô nhiễm, gây không ít tác hại cho sản xuất và đời sống Bởi vậy, vấn đề ô nhiễm đất ngay bây giờ cũng cần phải đặt ra
và có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu trong tương lai, vì ỏ nhiễm đất sẽ gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm động và thực vật và trực tiếp đến sức khoẻ con người
5.3 NGUỔN GỐC TÁC NHÂN GÂY Ô NHlẾM m ô i t r ư ờ n g v à p h á h ủ yCẢNH QUAN
5.3.1 Khái niệm về "môi trường cảnh quan"
Môi trường đất và cảnh quan là một bộ phận của môi trường sinh thái Hạn chế những ảnh hưởng của các hoạt động xây dựng làm ô nhiễm môi trường đất và cảnh quan cũng chính là góp phần vào một nền kiến trúc-xây dựng theo phương hướng sinh thái và phát triển bền vững
Những hoạt động về kiến trúc và xây dựng đã ảnh hưởng nhiều đến môi trường sinh thái và phát triển bển vững trong đó có môi trường đất và cánh quan Hiện nay quá trình
đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới và ở nước ta, nhiệm vu của một nền kiến trúc xây dựng trong thời gian tới cần thực hành theo hướng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Phát triển bền vững bao gồm những nội dung khác nhau và chúng thường có liên quan mật thiết với nhau Đó là:
- Kiến trúc, xây dựng theo phương hướng sinh thái: Đó là hướng thiết kế, xây dựng bảo đảm được sự phát triển bền vững và đa dạng sinh học của các đô thị, đem lại một môi trường trong sạch, vệ sinh, trong đó con người và mọi dạng sinh học được phát triển cân đối, hài hoà, tốt đẹp, không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai
- Kiến trúc sinh khí hậu hay còn gọi là kiến trúc thích ứng với khí hậu, tận dụng những yếu tố có lợi về khí hậu, tránh ảnh hường bất lợi của nó đế tạo lập được một môi trường sống tốt phục vụ cho con người
- Kiến trúc, xây dựng tiết kiệm năng lượng bao gồm tài nguyên thiên nhiên và năng lượng nhân tạo, sử dụng năng lượng tái tạo, giảm các chất ỏ nhiễm thải vào môi trường,
từ lúc công trình xây dựng, trong suốt quá trình vận hành, cho đến khi phá dỡ
- Kiến trúc bảo vệ sức khoẻ đảm bảo những điều kiện tốt về mặt nhiệt độ, độ ẩm, khói và bụi, chống tiếng ồn
- Kiến trúc bảo vệ cành quan và môi trường Vấn đề quan trọng nhất trong xây dựng
là đảm bảo mật độ xây dựng hợp lý, thiết kế cày xanh, đưa cây xanh lên các tường nhà, mái nhà, vào mỗi tầng nhà, mỗi phòng làm việc và phòng ở Nó còn là sự hài hoà và gắn
bó của công trình vào cảnh quan tự nhiên cảnh quan nhân tạo, tạo lập một môi trường sống nhân văn vì cuộc sống của con người
Trang 18Cảnh quan (lanclscape): có nhiều cách hiếu khác nhau dưới các góc độ khác nhau
- Theo các nhà địa lý: cảnh quan là mót bộ phận của bề mặt trái đất, có những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, thuỷ van, đất đai, động thực vật
- Theo các nhà kiến trúc xây dựng: cánh quan là tổ hợp của nhiểu phong cánh khác nhau, chúng tạo nên một biểu tượng thống nhất về cánh chung của địa phương, một khu vực
H ì n h 5.1: C à n h q uan qiiáììg trưởng Sa/Ì M arco của ílìànlì pliô V ơ n iie nước Ỷ
Phong cảnh ịpaysage): phong cánh là hình ảnh của một khu vực nhất định mà chúng
ta nhìn thấy Nó có thế là cánh tượng về núi sông, hoa cỏ, cây cối, công trình xây dựng hoặc những hiện tượng tự nhiên (mưa, tuyết )
Hình 5.2: Thác nước tại Qỉiebec, Canada
Trang 19Hỉnh 5.3: Hình ảnh nông thôn Trung Quốc
Cảnh quan và phong cảnh giống nhau ở chỗ chúng đều là những hình ảnh, những
“thông tin”, “ký hiệu” được con người cảm thụ và chúng tạo cho con người những cám xúc khác nhau
Cảnh quan khác với phong cảnh ở chỗ: v ề mặt không gian, cảnh quan lớn hơn phong cảnh, về mặt ý nghĩa cảnh quan chứa đựng nội dung rộng lớn hơn phong cảnh:
- Phong cánh thể hiện nhiều về cảnh sắc của tự nhiên còn con người, sinh vật chỉ là những điểm xuyết trong khung cảnh thiên nhiên đó làm nâng cao giá trị của phong cảnh
- Cảnh quan chính là môi trường sống của con người bao gồm môi trường cảnh quan
tự nhiên và môi trường cảnh quan nhân tạo Nó chứa đựng chất lượng về mặt sử dụng, chất lirợne về môi trường và chất lượng về mặt thẩm mỹ [1 0 ]
Môi trường cảnh quan tự nhiên bao gồm:
- Địa hình: mặt đất, đồng ruộng, đồi núi
- Không gian: gồm bầu trời và khoảng trống giữa những yếu tố của tự nhiên
- Mặt nước: biển, sông, ao, hồ, kênh, rạch
- Sinh vật: con người và động thực vật (chim thú, cây xanh, thảm thực vật )
Môi trường cảnh quan nhân tạo bao gồm các công trình kiến trúc như các thành phố, làng mạc, nhà cửa, các công trình đỏ thị như cầu cống, đường xá chúng được gọi là
“thiên nhiên thứ 2 ” của loài người
Trong khái niệm về cảnh quan không có vị trí chính và phụ giữa cảnh quan tự nhiên
và môi trường nhân tạo ở một số trường hợp, yếu tố này được nhấn mạnh hơn so với những yếu tố kia và ngược lại Kiến trúc cảnh quan là một nghệ thuật kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân tạo
