Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứngduy vật Mác xít, là cẩm nang giúp chúng ta trán
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Bộ môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê-Nin
Trang 3TIỂU LUẬN MÔN HỌC
Đ
Ề T ÀI: Vận dụng quan điểm toàn diện trong quá
trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam Hiện nay
1 Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
1.2 Các tính chất của mối liên hệ
Trang 41.2.1 Tính khách quan của mối liên hệ
1.2.2 Tính phổ biến của mối liên hệ
1.2.3 Tính đa dạng và phong phú của mối liên hệ
1.3 Ý nghĩ phương pháp luận cảu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2 Quan điểm toàn diện
2.1 Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện
2.2 Nội dung của quan điểm toàn diện
2.3 Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔi MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
1.1 Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
1.2 Những yêu cầu cấp bách cần thiết phải đổi mới giáo dục
2 Ý kiến hướng đi và giải pháp cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam
2.1 Định hướng đổi mới
2.2 Nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện
Tài liệu tham khảo
Trang 5MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, khi Đảng và nhà nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diệnđáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội nhập quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn Thực tiễn đó đặt ra nhiều vấn đề đổi mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề quan trọng là đổi mới cănbản toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế
Để thực hiện được sự đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đàotạo thì Đảng ta phải có phương hướng, chính sách, quan điểm phù hợp vàphải đứng trên quan điển toàn diện để đổi mới
Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứngduy vật Mác xít, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiếndiện, sai lệch giản đơn về sự vật, hiện tượng Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các
sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ Vì vậy nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật có vai trò lớn trong chỉ đạo vấn đềđổi mới giáo dục và đào tạo
Nhằm có được nhận thức đúng đắn hơn về định hướng của Đảng vàNhà nước trong nhiệm vụ đổi mới giáo dục ở Việt Nam, tôi đã lựa chọn đề
tài “Vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới giáo dục ở
Việt Nam Hiện nay”.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 6Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng quan điểm toàn diện của Đảng ta về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Trang 7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, đặc biệt là quan điểm toàn diện với cơ sở lý luận là về mối liên
hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật của các nhà kinh điển chủ nghĩaMác – Lênin, quan điểm của Đảng ta để vận dụng trong đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo
ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI
Về lý luận: Bài luận là sự khái quát về quan điểm toàn diện và sự vậndụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa , phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Về thực tiễn: Bài luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho nhữngngười học tập, nghiên cứu cho nội dung liên quan
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu với 2 chương và 4 tiết
Chương 1: Lý luận chung về quan điểm toàn diện
1.1 Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệphổ biến
1.2 Quan điểm toàn diện
Chương 2: Quan điểm toàn diện trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
2.1 Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
2.2 Ý kiến hướng đi và giải pháp cho đổi mới giáo dục ở Việt Nam
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1 Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cáchtách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụthuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ lànhững liên hệ hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên Một số người theoquan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nónhưng laị phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên
hệ khác nhau
Ngược lại, quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như mộtchỉnh thể thống nhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thếgiới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyểnhoá lẫn nhau
Nếu cắt nghĩa từng chữ, theo từ điền Tiếng Việt, thì “mối” là “ đoạnđầu của sợi dây, sợi chỉ dùng để buộc thắt lại với nhau; chổ nối , chổ thắt,chổ từ đó có thể quan hệ với một tổ chức, cơ sở liên lạc” Còn “liên hệ” làchỉ sự vật, sự việc có quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa trênnhững mối quan hệ nhất định” Như vậy, mối liên hệ có thể được hiểu theocách là sự quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng,quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường củanó
Trang 9Tóm lại, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mối liên hệ là phạmtrù triết học dùng để chỉ sự qui định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫnnhau giữa các sự vật, của một hiện tượng trong thế giới Theo quan điểmnày, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thếnào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau củamột thế giới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả ý thức, tư tưởng củacon người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của mộtdạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của chúngcũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.
