Các nhà khoa học đã làm rõ hơn khái niệm, đặc trưng, cơ chế vận hành của NNPQ, quan điểm nhà nước và pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, đo dân
Trang 1HỌC VIÊN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
3k3 # eR 2k ok
BAO GAO
TONG HOP KET QUA NGHIÊN CỨU
DE TAI KHOA HOC CAP BO NAM 2007
MS: B 07-40
NHA NUGC PHAP QUYEN-
TU LY LUAN CHU NGHIA MAC-LENIN
DEN THUC TIEN HIEN NAY
Cơ quan chủ trì: VIEN KINH BIEN MAC-LENIN Cha nhiém dé tai: TS PHAM NGOC DUNG
Thu ky: CN TRAN MAI HUNG
HÀ NỘI - 2008
694s
2219 [3 |
Trang 4QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ
NNPQ 0 02ha nan grdere re
Tư tưởng về NNPQ trước Mác 2-2
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về NNPQ
Khái quát quá trình phát triển lý luận Mác-Lênin về
Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về NNPQ 28
Quan niệm hiện đại về NNPQ 2 eee 41
Một số yếu tố chỉ phối sxự hình thành và phát triển của
NNPQ Việt Nam 2222212127 12220 721 exxee 50
HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VẬN DỤNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VỀ XÂY DỰNG NNP(Q 222022222 e 58
Tư tưởng Hồ Chí Minh về NNPQ 58
Khái quát quá trình nhận thức và thực hiện NNPQ của
Đảng Cộng sản Việt Nam 2.2222222-22 zce 73
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NNPQ XHCN VIỆT
NAM THEO QUAN DIEM CUA CHỦ NGHĨA MAC- 9% LENIN VA TU TUONG HO CHi MINH
Mot sé quan diém cia Dang Cong san Viét Nam vé
NNPQ 85
Một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam -.-22222222 re 107 KẾT LUẬN 2-22222222222222z xe 142
Trang 5Thực hiện quyết định số 67/QĐÐ-HVCTQG, ngày 16 tháng ÖI năm
2007 của Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về việc triển khai đề tài khoa học cấp bộ năm 2007 Đề tài đã thực hiện những mục tiêu, nội dung trong để cương nghiên cứu,chúng tôi xin báo cáo tổng hợp quá trình
tổ chức thực hiện và kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài như sau:
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) Việt Nam xã hội chủ nghĩa
(XHCN) của dân, do dân, vì dân là một nội dung quan trọng hiện nay Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng khẳng định “phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NÑPQ XHCN”! ở Việt Nam Đại hội đòi hỏi phải khắc
phục những tổn tại cả về mặt lý luận và thực tiễn về NNPQ; hệ thống thể chế
chức năng nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ công chức; phương thức hoạt động Yêu cầu xây dựng NNPQ trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhiệm vụ bức thiết hiện nay Chính vì vậy việc nghiên cứu quan điểm lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
tư tưởng của nhân loại về NNPQ đang đặt ra hết sức cần thiết
Trong quá trình xây dựng nhà nước cách mạng theo hướng quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước thuộc về nhân đân, nhất là hai mươi năm đổi
mới, Việt Nam đã xây dựng nhà nước theo hướng pháp quyền đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn Song cũng còn tồn tại không ít vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như: Vấn đề quyền lực thuộc về nhân dân còn mang tính hình thức; Hệ thống pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ và còn chồng chéo; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong
‘Dang Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2006, tr 126
Trang 6khác nhau, tình trạng lạm quyền, lộng quyền còn xảy ra khá phổ biến, tham nhũng, hối lộ đang là quốc nạn; sự lãnh đạo của Đảng đối với NNPQ còn nhiều tranh cãi Vấn đề NNPQ đến nay cũng có nhiều nhà khoa học ở các
nước tư bản và các nước xã hội chủ nghĩa như Cộng hoà liên bang Đức, Pháp,
Anh, Mỹ, Otraylia, đã và đang tiếp tục đầu tư nghiên cứu Nhất là trong quá
trình cải tổ, cải cách, đổi mới, nhiều nhà khoa học Nga như LR.Lênin, G.H.Manốp, V.X.Nerơxexan, E.A.Lnkaseva, A.I.Côvalencô, GS Nguyễn Đức Bình, TS Nguyễn Đình Lộc, PGS.TSKH Đào Trí Uc, GS.TS Lé Van Quang, GS.TS Lê Hữu Nghĩa (Việt Nam) Các nhà khoa học đã làm rõ hơn khái
niệm, đặc trưng, cơ chế vận hành của NNPQ, quan điểm nhà nước và pháp
luật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân,
đo dân, vì dân, song chưa có đề tài nào chuyên nghiên cứu về nhà nước pháp quyền từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đến thực tiễn hiện nay Để góp phần làm rõ hơn những vấn đề còn đang tồn tại, việc nghiên cứu “Whà nước pháp quyền từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đến thực tiên hiện nay”
là hết sức cần thiết
2 Quá trình tổ chức thực hiện
Đề tài B.07-40 đã được triển khai nghiên cứu trong một năm (tháng 2/2007 - 2/2008) Đến nay đề tài đã hoàn tất công việc cuối cùng Chúng tôi xin báo cáo quá trình tổ chức thực hiện và kết quả nghiên cứu như sau:
a Trên cơ sở đề cương đã được Hội đồng tư vấn khoa học góp ý kiến,
Chủ nhiệm đẻ tài cùng Viện Kinh điển Mác - Lênin đã xây dựng đề cương chỉ
tiết và các chuyên đề; họp và phân công cần bộ trong viện và mời một số nhà khoa học ở cơ quan khác cùng tham gia Đề tài đã ký hợp đồng với từng cán
bộ khoa học theo phương thức khoán chuyên môn;
b Đề tài rất coi trọng công tác thu thập tư liệu phục vụ nghiên cứu
Nhóm tư liệu đã giúp đề tài thu thập được 2 tập tài liệu với số lượng 600
Trang 7tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở một số nước và Việt Nam;
c Đề tài đã tổ chức nghiên cứu thực tế tại tỉnh Bắc Ninh (tháng 6 năm
2008) Trong thời gian đó, đoàn đã làm việc với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, huyện Lương Tài, huyện Quế Võ và một số xã, phường, thị trấn trong tỉnh;
d Trong quá trình nghiên cứu, các cộng tác viên đã đưa kết quả nghiên cứu phục vụ xã hội: đến nay trong số 17 chuyên dé đã có 4 chuyên đề được xã hội hoá
3 Đề tài đã hoàn thành 3 mục tiêu cơ bản sau đây
a Hệ thống hoá lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các nhà tư tưởng tiến bộ về NNPQ;
b Làm rõ quá trình nhận thức và xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam;
c Đề tài đưa ra một số định hướng xây dựng và hoàn thiện NNPQ Việt Nam XHCN trên cơ sở vận dụng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các nhà tư tưởng tiến bộ
4 Về phương pháp nghiên cứu
Cơ sở nghiên cứu đề tài là lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các tư tưởng tiến bộ trong lịch sử, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở áp dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp xã hội học; phương pháp luật học so sánh; phương pháp hệ thống;
5 Về lực lượng nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nội dung, đề tài đã mời các nhà khoa học
gồm PGS, TS, Thạc sĩ và cử nhân trong Viện Kinh điển Mác - Lênin và một
số nhà khoa học ở Viện nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội;
Trang 8Đề tài “VNPQ- từ lý luận Mác — Lênin đến thực tiên hiện nay” là một vấn đề lý luận và thực tiễn rất rộng, nó liên quan đến đời sống nhà nước
và xã hội, đến kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội từ xưa đến nay Với khuôn khổ đề tài cấp bộ nghiên cứu trong một năm, chúng tôi tập trung nghiên cứu
một số vấn để chủ yếu trong lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các nhà tư tưởng tiến bộ về NNPQ, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xây dựng NNPQ ở Việt Nam hiện nay Đó là vấn đề dân chủ hoá; vấn đề pháp luật và tính tối thượng của pháp luật; thống nhất, phân công và phối hợp các bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước; vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo NNPQ trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
7, Kết quả nghiên cứu
Đề tài đã xây dựng được một ký yếu khoa học gồm: chuyên đẻ với tổng số trang là , một báo cáo tổng hợp gồm trang .: ngoài phần
mở đầu và kết luận, báo cáo tổng hợp gồm 3 chương:
Chương I: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về NNPQ
Chương II: Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt nam vận dụng phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng NNPQ;
Chương lÏI: Xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 9QUAN DIEM CUA CHU NGHIA MAC-LENIN
VE NHA NUOC PHAP QUYEN
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng
bao gồm lý luận về triết học, kinh tế chính trị, CNXH và những vấn đề xã hội
khác; đây là học thuyết về những quy luật phát triển tự nhiên, xã hội vả tư duy của con người, về con đường cách mạng giải phóng giai cấp vô sản và
toàn nhân loại bị áp bức; là thế giới quan hoàn chỉnh và triệt để của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động mà đội tiền phong của nó là Đảng cộng sản
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thể kỷ XIX, là kết quả
của quá trình C Mác và Ph Ăngghen tổng kết lịch sử và đi sâu nghiên cứu
thực tiễn xã hội trong mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản (CNTP) Điều kiện khách quan và chủ quan lúc đó đòi hỏi phải có một lý luận mới thật sự
khoa học và cách mạng Chủ nghĩa Mác đã đáp ứng đồi hỏi đó Chủ nghĩa Mác đã làm sáng tỏ lôgíc lịch sử - tự nhiên về mặt lý luận rằng "Sự sụp đồ
của giai cấp tư sản và thắng lợi của của giai cấp vô sản (GCVS) đều là tất yếu như nhau" Đó là kết quả tất yếu của sự vận động hợp quy luật của đời sống
xã hội, mà cốt lõi của nó là sự phát triển lực lượng sản xuất
Lênin, người đã sáng lập và lãnh đạo đảng Bôn-sê-vích Nga, thực hiện
thành công Cách mạng tháng Mười vĩ đại Cách mạng XHCN tháng Mười
Nga năm 1917 đã mở ra kỹ nguyên mới, tạo bước ngoặt lịch sử cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, kế từ đây chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ lý luận đã trở thành hiện thực trên một phần rộng lớn của trái đất Thời kỳ Lênin, chủ nghĩa Mác đã chuyển trọng tâm từ nhiệm vụ rèn luyện vũ khí lý luận - tư tưởng cho GCVS trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, xã hội
'C Mac va Ph Angghen (1993): Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 4, tr 613
Trang 10nghĩa, củng cố sức mạnh quốc gia, đánh bại kẻ thù xâm lược V.ILLênin là
người đã kế thừa phát triển học thuyết khoa học và cách mạng ấy vào hoàn
cảnh cụ thể nước Nga Lênin đã bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác một
cách sâu sắc và toàn diện Người đã tổng kết thực tiễn và rút ra những kết luận cực kỳ quan trọng làm phong phong phú thêm kho tàng lý luận và phát
triển chủ nghĩa Mác lên một trình độ cao hơn
Sự hình thành chủ nghĩa Mác - Lênin là bước ngoặt cách mạng trong
lịch sử tư tưởng xã hội loài người Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kế thừa trực tiếp hoặc gián tiếp tỉnh hoa văn hóa nhân loại, là một hệ thông lý luận khoa học và cách mạng gồm những nội dung chủ yếu: triết học, kinh tế chính trị và
chủ nghĩa xã hội khoa học Đặc tính cơ bản của tất cả các bộ phận cấu thành
chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kế thừa lịch sử tư tưởng nhân loại có tính phê phán Vấn để nhà nước là một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong học thuyết Mác - Lênin C.Mác, Ăngghen và V.] Lênin với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kế thừa có phê phán các nhà tư tưởng trước và đương thời về nhà nước và pháp luật Đề có nhận thức đây đủ quan điểm nhà nước pháp quyền (NNPQ) của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng
ta cần tìm hiểu tư tưởng NNPQ trong lịch sử
1.1 TƯ TƯỞNG NNPQ TRƯỚC MÁC
Lịch sử tư tưởng NNPQ là tỉnh hoa văn hoá nhân loại Lý luận và thực
tiễn về NNPQ mang nhiều đặc trưng phổ biến, song trong từng điều kiện kinh
tế, chính trị, văn hoá xã hội của các quốc gia - dân tộc khác nhau đã làm cho
lý luận và thực tiễn về NNPQ phong phú và có những nét đặc thù Nhìn một cách khái quát có thé thay, tu tưởng NNPQ được hình thành cách đây hơn hai nghìn năm Lúc đầu chỉ là những ý tưởng, những khía cạnh, những yếu tố có tính đơn biệt trong việc tổ chức quyền lực nhà nước, phát huy vai trò của
Trang 11những ý tưởng, những khía cạnh, những yếu tố pháp quyền được công nhận,
bổ sung và phát triển thành tư tưởng có giá trị phổ biến của nhân loại Nội
dung chú yếu của tư tưởng NNPQ là để cao vai trò của pháp luật, kiểm soát
quyền lực nhằm bảo vệ các giá trị xã hội như tự do, công bằng, bình đẳng,
bác ái, khoan dung, an toàn và phát triển
Nhìn một cách sâu hơn thì lịch sử tư tưởng nhà NNPQ gắn với quá
trình đấu tranh giai cấp nhằm phát huy vai trò của nhân dân, của pháp luật
trong việc bảo vệ những giá trị xã hội cơ bản và giải quyết mối quan hệ khách quan giữa nhà nước và pháp luật và xã hội công dân Xét về nguồn gốc
và bán chất, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội đặc biệt, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau: Nhà nước chỉ có thể tồn tại và thực hiện được vai trò và chức năng nhiệm vụ của mình khi có pháp luật; ngược lại, pháp luật chỉ có thể thực thi bằng nhà nước và chỉ phát huy được hiệu lực của mình với sự bảo đảm băng sức mạnh của nhà nước
Tuy nhiên, trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, thực tiễn tô chức
và thực thi quyền lực nhà nước, thực tiễn xây dựng và thực thi pháp luật lại cho thầy một bức tranh khác, mỗi quan hệ giữa nhà nước và pháp luật dường
như đã bị biến dạng đi dưới tác động mạnh mẽ của các yếu tổ chủ quan vỉ
những mục đích khác nhau, từ đó cũng xuất hiện nhiều cách giải thích khác nhau về môi quan hệ giữa nhà nước và pháp luật Nhà nước vốn là "sản phẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định"! và trong mối quan hệ
với pháp luật, nó cũng phụ thuộc vào pháp luật, đã được đề cao thành lực
lượng "tựa hồ như đứng trên xã hội và ngày cảng tách rời khỏi xã hội"? còn
pháp luật vốn có quan hệ ngang bằng với nhà nước dường như chỉ được coi
là công cụ mà, nhà nước sử dụng để thực thi quyền lực của mình Theo đó,
! C, Mác va Ph Angghen (2000): Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.253
? C Mác và Ph.Ăngghen (2000): Toàn ¿ập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.203.
Trang 12xu hướng lạm dụng quyền lực đã diễn ra một cách phỏ biến Nhà nước dường như đứng trên pháp luật, còn người dân dường như phải phục tùng quyền lực nhà nước và pháp luật do bộ máy quyền lực đó đặt ra Tính giai cấp của pháp
luật đã được đề cao tối đa, còn tính xã hội của pháp luật, vai trò và những giá trị xã hội của pháp luật với ý nghĩa là công cụ dé bao đảm tự do, công bằng,
an ninh và tiến bộ xã hội bị xem nhẹ, thậm chí bị xâm hại nghiêm trọng,
nhất là trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến
Trong tình hình đó, đã xuất hiện nhu cầu đấu tranh chống lại tình trạng
cực quyền, lạm quyền, nhằm để cao vai trò của pháp luật và giải quyết mối
quan hệ giữa nhà nước và pháp luật Đây là cuộc đấu tranh rất lâu dài, phức
tạp Chúng lại càng trở nên phức tạp hơn khi nó trở thành tâm điểm của các