Trang 205.3.2 Nguồn gốc và tác nhân gây ỏ nhiẻm mòi trường cảnh quan
Những tác nhân tạo nên sự thay đổi mói trường đất và cánh quan rất khác nhau baogồtn tác động của môi trường tự nhiên và tác động của con người
Những tác động của tự nhiên làm thay đối cấu lạo các lớp địa tầng của vỏ trái đất đểhình thành núi sông hồ và biển cả, làm thay đổi những sinh vật trên bề mặt trái đất kể cả
sự xuất hiện của xã hội loài người Những tác động của con người làm thay đổi quá trình tiến hoá của tự nhiên Những tác động của con người vào môi trường tự nhiên nói chung trong quá trình đấu tranh sinh tồn dã ánh hưởng không nhỏ đến môi trường đất và cảnh quan Cả 2 tác động ấy luôn có chiều hướng tích cực và tiêu cực mà những tác động tiêu cực đó đã làm ỏ nhiễm môi tnrờng đất và cảnh quan
v ể tác nhân gây ô nhiễm môi trường cảnh quan:
- Môi trường tự nhiên có thể biến những cánh rừng, đồng ruộng phì nhiêu thành những sa mạc khô cằn, biến những công trình kiến trúc trở thành những phế tích Chúng làm thay đổi bộ mặt của thiên nhiên, làm phá huỷ công trình kiến trúc, thay đổi bộ mặt của đô thị
- Tác động của con người có vai trò chính, ảnh hưởng, làm thay đổi môi trường cảnh quan Trong quá trình tổn tại và phát triển, con người đã tận dụng và khai thác tự nhiên
để phục vụ cho cuộc sống của mình song cũng chính những hoạt động đó của con người cũng làm thay đổi môi trường cánh quan Sự khai thác các nguồn năng lượng trong lòng đất, việc phá rừng, việc khai thác đất dai một cách không hợp lý trong sản xuất nông nghiệp làm thay đổi cơ cấu và thành phần của đất Các hoạt động công nghiệp đã sản sinh các nguồn phế thái khác nhau Con niurời khi sử dụng những sản phẩm sạch của tự nhiên và những sản phẩm nhân tạo như nước, không khí, thức ăn đồ dùng sinh hoạt qua sử dụng chúng biến thành chất thai vào lon2 đất như chất thải rắn, chất thài nước Con người với những cuộc chiến tranh huỷ diệt băn tí bom đạn và những chất độc đã làm thay đối môi trường cảnh quan Mộl trong những hoại dộng của con người đã ảnh hưởng lớn đến mỏi trường đất và cảnh quan chính là công việc xây dựng Nó đã ảnh hưởng trực tiếp đến núi, sông, hồ ao, cây xanh, thảm thực vật
Thế kỷ 20 là thế kỷ của tăng trưởng và phát triển song cũng là thế kỷ ghi dấu sự tàn phá lớn của con người đối với môi tnrờng tự nhiên nói chung trong đó có môi trường cảnh quan và vì thế thế kỷ 2 1 là thế kỷ mà người ta phải nghĩ đến sự dung hoà giữa tăng trưởng, phát triển với bảo vệ mòi trường sinh thái và phát triển bền vững
5.3.3 Các tác động cua các hoạt động xây dựng cơ bản đối với mỏi trường
cản h quan
Đô thị hoá là sử dụng đất đai, đổng cỏ, rừng cây, ao hồ, đồi núi thành các công trình xây dựng, là đuổi đi hoặc tiêu diệt các sinh vật hữu sinh khác và thay thế bằng con người với mật độ cao Hệ sinh thái khu vực bị biến đổi nghiêm trọng Xây dựng những ngòi
Trang 21nhà, những hệ thống hạ tầng kỹ thuật như đường xá, quảng trường đã chiếm mất những khoảng xanh của tự nhiên và thay vào đó là những khối bê tông, những khối tường gạch Chúng làm ô nhiễm đến môi trường, làm thay đổi cảnh quan của khu vực.
Hình s ố 5 4 : H ình ánh thành p h ố N ew York
Sự bùng nố dàn số đô thị tại các nước đang phát triển do làn sóng di dân từ các vùng nông thôn - một quá trình đỏ thị hoá một cách giả tạo đã đưa đến sự hình thành các đô thị cực lớn đến hàng chục triệu dân và phát triển không kiểm soát được là một trong những vấn đề lớn mà thế giới ngày nay phải đối đầu Ánh hưởng của vấn đề này đối với môi trường trong đó có môi trường đất và cánh quan là cực kỳ lớn
5.3.4 Ánh hưởng của hoạt động xây dựng với môi trường cảnh quan
Về mặt môi trường cảnh quan, một công trình xây dựng có thể hoà nhập vào cảnh quan tự nhiên và một công trình xây dựng cũng có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên của khu vực Điều đó phụ thuộc vào kích thước độ lớn của hình khối, đặc điểm mặt đứng kiến trúc, vào những thủ pháp trong tổ hợp kiến trúc như tỷ lệ, tỷ xích, vào đặc điểm của vật liệu, kê cả những thủ pháp tạo ảo giác quang học như bằng màu sắc, chất cảm Mỗi
vị trí xây dựng đòi hỏi quy mô, hình thức và phong cách kiến trúc khác nhau
Sự liài lỉoà với cảnli quan lự nhiên
Con người phương đông với thuyết tam tài với sự đại hoà điệu của “thiên-địa-nhân”
và thuật “phong thuỷ” đã ảnh lurởng sâu sắc đến tố chức không gian kiến trúc của người Việt Nam Trời-đất-người là gốc của muôn vật mà ngày nay người ta gọi là gốc của hệ sinh thái - phát triển Thuật “phong thuỷ” đã đê lại sự gắn kết của công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên
Khung cảnh của khu vực sân đình với công trình kiến trúc có mái cong nặng nhưng bay bổng, hài hoà với những cây cổ thụ, tương phản với những cây câu và tạo được một
Trang 22không gian sử dụng ấm cúng cho con người trong những ngày hội là một sự hài hoà của các yếu tố “thiên-địa-nhân”.
Ngôi nhà ở dân gian truyền thống giản dị, đúc kết những kinh nghiệm dân gian truyền thống là một thí dụ tiêu biểu Bằng giải pháp tổ hợp không gian hình khối, bằng việc sử dụng vật liệu, màu sắc đã thê hiện một sự hoà quyện vào thiên nhiên, cùng với cây xanh với những cây cau, hàng tre, bụi duối, giàn trầu không, với vườn cây ao cá đã tạo được bức tranh phong cảnh rất hài hoà của làng quê Việt Nam
Ngôi nhà sàn của đồng bào các dân tộc với vật liệu tự nhiên của gỗ, tre, mái tranh cùng với màu sắc giản dị của chúng rất ăn nhập và tó điểm cho cảnh quan miền núi
Sự đối lập với cảnh quan tự nhiên
Ngược lại với loại hình kiến trúc hài hoà, gắn bó với tự nhiên là một thể loại xây dựng đối lập với tự nhiên và tạo ra những hình ảnh về một cảnh quan hoành tráng Đó là hình ảnh của các công trình tôn giáo của các lăng mộ, đền đài trong kiến trúc cổ của Ai Cập Cổ đại Các công trình tôn giáo này đã thành công trong việc tạo hiệu quả hùng vĩ
và áp chế đối với con người trên nền môi trường thiên nhiên riêng của Ai Cập: các khối kiến trúc sừng sững cạnh các đồi núi trọc và bãi cát mênh mông, gây ấn tượng về một sự hùng vỹ, kỳ bí
Hình 5.5: Kim tự tháp Ai Cập
Nhà cao tầng luôn là đề tài được quan tâm trong quá trình phát triển của lịch sử Trước kia hình ảnh của các tháp canh, những lâu đài thời trung cổ là biểu tượng của quyền lực về chính trị Chúng chiếm lĩnh không gian của một vùng thì ngày nay nhà chọc trời vươn lên trời cao ở nhiều thành phố trên thế giới đặc biệt ở Mỹ, ở Hồng Kông, Singapor Chúng gây những ấn tượng mạnh trong không gian, thể hiện quyền lực thống trị về kinh tế, là biểu tượng của các tập đoàn, là hình ảnh quảng cáo của các hãng
Nhà cao tầng tạo cảm giác chế ngự không gian, làm thay đổi cảnh quan, về mặt cảm giác nó làm “hẹp”không gian xung quanh Nếu như xung quanh hồ Hoàn Kiếm cũng
Trang 23được bao bọc bởi những nhà chọc trời thì tUụv
hình ảnh của hổ sẽ bị thu nhỏ lại Hình
ảnh của các nhà chọc trời ở khu vực 1»
Mahatan ở New York với những khối
công trình xây dựng theo chiều đứng đã
cho những cảm nhận hoàn toàn khác về
cảnh quan đô thị Hình ảnh đó cũng được
Một công trình xây dựng không chỉ
biểu hiện sự hài hoà của nó với cảnh
quan tự nhiên mà còn cần hài hoà với
mỏi trường cảnh quan của khu vưc bao , _
gồm cảnh quan tự nhiên, cảnh quan nhân
tạo và cảnh quan hoạt động của sinh vật và con người
Trong cải tạo những công trình cổ, việc xây dụng những công trình mới ăn nhập với cảnh quan của khu vực là một việc làm cần được hết sức chú ý Một thí dụ tiêu biểu vể
sự thành công nằy là hình ảnh của Pyramit bằng kính trong bảo tàng Luvơre ở Paris Ớ
Hà Nội, hình ảnh của khách sạn Soíitel ở gần Nhà Hát Lớn cũng rất ăn nhập với cảnh quan của khu vực
H ì n h 5.7: Khách sạn So/itel
Trang 24Hình ảnh của khu phố cổ Hà Nội cĩ những nhà ống với kích thước nhỏ bé, mỗi nhà nhơ ra thụt vào khác nhau, mỗi nhà cĩ chiều cao khác nhau Chính cái dáng vẻ ây của những ngơi nhà cùng với những mái ngĩi lơ xơ cao thấp đã cho phố cổ một tỷ xích rất nhỏ bé, tạo cảm giác ấm cúng, gần gũi với con người.
Sự phá vỡ mơi trường cảnh quan của khu vực
Hình 5.8: Hình ảnh hài hó của khu pliố cổ nhìn từ trên cao xuống
Trong thời gian qua, đặc biệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, với sự quản
lý yếu kém, hình ảnh của khu phố cổ đang mất dấn bởi những cơng trình mới xây dựng Những cơng trình mới này cĩ kích thước hình khối với cách phân vị lớn tạo một tỷ xích quá lớn đã khơng hài hồ vào khung cảnh chung Cũng tương tự như sự xuất hiện những ngơi nhà “mini cao tầng” như những “quan tài” dựng ngược đã khơng ăn nhập với khơng gian của những khu phố cũ, khu phố được xây thời kỳ thuộc địa vốn cĩ tỷ lệ cũng rất ấm cúng hài hồ giữa con người, cây xanh, cơng trình kiến trúc
Trong nhiều trường hợp, nhà cao tầng của thủ đơ Hà Nội và của các thành phố lớn cũng đã khơng ăn nhập với mơi trường cảnh quan xung quanh
5.4 CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MƠI TRƯỜNG CẢNH QUAN
Mơi trường đất và cảnh quan là một bộ phận của mỏi trường sinh thái Bảo vệ mơi trường cảnh quan cũng chính là bảo vệ inơi trường sinh thái và phát triển bền vững
Mơi trường cảnh quan mà con người đang sống là một mơi trường nhân văn, một mồi trường vì cuộc sống của con người và phải là mơi trường như đã được thê hiện trong thuyết “thiên-địa-nhân” Mơi trường cảnh quan ấy phải trên cơ sở tạo được sự hài hồ của mơi trường tự nhiên, mơi trường nhân tạo (cơng trình kiến trúc) và sự hoạt động của con người và sinh vật
Trang 25Sự hài hoà ấy chính là sự gắn kết và phát triển của các yếu tố đó trên cơ sở của một hệ sinh thái và một sự phát triển bền vững bởi vì những tác động của con người vào môi trường tự nhiên trong đó có hoạt động xây dựng và sự tồn tại của họ làm thay đổi cảnh quan của tự nhiên và nhiệm vụ của ngành xây dựng chính là làm thay đổi ít nhất cảnh quan tự nhiên.
Những giải pháp cơ bản được đặt ra là:
1) v ể quy mô xây dựng
- Sự phát triển những thành phố khổng lồ cần được thay thế bằng sự phát triển đồng đều của mạng lưới các hệ thống đô thị nhỏ, phù hợp với tiềm năng của thiên nhiên và tạo lập được sự hài hoà của những yếu tố kể trên
- Mật độ xây dựng và hệ số sử dựng đất là những vấn để cần được hết sức quan tâm Mật độ xây dựng cao sẽ ảnh hưởng nhiều đến môi trường cảnh quan của khu vực và dễ dàng phá vỡ môi liên hệ này
2 ) Về mặt vi khí hậu và đặc biệt về mật cảnh quan đô thị, việc sử dụng cây xanh có nhiều ưu điểm Một nguyên tắc xuyên suốt của Kiến trúc môi trường là những gì kiến trúc lấy mất của thiên nhiên, phải cố gắng bằng mọi biện pháp trả lại nhiều nhất cho thiên nhiên
Ken Yeang một kiến trúc sư của
Malayxia đã đề xuất “Cảnh quan theo chiều
đứng” trong nhà cao tầng và chọc trời, và
giải pháp “Nông nghiệp đồ thị” bằng cách sử
dụng sân vườn trên mái và “vườn không
trung” trong nhà chọc trời để trồng rau xanh
ị 3], thiết kế cây xanh theo chiều đứng, đưa
cây xanh lên các tưcmg nhà, mái nhà, vào
mỗi tầng nhà, mỗi phòng làm việc và phòng
ở Ý nghĩa về mặt kinh tế tuy ít, nhưng giá
trị về cải thiện vi khí hậu, nâng cao chất
lượng môi trường không khí lại rất cao,
ngoài tác dụng tốt về tâm lý, thẩm mỹ, cảnh
quan, nó còn là lá phổi tự nhiên, không thể
thiếu trong cuộc sống của con người Iiình 5.9: Nhà tháp Tokyo - Nara,
vườn tròi (gardens in the sky) có lẽ là
giải pháp thích hợp nhất cho nhà cao tầng,
bởi các bồn cây, máng hoa trên ban công là chưa đủ Vườn trời là một không gian nửakín, nửa hở, không cần đóng kín ở bên trên, có thể nối kết với hiên, sân trước, sân sau,hành lang, sử dụng như một không gian chuyển tiếp, có khả năng hút gió vào bên trongcông trình Vườn trời cũng có đóng góp giá trị vào thẩm mỹ kiến trúc thành phố khi đưa
Trang 26vào cảnh quan theo chiều đứng (vertical landscaping) Nhà tháp Tokyo - Nara ở Nhật Bản (xem hình 5.9) là một ví dụ sinh đông.
Trên hình 5.10 là nhà 15 tầng với hiên cây xanh ở Fukuoka, Nhật Bản của KTS Emilio Ambasz
Sử dụng cây xanh, cây leo, kết cấu còn để che nắng và tạo bóng cho vỏ nhà Hiệu quả của chúng khi đó không chỉ về mặt nhiệt và khí hậu Sự lồi lõm, khòng bằng phẳng của mặt nhà, sự có mặt của các hốc tường, hiên, ban công, cây xanh, vườn trời đều có tác dung giảm bớt trực xạ của mặt trời truyền vào nhà Trên hình 5.11 giới thiệu một “nhà ờ sinh thái” tại trưng tâm Berlin
Hình 5.11: Nhà ở s in li thúi tụi tnm q tủm B e rlin (H e n ric h B a lle r )
Mái của nhà cao tầng, ngoài việc sử dụng để bố trí các thiết bị kỹ thuật cần thiết cho toà nhà, nên sử dụng mái để trồng hoa, thảm cỏ, và cho cả “nông nghiệp đô thị”, bởi vì nhiều loại rau cỏ chỉ cần một lớp đất dày khoảng 20 - 30 cin để sinh trưởng Khi đó, có
Trang 27thể giải quyết đồng thời tốt cả cách nhiệt và chống thấm cho mái, tuy rằng trong nhà cao tầng cách nhiệt cho tường đáng quan tâm hơn Một lớp đất dày 90 cm có thể trồng cây cao 5 m.
Ken Yeang đã tổng kết thành mười lợi ích của việc tạo cảnh quan theo chiều đứng như sau:
1/ Nhà cao tầng như một khối vật chất vô cơ tập trung với mật độ cao được thay thế bởi vật liệu hữu cơ, làm tăng khả năng sinh thái của khu vực xây dựng
2/ Giá trị sinh thái của việc gia tăng số lượng thực vật, cây trồng trong nhà cao tầng ở chỗ làm tăng tính đa dạng sinh học, tạo ra sự bền vững sinh thái cho khu vực
3/ Việc sử dụng cây cảnh, thực vật không những đem lại giá trị thẩm mỹ cho người sử dụng, mà còn có tác động tốt tới tinh thần và hiệu suất công việc của họ
4/ Sử dụng cây xanh trên các bề mặt công trình đã nâng cao tính thẩm mỹ nhà cao tầng, biến chúng thành những cây có tán lá
5/ Trồng cây xanh, bên cạnh việc che nắng cho không gian bên trong và tường ngoài, còn giảm thiểu phản xạ nhiệt và chói loá, nhờ đó tạo được vi khí hậu phù hợp cho bề mặt công trình
6 / Quá trình bốc hơi của cây xanh cũng giống như thiết bị làm mát, có hiệu quả trên
bể mặt công trình
7/ Cây xanh hấp thụ cacbon dioxit và cacbon monoxit (đặc biệt từ khí thải của các phương tiện giao thông bên ngoài) và cung cấp oxy nhờ sự quang hợp, có lợi cho sức khoẻ và làm mát môi trường vi khí hậu xung quanh công trình
8 / Thực vật cũng có vai trò màn chắn tầm nhìn và khuếch tán tiếng ồn, đặc biệt khi
có sân trời sẽ làm giảm tiếng ồn và khói, mùi của những tầng bên dưới
9/ Cây xanh cũng có thể góp phần làm mềm mại những bề mặt kiến trúc thô cứng và đem lại ngôn ngữ cho những bề mặt không có giá trị biểu hiện
10/ Cây xanh có thể cản và lái gió (giống như những tấm rèm phụ) trong sân trời
Trang 28Chương 6
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
6.1.1 Các khái niệm
Chất thải (Theo Luật BVA.T): Vật chất được loại ra trong sinh hoạt, từ quá trình sản xuất,
hoặc từ các hoạt động khác Chất thải có thể ở dạng rắn, dạng lỏng hoặc ở dạng khác
Chất thải rắn (Theo T C V N 6705-2000): Chất thải có dạng rắn hoặc dạng sệt.
Chất thải khác (Theo TC V N 6705-2000): Chất thải không có khả năng phân huỷ thối
rữa nhưng dễ gây ra bụi như các phần còn lại của quá trình cháy (tro, xỉ, tro than ) thải
ra từ các hộ gia đình hoặc từ các loại bếp, lò đốt, các đồ gia dụng đã qua sử dụng, được làm từ các loại vật liệu khác nhau
6.1.2 Nguồn gốc và các đặc tính của chất thải rắn
a) Chất thải rắn không nguy hại
Chất thải rắn được tạo thành từ các nguồn sau (hình 6 1):
H ì n h 6 1 : Các nguồn phát sinh chất thải và phân loại chất thải
Trang 29-T ừ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
- Từ các hoạt động công nghiệp
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố
Bảng 6.1 Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người
đối với từng loại chất thải rán đô thị
Nguồn
Tiêu chuẩn Kg/ng ngđ
Glii chú: x: Kể cả nhà ở và trung tâm dịch vụ thương mại; +: Không kể nước và nước thái.
Khối lượng tạo thành chất thải rắn đô thị thường rất lớn và phụ thuộc mức độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
b) Thành phần chất thải rắn sinh hoại
Phụ thuộc vào mức sống, vào mùa, vào vùng có thể thấy rõ theo số liệu của bảng 6.2
Hảng 6.2a Thành phần chát thải rán sinh hoạt của một sô thành phô trên thê giới
Trang 30Bảng 6.2b Thành phần chát thải ran cùa mót số thành phố ơ Việt Nam năm 2005
Thành phần (% khối lượng) Hà Nội Việt Trì Hạ Long Thái
Nguyên Đà Nẩng
N guồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA -2Ơ05
Thành phần chất thải công HíỊlìiệp: Tuỳ thuộc vào loai hình công nghiệp, công nghệ,
thiết bị, nguyên vật liệu sử dụng mà c h ấ t thái công nghiệp được tạo ra có thành phần và lượng khác nhau Các nước có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, công nghiệp phát triển lượng chất thải công nghiệp sẽ lớn và chất thài công nghiệp cũng đa dạng hơn, tuy nhiên lượng chất thải trên một đơn vị sản phẩm thường nhỏ hơn so với các nước có nền công nghiệp kém phát triển Bảng 2 dưới đây cho biết thành phần của một số chất thải công nghiệp
Chất thải nguy hại: Các chất thải nguy hại có thể phát sinh từ rất nhiều nguồn:
- Công nghiệp
- Nông nghiệp
H ì n h 6 2 : Túc động cùa việc quản lý không hợp lý chất thải dô thị
Trang 31- Công sở, cửa hiệu, trường học.
- Bệnh viện, bác sĩ, nha sĩ
- Hoạt động sinh hoạt
Tác động của việc xử lý không hợp lý chất thải đô thị được minh hoạ ở hình 6.2
6.1.3 Hệ thông quản lý chất thải rán đô thị
Các phần tử cơ bản của hệ thống quản lý chất thải được thể hiện như hình 6.3
Phán loại, lưu giữ, xử lý và vận chuyển chất thái tại nguồn: Phân loại chất thải tại
nguồn để tách riêng những chất thải có thể tái sử dụng, tái chế và phân loại chất thải nguy hiểm Lưu giữ chất thải tại nguồn liên quan tới các thùng đựng rác ở nơi phát sinh rác Xử lý chất thải tại nguồn là các quá trình ép chất thải và làm phân hữu cơ tại nguồn Vận chuyển chất thải tại nguồn là mang thùng rác đổ vào nơi thu gom
Thu gom chất thải: Thu gom chất thải và các vật liệu tái chế và vận chuyển chúng
đến các cơ sở tái chế hoặc xử lý hoặc tới trạm trung chuyển Giá thành thu gom chất thải phụ thuộc vào số contennơ và tần suất thu gom, thường chiếm khoảng 50% giá quản lý chất thải đô thị
Vận chuyển chất thải rắn: từ thiết bị thu gom nhỏ tới thiết bị thu gom lớn và từ trạm
trung chuyên tới các cơ sở chế biến hoặc chôn lấp
Xử lý chất thải rắn đô thị:
Khi lựa chọn các phương pháp xử lý chất thải rắn cần xem xét các yếu tố sau:
1 Tlìùnli phần tính chất chất ílìải rắn
• Thành phần tính chất chất thải rắn sinh hoạt
• Thành phần tính chất chất thải rắn công nghiệp
2 Số lượng chất thải rắn
3 Khả năng thu hồi sản phẩm và năng lượng
4 Yêu cầu bảo vệ môi trường
Các phương pháp xử lý và tiêu huỷ rác thải đô thị:
- Phương pháp chôn lấp, san ủi (Sanitary landĩills);
- Phương pháp ủ sinh học trong các nhà máy chế biến rác thải thành phân vi sinh (Composting);
- Phương pháp đốt cháy (Incineration);
- Phương pháp đốt - chưng (Incineration - Pyrolysis)
Chôn lấp chất thái tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh: Chôn lấp các chất thải không còn giá trị
sử dụng, các chất thải sau các quá trình tái chế, làm phân hữu cơ và tro của lò đốt
Trang 32Hình 6.3: Những thành phán chức năng nia một hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
6.2 CHẤT THẢI NGUY HẠI
6.2.1 Các khái niệm
Chất thủi nguy hại (Theo quy ch ế quân lý chất thải nguy hại): Là chất thải có chứa
các chất hoặc các hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dỗ cháy, dễ
nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người
Thu gom chất thải nguy hại: Thu gom, phân loại và đóng gói và lưu giữ tạm thời chất
thải nguy hại tại các địa điểm hoặc cơ sở được chấp thuận;
Lưu giữ cliđt thải nguy hại: Lưu và bảo quản chất thải nguy hại (CTNH) trong một
khoảng thời gian nhất định với điều kiện cẩn thiết, đảm báo không rò ri, phát tán, thất thoát ra môi trường cho đến khi CTNH được vận chuyển đến các địa điểm hoặc cơ sở xử
lý, tiêu huỷ được chấp thuận;
Trang 33Vận chuyển chất thải tiiịuy liại: Là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh tới
nơi lưu giữ, xử lý, tiêu huý
Xiì lý châì tliái lỉíỊiiy liại: là quá trình sử dụng công nghệ hoặc hiện pháp kỹ thuật (kê
cả việc thu hồi, tái chế, tái sử dụng) làm thay đối các tính chất và thành phần của chất thải nguy hại đối với môi trường và sức khoé con người
Tiên /í/íý chất thái nguy hại: là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả
chôn lấp) CTNH làm mất khả năng gây nguy hại đối với môi trường và sức khoé con người
6.2.2 Các đặc tính của chất thải nguy hại
Các đặc tính chính của CTNH: Cháy, nổ, ăn mòn, hoạt tính độc hại, tích đọng sinh học, bền vững trong môi trường (trơ) phá huỷ cân bằng hệ sinh thái của môi trường và tác động ròng lớn lâu dài đến con người: gây ung thư, gây viêm nhiễm, gây quái thai, bệnh thần kinh
a) Các hệ thống phân loại chất thải nguy hại
Thực tế có rất nhiều thành phần, vật chất được coi là CTNH Do đó có thể phân loại CTNH theo nhiều cách như: theo nguồn gốc, theo mức độ độc hại, theo cách quản lý, theo tính chất, theo độ bền vững Tuỳ thuộc vào luật lệ, quy định, điểu kiện kinh tế xã hội của từng nước mà có các hệ thống phân loại khác nhau:
- Hệ thống phân loại theo ngưồn chung
- Hệ thống phân loại theo quá trình của nguồn thải
- Hệ thống phân loại theo đặc trưng (vật lý)
- Hệ thống phân loại theo đặc trưng tính chất
b) Khảo sát chất thải nguy hại
- Lượng phát sinh mỗi chu kỳ
Ngoài ra còn quản lý thu thập thông tin với mỗi loại chất thải như:
- Chất thái được lưu giữ thế nào, ở đâu ?
- Có dược sử dụng, xử lý hay chôn lấp trong công ty không nếu có thì ở đâu và nhưthế nào? Nếu không ai thu gom, bao lâu thì thu gom?
- Lượng thu gom mỗi lần và như thế nào?
- Chỏ' đi đâu?
Trang 34c) Lưu giữ chất thải nguy hại tại các cơ sở công nghiệp
Việc lưu giữ chất thải nguy hại trong các cơ sở công nghiệp phải được áp dụng ngay
từ khâu đầu phát sinh ra rác thải Tại khư vực XNCN phải bố trí khu lưu giữ CTNH riêng biệt Cần có được cải thiện nhiều để sao cho CTNH phải được lưu giữ an toàn không gây
ra những hủy hoại môi trường trong khi chờ được thu hồi, tái sử dụng, tái chế, xử lý hay chôn lấp hợp lý hơn
Đối với một số chất thải trơ nguy hại như là amiăng, chôn lấp hợp vệ sinh có thể là phương pháp xử lý chất thải thực tiễn nhất, nhưng cần phải ngăn ngừa sợi amiăng khuyếch tán vào không khí hay nước Tuy nhiên, có thể thấy là những chất thải này được che phủ rất hạn chế, và do đó trong mùa khô, khả năng bụi amiăng do gió thổi có thể gây ra những mối nguy hại đáng kể liên quan đến sức khoẻ
Các thùng lưu chứa thường phải được hàn kín và có dán nhãn mác (hình 4) Việc rò rỉ các kim loại nặng từ việc lưu giữ lâu dài các xỉ kim loại đã tạo ra một số tác động đối với các lưu vực xung quanh, x ỉ kim loại cũng được sử dụng như là nguyên liệu để làm đường do đó có thể dẫn đến việc rò rỉ các kim loại nặng vào vùng nước mặl hoặc nước ngầm Sự rò rỉ kim loại nặng vào nước mặt và nước ngầm có thể gây nên những tác động đáng chứ ý đối với các nguồn nước uống
d) Vận chuyển chất thải nguy hại
Hiện nay ờ Việt Nam việc chuyên chờ những vật liệu nguy hại đang còn sơ khai Vật liệu nguy hại được những nhà cung cấp chuyên chở bằng tầu hoả hay ô tô chuyên dụng
e) Xử lý và tiêu huỷ chất thủi nguy hại
Nguyên tắc chung để xử lý chất thải nguy hại:
- Giảm lượng và độ độc của chất thải nguy hại tại nguồn thải;
- Xử lý chất thải:
• Tách các chất thải nguy hại
• Biến đổi hóa tính, sinh học nhằm phá huỷ các chất thải nguy hại hoặc biến thành các chất ít nguy hại hơn hoặc không gây nguy hại
- Thải bỏ các chất thải nguy hại theo đúng kỹ thuật để không gây tác hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Chất thải nguy hại có thể xử ]ý bằng các phương pháp vật lý, hoá học, nhiệt học và sinh học
Phương pháp cơ học: Xử lý cơ học thông thường được dùng đê xử lý sơ bộ chất thải
trước khi xử lý bàng phương pháp xử lý hoá lý hay xử lý nhiệt
Thí dụ, chất thải cyanua rắn cần phải được đập thành những hạt nhỏ trước khi được hòa tan để xử ]ý hóa học Tương tự chất thải hữu cơ dạng rắn phải được băm và nghiền nhỏ và cuối cùng được trộn với những chất thải hữu cơ khác trước khi đốt
Trang 35Quá trình sau là rất quan trọng để có thể đốt có hiệu quả bời vì chất thải được bom vào lò đốt phải thoả mãn những đặc trưng riêng cho một quá trình cháy hoàn toàn.
Phương pháp hoá lý: Tách chất thải nguy hại từ pha này sang pha khác, hoặc để tách
pha nhằm giảm thể tích dòng thải chứa chất thải nguy hại x ử lý hóa lý là phương pháp thông dụng nhất để xử lý các chất thải vô cơ nguy hại Các ví dụ điển hình được nêu trong bảng 6.3
Bảng 6.3 Những quá trình xử lý hóa/lý phổ biến
Ôxy hóa/khử
Trung hòa/Kết tủa
Thủy phân
Kết bông, keo tụ và lọc
Điện phân - thu hồi bằng điện hóa
- Ôxy hóa chất thải có cyanua bằng clo hay pypocloric natri
- Khử chất thải Cr(6 ) bằng chất thải sắt hay sulíit natri hoặc meta bisufit
- Kết tủa kim loại nạng từ dung dịch dưới dạng hydroxyt hay sulfit
- Trung hòa chất thải kiềm hay axit
- Thủy phân bằng kiềm các thuốc trừ sâu dạng photpho hữu cơ
Phương pháp hoá học: Biến đổi hoá học các chất thải nguy hại thành chất không
độc hại hoặc ít nguy hại
Phương pháp thiêu đốt: Đốt chất thải là một quá trình ôxy hoá chất thải bằng ôxy
của không khí ở nhiệt độ cao Phương pháp thiêu đốt được ứng dụng khi:
- Chất thải là chất độc sinh học
- Không bị phân huỷ sinh học và bền vững trong môi trường
- Là chất bốc hơi và dễ phân tán
- Khó xử lý trong môi trường đất
- Chứa các chất hữu cơ: halogen, chì, thuỷ ngân, kẽm, nitơ, photpho và sunfua
Các chất thải nguy hại có thê x ử lý băng phương pháp đốt là các dung môi hữu cơ,
dầu thải và các chất chứa dầu, plastic, cao su, sơn, chất hữu cơ chứa lưu huỳnh, phot pho, nitơ và halogen, thuốc trừ sâu Nhiệt độ thích hợp để phân huỷ các chất thải từ
1100 - 1300°c Sản phẩm của quá trình đốt là khói lò có chứa bụi, các ô xít kim loại nặng và các khí a xít vì vậy phải xử lý trước khi xả ra môi trường không khí xung quanh
Trang 36Các chất thải không nên xử lý bằng phương pháp đốt: chất thải phóng xạ, chất thải
dễ nổ Chất thải có chứa chất độc bay hơi (Hg, As) cũng không được phép đốt vì gây ô nhiễm không khí
Chất thải hữu cơ nguy hại có thể xử lý hoặc là trong những lò đốt rác thải nguy hại chuyên dụng hoặc được phân huý trong những quá trình công nghiệp nhiệt độ cao Ví dụ
về quá trình này là việc sử dụng lò xi mãng quay Nói chung chất thải được xử lý bằng quá trình đốt thông qua sự nhiệt phân đã từng được sử dụng đối với một số dạng chất thải cụ thê Nhiệt phân không nên xem là một công nghệ quản lý chất thái nguy hại đa
năng, vì vậy không được xem xét kỹ ờ đây Đê đốt cháy hiệu quả chất thải trong lò đốt
phải có 4 yêu cầu cơ bản, đầu tiên là oxy tự nhiên (bằng cách đưa vào một lượng dư khí cháy vào buồng đốt), sau đó là 3 yêu cầu, thường được gọi là 3T: TIME - TURBULANCE - TEMPERATURE (Thời gian, xáo trộn, nhiệt độ)
Phương pháp sinh học: Phân huỷ sinh học các chất thải độc hại hữu cơ.