1.2 Các tính chất của mối liên hệ
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến vàtính đa dạng phong phú
1.2.1 Tính khách quan của mối liên hệ
Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, là vốn cócủa mọi sự vật hiện tượng Ngay cả những vật vô tri vô giác cũng đang ngàyhàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác nhau(như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm…) tự nhiên, dù muốn hay không, cũng luônluôn bị tác động bởi các sự vật hiện tượng khác Như vậy, theo quan điểmbiện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới
là có tính khách quan Do đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau vàchuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng)
là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của conngười, con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó tronghoạt động thực tiễn của mình
1.2.2 Tính phổ biến của mối liên hệ
Trang 10Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vậthiện tượng khác, không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.Trong thời đại ngày nàykhông có một quốc gia nào không có quan hệ, liên
hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội và ngay cả ViệtNam ta khi tham gia tích cực vào các tổ chức như ASEAN, hay sắp tưói đây
là WTO cũng không ngoài mục đích là quan hệ, liên hệ, giao lưu với nhiềunước trên thế giới
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt
cụ thể tuỳ theo điều kiện nhất định Song, dù dưới hình thức nào chúng cũngchỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất
1.2.3 Tính đa dạng và phong phú của mối liên hệ
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính phổ biến,tính khách quan của sự liên hệ , mà còn chỉ ra tính đa dạng của nó Các sựvật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thểkhác nhau, giữ vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó Mặtkhác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điềukiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vậnđộng, phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau Do đó,không thể đồng nhất tính chất, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhauđối với mỗi sự vật nhất định, trong những điều kiện khác nhau… Có mốiliên hệ bên ngoài, tức là sự liên hệ của các sự vật, hiên tượng với nhau Cómối lên hệ bên trong, tức là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa cácmặt, các yếu tố, các bộ phận, các quá trình bên trong sự vật, cấu thành sựvật Có những mối liên hệ chung của thế giới, lại có những mối liên hệ riêngbiệt trong từng lĩnh vực, từng sự vật, từng hiên tượng cụ thể Có mối liên hệ
Trang 11trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng; lại có những mối liên hệ giántiếp, trong đó các sự vật hiện tượng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau phảithông qua một hay nhiều khâu trung gian Có mối liên hệ tất nhiên lại có mốiliên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật,đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật; lại có mối liên hệkhông cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho sự tồn tại và phát triểncủa nó Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật có mối liên hệ chủ yếu,quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật trong giai đoạn đó, lại có mốiliên hệ thứ yếu Các sự vật, hiện tượng trải qua giai đoạn phát triển khácnhau Chính sự liên hệ tác động qua lại của các giai đoạn kế tiếp nhau ấyquyết định tính liên tục trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển củachúng, tuỳ theo phương hướng của sự tác động mà có mối liên hệ thuậnchiều, ngược chiều, mối kiên hệ đơn hoặc mối liên hệ kép…
Như vậy, sự liên hệ tác động qua lại của các sự vật, hiện tượng trênthế giới không những là vô cùng vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng vàphức tạp Đặc biệt trong lĩnh vực đời sống xã hội, tính phức tạp của sự liên
hệ được nhân lên do sự đan xen, chồng chéo, chằng chịt của vô vàng cáchoạt động có mục đích, có ý thức của con người Chính vì vậy, mà quá trìnhnhận thức và phân loại đúng có mối liên hệ trong xã hội trở nên khó khănhơn nhiều so với trong giới tự nhiên
1.3 Ý nghĩ phương pháp luận cảu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung quantrọng của phép biện chứng duy vật Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận củaquan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể là những quan điểm mang
tính phương pháp luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn Từ việc
nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, nguyên lý vềmối liên hệ phổ biến có ý nghĩa như sau:
Trang 12Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mốiliên hệ với sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng và phức tạp,
do đó, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểmtoàn diện, để đánh giá đúng về sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm phiếndiện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận vềbản chất hay tính quy luật của chúng
2 Quan điểm toàn diện
2.1 Cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện
Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến
và về sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạohiện thực Đó chính là quan điểm toàn diện
2.2 Nội dung của quan điểm toàn diện
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhậnthức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhậnthức đúng đắn về sự vật hiện tượng Một mặt, chúng ta phải xem xét nótrong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khácnhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xéttrong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và giántiếp) đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết "muốn thực sự hiểuđược sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mốiliên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó"
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sựvật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của conngười ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch
sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượnghữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ
Trang 13là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn Có ý thức được điều nàychúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật
và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung,không thể phát triển Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất
cả các mối liên hệ, "cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đè phòng chochúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ởchỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt,nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngangnhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thểhiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chânthực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệcủa sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại vàphát triển của sự vật hay hiện tượng đó
Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xemxét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng
Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiệntượng đó
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắnvới tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phảitrải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để
để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhậnthức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quátnhững tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
2.3 Vai trò của quan điểm toàn diện trong hoạt động của con người
Trang 14Nắm chắc quan điểm toàn diện xem xét sự vật hiện tượng từ nhiềukhía cạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh từmối liên hệ với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp con người có nhận thức sâusắc, toàn diện về sự vật và hiện tượng đó tránh được quan điểm phiến diện
về sự vật và hiện tượng chúng ta nghiên cứu Từ đó có thể kết luận về bảnchất qui luật chung của chúng để đề ra những biện pháp kế hoạch cóphương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạtđộng của bản thân Tuy nhiên, trong nhận thức và hành động chúng ta cầnlưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ trong điều kiện xácđịnh
Trang 15CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục
Trong quan niệm về giáo dục của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, giáo dục không chỉ được coi là phương thức làm giàu tri thức cho con người,phục vụ cho xã hội, mà quan trọng hơn, giáo dục là cách thức làm cho con người được phát triển toàn diện các năng lực của mình Điều này đã được Việt Nam quan tâm từ lâu với quan niệm nền tảng coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Song, để đạt được mục tiêu đó, Việt Nam cần có cải cách trong giáo dục nhiều hơn nữa
Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Căn cứ theo “Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, trong những năm qua, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cụ thể là:
a/ Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học
b/ Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từngbước hiện đại hóa
c/ Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học
và giáo dục nghề nghiệp
d/ Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ Đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý