Họ không chỉ là các ông chủ tư nhân mà còn bao gồm cả bộ phận cán bộ, lãnh đạo, quản lý và nghiệp vụ kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước; không chỉ là một bộ phận của trí thức mà cò
Trang 1BÀI LÀM
Doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng rất đa dạng, hình thành từ nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội nhưng họ có một đặc điểm chung là làm công việc kinh doanh với mục tiêu đạt được sự giàu có và thành đạt Họ không chỉ là các ông chủ tư nhân mà còn bao gồm cả bộ phận cán bộ, lãnh đạo, quản lý và nghiệp vụ kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước; không chỉ là một bộ phận của trí thức mà còn có trong giai cấp nông dân, đội ngũ cán bộ, công chức ; không chỉ là những người có hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng mà có cả những người mới lập nghiệp nghèo nhưng có chí làm giàu
Doanh nhân Việt nam xuất thân từ đâu ?
Theo số liệu của các cuộc điều tra (do Chương trình phát triển dự án Mê Kông MPDF thuộc nhóm IFC/WB tiến hành năm 1999 trên 127 doanh nghiệp tư nhân với hơn 400 đối tượng khác), có khoảng 66% xuất thân từ các gia đình cán bộ nhà nước (kể cả gia đình cán bộ Đảng và các đoàn thể, quân đội, doanh nghiệp quốc doanh, cấp Trung ương và địa phương) và 16% xuất thân từ gia đình buôn bán, kinh doanh, số còn lại từ các tầng lớp giai cấp khác trong xã hội
Lý do chính để lập doanh nghiệp ?
Theo các số liệu điều tra của MPDF, thì những lý do chính để những doanh nhân Viêt nam lập nghiệp bằng con đường kinh doanh là:
- Muốn phát huy tối đa năng lực cá nhân (76% theo điều tra của MPDF)
Trang 2- Có điều kiện thuận lợi để làm kinh doanh (61% theo điều tra doanh nghiệp trẻ)
- Để kiếm sống hoặc tăng thu nhập (50% theo MPDF)
- Thích thử thách, sáng tạo (41% theo MPDF)
- Theo truyền thống gia đình (16% theo MPDF), hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh (26% theo MPDF)
- Muốn theo đuổi giá trị đạo đức hoặc phong cách sống riêng (23% theo MPDF)
Những đặc điểm cơ bản của lớp doanh nhân Viêt nam.
Do đặc điểm chính trị và lịch sử, lớp doanh nhân mới ở nước ta có một số đặc điểm riêng, khác với doanh nhân ở các nước khác, đồng thời cũng có một số nét tương đồng với các đồng nghiệp nước ngoài Ở đây, tôi xin đưa ra một số đặc điểm cơ bản của lớp doanh nhân Việt:
- Ra đời và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường của đất nước
- Đa số tuổi đời khá trẻ, được đào tạo và rèn luyện trong quá trình đổi mới, có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc Tuy nhiên, vẫn tồn tại một
số không ít doanh nhân có trình độ học vấn hạn chế, kỹ năng quản trị, kinh doanh thấp
- Có tinh thần doanh nghiệp ý chí lập nghiệp, làm giàu, dám chấp nhận rủi ro, thách thức
- Làm việc rất cần cù, năng động chịu khó học và vươn tới cái mới, có tính tiên phong trong một số lĩnh vực
- Sống có nhân bản, có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng, có mong muốn được gắn bó trong hội đoàn
Trang 3- Sống có văn hoá, giữ gìn những truyền thống, giá trị tốt đẹp của gia đình, xã hội và dân tộc Tuy vậy tất nhiên vẫn còn những thiểu số doanh nhân thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, văn hoá trong kinh doanh và trong cuộc sống, nên có những hành vi xấu làm phương hại đến lợi ích của Doanh nghiệp, của xã hội và của cộng đồng Doanh nghiệp
Trong bài viết này tôi xin đi sâu vào ba đặc điểm của lớp doanh nhân và đánh giá thực trạng từng khía cạnh:
1 Mức độ dám chấp nhận rủi ro
2 Tính đổi mới, sáng tạo (đối với SP, kênh phân phối, hoạt động khuyếch trương …)
3 Tính tiên phong, đi trước đối thủ trong các hoạt động kinh doanh
4 Đánh giá thực trạng từng khía cạnh trên (thang điểm 1-5 từ rất thấp tới rất cao); so sánh mức độ các khía cạnh trên theo tuổi tác, giới tính, khu vực KT (tư nhân, nhà nước, nước ngoài/LD,…), qui