Phương pháp ổn định: Đê giảm tôi đa tác động xấu của các chất thải nguy hại trong
các bãi chôn lấp, trước khi chôn lấp các chất thái nguy hại cần phải được cố định hoặc rắn hoá Thực chất của công việc này là lưu giữ chất thải nguy hại, chờ thời gian thích hợp đế xử lý vì đối với các polyme hữu cơ thời gian tồn, tại của chúng không phải là vĩnh viễn Công nghệ này hạn chế ở mức cao sự thẩm thấu của chất thải Công nghệ được thực hiện trên việc trộn chất thải nguy hại với vật liệu đóng rắn tạo thành khối bao lấy chất thải nguy hại hoặc cố định chất thải nguy hại trong cấu trúc vật rắn Vật liệu dùng
để ổn định và đóng rắn chất thải thường dùng là xi mãng, vôi, polyme hữu cơ hoặc các vật liệu nhiệt dẻo
On định hóa được xem là một quá trình cư bán, đặc biệt là ở những nước mà việc kiểm soát các bãi chôn rác hay bãi đổ rác còn yếu kém Các chất còn lại sau những quá
trình xử lý hóa học thường có hàm lượng các oxy kim loại nặng cao và có thổ chứa các
sulíit kim loại Trong điéu kiện kiềm nhẹ thì những chất này không tan, nhưng trong môi trường chung chúng vẫn có thể bị tái hòa tan nếu gặp điều kiện trung tính hay axit nhẹ Nếu những cặn thải này được cố định hóa thì các kim loại nặng này không thể tái thất thoát vào môi trường thậm chí trong điều kiện có axít nhẹ Một số công nghệ ổn định, đóng rắn chất thải nguy hại được sử dụng phổ biến là:
- Công nghệ dóng rắn xi mănạ Xử lý cỏ định- hoá rắn là biện pháp thêm vào chất
thải những chất phụ gia để cố định và giảm thiểu khả năng phát tán của chất thải
Thường dùng với loại chất thải nguy hại chứa các kim loại nặng, chất phóng xạ, xi măng
có độ pH cao thì phần lớn các kim loại chuyển thành các hydroxit kim loại kết tủa
Các loại bùn thải hoặc hoá chất thải có chứa thành phần kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn tiếp nhận của bãi chôn lấp an toàn như trên phải được xử lý cố định-hoá rắn trước khi được đưa vào bãi chôn lấp an toàn
Trang 37Chất thải được đưa vào máy trộn dạng mẻ, thêm một số phụ gia theo một tỷ lệ quy định Chất thải được thêm vào một số chất như cát, xi măng, vôi, nước nhằm hoá rắn-bê tông hoá, cũng đế giảm khả năng phát tán chất ô nhiễm vào môi trường nước Sau khi được trộn đều bằng máy trộn, mẫu được đem đi thử, nếu đạt yêu cầu sẽ được chở thẳng tới bãi chôn lấp an toàn Công thức phối trộn hoá rắn thiết kế được đề xuất áp dụng Công thức phối trộn hiện đang thực hiện tại Trung tâm xử lý chất thải Kualiti Alam- Malaysia:
Các chỉ tiêu được yêu cầu kiểm tra là độ pH, dầu mỡ, kim loại nặng Nước thải phải được thu hồi và tái sử dụng ngay cho quy trình xử lý tại đây
- Công nghệ sử dụng vôi: dùng vôi, silic làm vật liệu đông tụ và thường áp dụng với
các chất thải nguy hại hữu cơ
- Cônq ngliệ p o ly m e hữu cơ: công nghệ này hiện thường sử đụng ureaĩormandhyd,
polypropylen và có thể áp dụng cho cả bùn khô lẫn bùn ướt tạo ra hỗn hợp chất thải - polyme tỉ trọng thấp
- Công nghệ nhiệt dẻo: vật liệu sử dụng cho công nghệ này thường dùng là bitum,
parafin, polytylen Công nghệ này dùng để cố định các chất thải phóng xạ Chất thải được trộn với bitum ở nhiệt độ cao thường là trên 1000°c và sẽ rắn lại khi nguội
- Công nghệ vỏ bọc: khối chất thải sẽ được bọc trong một lớp vỏ hoặc túi bằng vật
liệu trơ Phương pháp thông dụng nhất là sử dụng chất liên kết polybutadien tạo một lớp
vỏ bọc mỏng quanh khối chất thải Tuy nhiên thời gian bảo quản ở đây ngắn thường sử dụng cho khâu bảo quản trung gian, bảo quản trong quá trình vận chuyển, trung chuyên
Phương pháp chôn lấp có kiểm soát: Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm
soát sự phân huỷ của chất thải rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mật Chất thài rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phẩn huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như a xít hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như C 0 2, CH4,
Trang 38Các íỊÌái pháp tổng thể đ ể nân íị cao năitiỊ lực quản lý chất tlỉải răn đô thị
Quản lý chất thủi là một sự tiếp cận chất (hải mức đó cao đó là sự quan sát các sản
phẩm chất thải như là một sản phẩm không thể tránh khỏi của sự phát triển kinh tế và chúng ta cố gắng quản lý các chất thải theo cách làm giảm ảnh hường có hại của chúng tới môi trường - chủ yếu bởi quá trình chôn hay đốt chúng
Sự ngân chặn ô nhiễm và chất thài là sự tiếp cận chất thải ở mức thấp đó là quan sát
hầu hết các chất thải rắn và chất thải độc hại như là nguồn tiềm năng mà chúng ta có thê quay vòng, làm phân bón, sử dụng lại Với hướng tiếp cận này, hệ thống kinh tế được sử dụng để làm suy yếu việc tạo ra chất thải cổ vũ việc ngăn chặn chất thải
Thứ bậc trong quản lý tổng hợp chất thải rán đó thị:
1 Giảm lượng phát sinh tại nguồn
2 Tái chế
3 Chuyển hóa
4 Chôn lấp
Quy hoạch quản lý tổng hợp chất thải rắn:
- Kết hợp đúng đắn các lựa chon và công nghệ
- Năng động trong đáp ứng các thay đổi tương lai
- Theo dõi và đánh giá
Các chính sách cho Quản lý tổng hợp chất thải:
- Phát triển bền vững
- Thận trọng
- Sử dung nguồn lực hợp lý
- Trách nhiệm của những người tạo ra chất thái
- Nguyên tắc người gây ỏ nhiễm phải trà tiền
Chính sách, chiến lược và kẻ hoạch mòi trương
Đê tiếp cận chính sách trong quản lý chất thải rắn, cần lựa chọn vấn đề ưu tiên đối với chất thải rắn trong hoạt động sinh hoạt, cống nghiệp, thương mại dựa trên 4 đặc điểm sau:
- Gây hợi đến sức khoẻ con người: Đây là nguyên nhân sâu xa làm tăng xác suất phát
sinh dịch bệnh, làm tăng chi phí khám, điều trị bệnh, làm tăng tỷ lệ tử vong trong cộng đồng Chính vì vậy đây là vấn đề được xem như là vấn đề ưu tiên cần giải quyết
- Gây suy thoái kinh tế: Nguyên nhân làm giảm năng suất lao động được coi là tác
động gây suy thoái kinh tế của rác thái độc hại công nghiệp và bệnh viện Một lượng lớn các phế liệu trong hoạt động công nghiệp có khả năng tái chế hoặc đươc sử dung lai nếu không được quản lý hợp lý sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế
- L à m m ấ t m á t "Tiện n g h i m ô i trườnạ"'. T iện n g h i m ỏi tr ư ờ n g c ó thê là I11ÔI c a n h q u a n
th iên n h iên đ ẹ p d o tạo hoá hoặc do co n người Lạo ra, mòt k h oáng k h ò n g gian yên tĩnh và
Trang 39trong lành Nó mang lại một giá trị về tinh thần và nâng cao chất lượng cuộc sống con người Thí dụ: Các bãi chôn lấp chất thải rắn không an toàn và không hợp vệ sinh, lò đốt rác thiết kế không đúng kỹ thuật, đổ thải không được kiểm soát chật chẽ sẽ tạo điều kiện làm tăng nguy cơ phát sinh mùi vị, khí ô nhiễm đối với khu dân cư xung quanh, như vậy các hoạt động này làm mất tiện nghi môi trường sống của bản thân đô thị.
Bảng 6.4 Những điều nên và không nên trong việc cải tiên quản lý chất thải rán trong thành phô
Các vấn đề về thể c h ế
Đ ảm bảo rằng thành phố giữ trách nhiệm về
việc Quản lý chất thải rắn thành phố
Tách rời nhiệm vụ cung cấp dịch vụ khỏi việc
cung cấp dịch vu hàng ngày
Coi sự tham gia của khu vực tư nhân là một
lựa chọn để cải thiện hiệu quả kinh tế của việc
cung cấp dịch vụ
Phân công trách nhiệm thu gom chất thải cho
cấp thích hợp thấp nhất của chính quyền thành
phố
Tố chức thu gom chất thải ờ quy m ô vừa (dân
số tối thiểu là 50 - 100.000 người) để đảm bảo
hiệu suất.
Tổ chức xử lý chất thải ở phạm vi đô thị
rộng hơn
Tập trung trách nhiệm về chất lượng phục vụ và
chi phí hạch toán rõ ràng trong cơ cấu quản lý
Cung cấp kỹ năng, nguồn lực và xây dựng
năng lực để đảm bảo tăng cường một cách lâu
dài các cơ quan quản lý chất thải rắn thành
phố
Xem xét cách thức tốt nhất để thực hiện việc
thu phí đối với người sử dụng nhằm trang trải
thâm hụt về những nguồn thu cần thiết để đầu
tư cho việc cải thiện chất lượng và phạm vi
phục vụ.
Giao trách nhiệm về dịch vụ y tế c ồng cộng chù chốt cho khu vực tư nhân
Quên 3 điều kiện cần thiết cho sự tham gia thành công của khu vực tư nhân là cạnh tranh, công khai và có trách nhiệm
Phân chia trách nhiệm về thu gom giữa các đơn
vị hành chính rất nhỏ trong một vùng đồ thị Ngăn chặn sự di chuyển của chất thải giữa các địa bàn trong cùng một địa b àn thành phố
Phân chia trách nhiệm giữa hai hoặc nhiều Sở (như vậy không ai chịu trách nhiệm cả)
Cho rằng sự tham gia của khu vực tư nhân có nghĩa là bạn không còn cần đến khu vực Nhà nước nữa; m à khu vực Nhà nước lại phải đảm bảo rằng dịch vụ được cung cấp đúng quy cách Thực hiện việc thu phí của người sử dụng một cách không phân biệt trong đó không xem xét đến nhu cầu cung cấp một dịch vụ quản lý chất thải rắn cho người nghèo thành phố.
Trang 40Báng 6.4 (tiếp theo)
Bảo đảm các xe thu gom phù hợp với nhu
cầu địa phương
Tối đa hóa công suất xe cộ
Xem xét việc thiết lập các trạm trung
chuyến khi thời gian một chuyên đi và về
mất hơn một giờ
Ưu tiên cho việc mở rộng việc cung cấp
dịch vụ, đặc biệt là cho những khu vực thu
nhập thấp và không chính thức
Thu hút các tổ chức dựa vào cộng đổng
(CBO) vào việc cung cấp dịch vụ thu gom
sơ cấp
Mua xe cộ công nghệ cao, không phù hợp
và đắtChấp nhận tình trạng là 30% số xe không hoạt động vào bất kỳ thời điếm nào
Bò qua cấc đc dọa về sức khỏe công cộng đối với toàn bộ cộng đồng nếu rác được cho phép chất đống trong những khu vực không được phục vụ
Tái chế, xử lý và thu dọn chất thải
Có sự chú ý thích đáng đến việc phát triển
thị trường bền vững cho các sán phẩm được
khôi phục hoặc sản xuất từ chất thái rắn
Bổ sung bài đổ rác bằng các công trình nhỏ đế
trình diễn việc tái chế và sán xuất phân từ rác
một cách phù hợp và bển vững cho khu vực
Mua các hệ thống xử lý chất thải công nghệ cao hoặc tiêu tốn nhiều năng lượng, đắt tiền mà khổng được nghiệm chứng mờ rộng
Cho ràng sán phẩm được khôi phục có thể được tiêu thụ một cách tự động trên thị trường
Cho ráng việc quản lý những phương tiện cồng nghệ thấp là không quan trọng
Nâng cấp các địa điểm hiện có hoặc phát
triển các bãi đố rác mới, xem như là giải
pháp ngắn hạn có hiệu quả kinh tế nhất
Ngay từ đấu đã khăng khăng theo tiêu chuẩn quốc tế; và lai không có kết quả và tiếp tuc kéo dài tình trạng hiện nay
- Líìm suy tàn văn hoá bàn dịu: Những hoạt động của con người đã làm thay dổi dần
những nếp sống, phong tục tập quán của tổ tiên được tích luỹ và truyền lại qua nhiều thế hệ
Nhiều nét văn hoá cộng đồng đã bị mai một và vĩnh viễn không được biết đến ờ thê hệ sau.
Các đề xuất chính sách nhằm vào các giải pháp lựa chọn triển khai cho các vấn để ưu tiên trong quản lý rác thái rắn bao gồm:
- Vấn đề giảm thiểu tụi nguồn với giải pháp tăng cường quá trình tái chế và tái sử dụng các phế liệu công nghiệp
- Vấn đề khắc phục những tác dộng xấu của chất thái đối với môi trường
- Toàn bộ quá trình đề xuất chính sách được thực hiện theo từng bước trong chu trình hoạch định chính sách Hoạch dinh chính sách là một quá trình xây dựng và thực thi chính sách Ị 6 ]