mô DN, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động,…
1 Mức độ dám chấp nhận rủi ro.
Theo các kết quả điều tra, khoảng 70% doanh nhân lãnh đạo các doanh nghiệp dân doanh ở độ tuổi dưới 45 (doanh nghiệp quốc doanh là 20 – 25%)
Tuổi đời trẻ, ảnh hưởng nhiều tới tính năng động, ý chí dám chấp nhận rủi
ro, thách thức, khả năng học hỏi và sức làm việc của doanh nhân ”Một trong những tố chất quan trọng nhất của một doanh nhân là dám chấp nhận rủi ro Không biết được điều đó thì không có một doanh nghiệp lớn mạnh”
Tuy vậy, cũng có thể nói có một bộ phận không nhỏ doanh nhân Việt là không dám chấp nhận rủi ro Họ thiếu hẳn sự sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ
Trang 4dám làm và tính tiên phong Điều này thể hiện rõ nhất ở “tâm lý bầy đàn” trong hoạt động doanh nghiệp thời gian qua Những bài học đau lòng về
“bầy đàn trong chứng khoán”, “bầy đàn trong bất động sản”, “bầy đàn trong mô hình tập đoàn đa ngành, đa nghề”,… đã đẩy không biết bao doanh
nhân, doanh nghiệp đến bờ vực phá sản và đẩy kinh tế đất nước vào cơn khủng hoảng trầm trọng
Ở một góc nhìn khác, việc dám đối mặt với rủi ro trong quyết định của một
bộ phận doanh nghiệp Việt nam vẫn mang nặng tính “liều” và quyết định
mang tính thiếu nhận thức và hiểu biết Có thể nhận thức những “rủi ro trong những quyết định dám chấp nhận rủi ro” của doanh nghiệp Viêt nam
như sau:
- Thiếu những qui tắc khôn ngoan trong việc chấp nhận rủi ro.
- Thiếu kỷ luật trong việc tuân thủ nguyên tắc này.
- Đơn giản hóa những qui trình kinh doanh.
- Chưa đo lường và lượng hóa được những rủi ro.
Nói cách khác, bí quyết đầu tư là phải mạo hiểm với những rủi ro được tính toán trước Mỗi một cơ hội đầu tư luôn mang theo những rủi ro tiềm ẩn.
Trong một số thương vụ đầu tư, một loại rủi ro nhất định có thể chiếm ưu thế hơn, và những rủi ro khác chỉ là thứ yếu Hiểu đầy đủ về những loại rủi ro chính yếu là cần thiết để mạo hiểm có tính toán và đưa ra những quyết định đầu tư nhanh nhạy
Một số loại rủi ro trong hoạt động doanh nghiệp: - Rủi ro vỡ nợ; - Rủi ro kinh doanh; Rủi ro thanh khoản; Rủi ro sức mua hay rủi ro lạm phát; -Rủi ro lãi suất; - -Rủi ro công nghệ; - -Rủi ro chính trị; - -Rủi ro thị trường.
Trang 5Và có nguyên tắc là: “Không rủi ro có nghĩa là không lợi nhuận Nơi rủi ro cao thì cũng kỳ vọng lợi nhuận cao”, vấn đề chỉ là quản lý rủi ro đó như thế
nào Không phải tất cả 8 loại rủi ro này có thể đồng thời xảy ra tại một thời điểm và với cùng một vụ đầu tư Mặt khác, các loại rủi ro khác nhau có mối liên hệ với nhau Điều quan trọng là phải đánh giá một cách cẩn trọng sự tồn tại của mỗi loại rủi ro, và mức độ của nó trong mỗi cơ hội đầu tư
2 Tính đổi mới sáng tạo.
Có một thực tế cần phải nhìn nhận thẳng thắn là tính đổi mới và sáng tạo trong một bộ phân không nhỏ doanh nhân Việt còn ở mức rất thấp Chúng ta hay tự nhận xét rằng người Việt thông minh, sáng tạo, nhưng nhiều khi các sáng tạo đó mang nặng tính chất manh mún, đối phó, thiếu tầm tư duy dài hạn, chủ động
Vậy thì gốc vấn đề là ở đâu ? Trước hết, một số không ít doanh nhân có trình
độ học vấn hạn chế, kỹ năng kinh doanh thấp Theo kết quả cuộc điều tra của
MPDF cho thấy chỉ có khoảng 25% nữ chủ doanh nhân có trình độ đại học hoặc là trên đại học, trong khi có tới 32.5% chưa học tới phổ thông trung học Từ những thống kế về doanh nhân nữ ta có thể suy ra tỷ lệ tương tự đối
với nam doanh nhân Đó là lỗ hổng rất lớn, hạn chế khả năng và tầm nhìn của doanh nhân trong thế giới kinh doanh hiện đại ngày nay và do đó giảm hiệu quả và tính sáng tạo của doanh nghiệp Lý giải ở góc độ khác, Việt Nam
bị ảnh hưởng mạnh bởi đạo Khổng và phần nào nữa là đạo Phật Khổng giáo vốn trọng lễ nghi, thứ bậc, hình thức Phật giáo khuyến khích an nhiên, tự tại, đơn giản Nhiều người cho rằng cả hai trào lưu tư tưởng này đều phản tự
do Quan niệm như vậy là cực đoan, nhưng cũng phải thừa nhận rằng, hai luồng tư tưởng này đều không mấy khuyến khích những con người năng
Trang 6động, sáng tạo, đổi mới, sẵn sàng chiến đấu, vươn lên trong môi trường cạnh tranh tự do khốc liệt
Ngày nay chúng ta thường nghe quá nhiều đến những lý thuyết trong quản trị doanh nghiệp: quản trị sản xuất, quản trị nhân sự, quản trị chiến lược, quản trị marketing,… Rồi rằng doanh nghiệp cần phải “nhắm vào thị trường, hướng tới khách hàng”, phải đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất, giá cạnh tranh nhất, phải xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến … Và giờ đây hình như đó đang
là đích trong tư duy chiến lược của các nhà doanh nhân Việt
Cần phải có cái nhìn toàn cục hơn, trong bối cảnh một “thế giới phẳng”, một chiến lược “đại dương xanh” và một nền “kinh tế tri thức” thì ta “giật mình” nhận thấy rằng: tập đoàn Nike, Reebook không có một nhà máy nào cả, Nokia đa phần sản phẩm Made in China, … Cả một tòa nhà khổng lồ của Nike ở giữa trung tâm New York chỉ quản lý 3 mảng chính: Hệ thống nghiên cứu và Phát triển (R&D); Hệ thống phân phối và Quản lý thương hiệu
Bộ phận Nghiên cứu và Phát triển (R&D):
Đây là một khâu then chốt trong việc tạo ra một sản phẩm mới Gần đây
người ta nói nhiều tới chiến lược “Tập trung để khác biệt” và coi đó như là
chìa khóa thành công của doanh nghiệp Rất tiếc rằng điều đó ở doanh nghiệp Việt nam chưa được coi trọng Họ đa phần chỉ tập trung những sản phẩm mà thị trường đã làm và chỉ lo để “copy” Theo thống kê không chính thức, có tới xấp xỉ 90% doanh nghiệp Việt không có bộ phận R&D
Những chiến lược “hớt váng sữa” của Nokia trong việc tung sản phẩm điện thoại di động hay Sony với sản phẩm thiết bị nghe nhìn,… cho doanh nghiệp Việt những bài học quí báu khi tung ra thị trường sản phẩm mới và để làm điều đó thì cần đầu tư tối đa cho khâu R&D
Trang 7Hệ thống phân phối.
Không phải đơn giản để chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và cũng không dễ dàng chuyển từ khâu phân phối theo kiểu “xin cho” sang kênh phân phối cạnh tranh hiện đại
Thiết lập một hệ thống theo chuẩn mực, quản lý kênh phân phối và quản lý lực lượng bán hàng hiệu quả là mấu chốt để cạnh tranh và giành thị phần Đây là mảnh đất mầu mỡ cho những ý tưởng sáng tạo trong việc: thiết lập kênh phân phối theo dạng trực tiếp hay gián tiếp, đơn kênh hay đa kênh, độ dài của kênh và các giải pháp khuyên khích bán hàng cũng như giảm thiểu các xung đột lợi ích trong kênh
Thương hiệu.
Định vị được thương hiệu và xây dựng một thương hiệu mang tính nhất quán
và chuyên nghiệp là vấn đề không phải doanh nghiệp Việt nào cũng đã làm được Nhiều doanh nghiệp trong quá trình phát triển đã xa rời những giá trị cốt lõi mà mình định ra rồi phát triển dần theo hướng “đa ngành, đa nghề” để rồi đánh mất chính bản sắc của mình
3 Tính tiên phong.
Khi nói về sứ mệnh doanh nghiệp, chúng ta thường nhấn mạnh đến vai trò đầu tàu trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu xã hội… Về mặt bề nổi thì đúng là như vậy nhưng nhìn nhận ở góc độ sâu hơn,
thấm đẫm trong mỗi hoạt động của doanh nhân là tính tiên phong, mở đường cho những ý tưởng mới, nhận thức mới và ở mức độ nào đó, tác động tích
cực đến tầm nhìn trong tổ chức đời sống xã hội
Dưới đây tôi xin nêu một số tính tiên phong trong hoạt động doanh nghiệp Việt nam:
Trang 8- Tiên phong về sản phẩm mới, dịch vụ mới
- Tiên phong về công nghệ
- Tiên phong trong phương pháp quản trị doanh nghiệp
- Tiên phong về văn hóa và tri thức
Khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chúng ta có cái nhìn logic hơn về mối quan hệ cung – cầu, giá – cầu; nhưng chỉ khi các siêu thị Metro, Vincom, BigC, Nguyễn Kim, Parkson,… tung những “đòn” siêu khuyến mãi, chúng ta mới nhận thức một cách trực quan, đầy đủ sự vận động của giá lên cầu, cũng như quyền năng, giới hạn của người tiêu dùng trong 3 trụ cột quyết định đến nhịp độ phát triển đất nước, bao gồm: xuất khẩu – tiêu dùng trong nước – đầu tư toàn xã hội
Cùng với động lực mở rộng thị trường, doanh nhân có nhu cầu sử dụng những biểu tượng văn hóa dân tộc Họ là sứ giả đưa những tinh hoa Việt Nam ra thế giới Những Café Trung Nguyên, Bitis, Kinh Đô, … xuất hiện ở nhiều châu lục, khiến Việt Nam gần gũi hơn trong con mắt bạn bè thế giới Hoạt động của doanh nhân còn mở rộng ra thị trường nhân lực, buộc các trường đại học, viện nghiên cứu phải đổi mới phương pháp giáo dục, nghiên cứu khoa học theo hướng coi trọng thực hành hơn Sỡ dĩ doanh nhân giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo, đổi mới nhận thức, cách nhìn như vậy là do họ
là đối tượng sử dụng tài nguyên (đất, mặt nước, rừng, dải tần số, nhân lực, thông tin,…) nhiều nhất; họ cũng là đối tượng sử dụng công nghệ nhiều nhất
Tính tiên phong cũng là nhân tố quan trọng bậc nhất trong chiến lược cạnh tranh vượt lên đối thủ
Trang 94 Đánh giá thực trạng từng khía cạnh trên (thang điểm 1-5 từ rất thấp tới rất cao); so sánh mức độ các khía cạnh trên theo tuổi tác, giới tính, khu vực KT (tư nhân, nhà nước, nước ngoài/LD,…), qui mô
DN, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động,…
STT Nội dung đánh giá
Mức độ dám chấp nhận rủi ro
Tính đổi mới, sáng tạo
Tính tiên phong
1 Khu vực kinh tế
3 Giới tính
4 Qui mô doanh nghiệp
5 Lĩnh vực
6 Nghành nghề hoạt động
Trang 10Hết