cuộc tranh luận chính trị, triết học và luật học Nhiều nhà tư tưởng lớn đã
tham gia vào những cuộc tranh luận này và những ý tưởng mới đã xuất hiện hình thành nên tư tưởng nhà nước pháp quyền
Ở phương Đông (Trung Quốc), vào thời Xuân Thu (685 trước công nguyên) đối lập với thuyết đức trị của Khổng Tử (551-479) là thuyết pháp trị Pháp trị là học thuyết chính trị của phái pháp gia, ra đời cùng thời với đạo
Không do Quản Trọng (680-645 TCN), Thương Ướng (347-284 TCN) đề
xướng, Hàn Phi Tử (280-230 TƠN) phát triển Tư tưởng co ban cua hoc
thuyết pháp trị chỉ là thừa nhận pháp luật, dùng hình phạt nghiêm minh,
không thừa nhận đức trị của đạo Không
Theo thuyết pháp trị thì vua phải được trang bị ba vấn đề: Pháp (Thương Thông ), Thế (Thân Bát Hại), Thuật (Hàn Phi Tử) Nhà nước phải
dùng pháp luật để trừng trị, răn đe, dân sợ mà tuân theo Nhà nước phải tạo ra
uy quyền tuyệt đối Nhà nước phải có thuật dùng người và thực hiện chế độ
thưởng phạt nghiêm minh Như vậy, thuyết pháp trị không phải là NNPQ
(law-based state), nhưng tư tưởng cơ bản của nó là sự ngự trị, sự thống trị của
pháp luật (rule of law)
Trang 13hiện của tư tưởng đề cao pháp luật Đặc biệt giai đoạn lịch sử khi Việt nam
giảnh được quyền tự chủ, nhất là khi chế độ phong kiến đang lên từ thế kỷ
XV đến giữa thế kỷ XVII Thời Lý Trần (thế kỷ XII-XIV), năm 1340 vua
Trần Dụ Tông đã sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn #inb
Thư Thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Nguyễn Trãi đã soạn Quốc triểu hình luật (1440-1442) Phan Phù Tiên soạn Quốc triều luật lệnh (1440-1442) Quốc triểu hình luật (thường gọi là Bộ luật Hồng Đức) là bộ luật chính thống
không chỉ trong thời Lê Sơ mà còn cả trong thời Hậu Lê (1428-1789) Vào
giữa thế kỷ XIX Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ủng hộ thuyết pháp trị với
tư tưởng cách tân ở mức độ nhất định đã có những dấu hiệu của tư tưởng về
một NNPQ.!
Triết lý phương Đông cô đại nghiêng về tính nhân văn của con người, còn triết lý phương Tây nghiêng về việc giải quyết các mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người cá nhân với cộng đồng thể hiện qua
việc tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và cơ cấu để thiết lập mỗi quan hệ
biện chứng, tác động qua lại phụ thuộc và hài hoà giữa pháp luật và quyền lực Theo các triết gia phương Tây, quyền lực muốn trở thành sức mạnh thì phải dựa vào pháp luật và bị ràng buộc bởi pháp luật
Solon (638-559 TCN) là người đầu tiên nêu ý tưởng về NNPQ, khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc để cao vai trò của pháp luật “quyền lực cần đặt ngang hàng với pháp luật, cả hai đều là phương tiện để đạt tới tự
do và công bằng” Cải cách của Solon với việc thành lập Hội đồng quý tộc, Hội đồng chấp chính và Toà án hội thẩm vừa đem lại cho những người cầm quyền vừa đem lại cho người dân quyền lựa chọn và giám sát các quan chức
nhà nước Theo ông, “Chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự
thống nhất”
' Dao Tri Uc (2005): Xdy dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.26
Trang 14Heraclit (530-500 TCN) đã có bổ sung quan trọng, ông coi pháp quyền
là phương tiện (công cụ) quan trọng để chống lại cực quyền, vì vậy ông kêu
gọi: “Nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương
thân của mình”!,
Với Socrates (469-399 TCN) quan niệm về công lý trước hết phải là
sự tuân thủ pháp luật Ông cho rằng, “Giá trị cao nhất là công lý, nghĩa là sống tuân thủ pháp luật của nhà nước”? Theo ông, xã hội không thể vững
mạnh và phôổn vinh nếu các pháp luật hiện hành không được tuân thủ, giá trị
của công lý chỉ có được khi sự tôn trọng pháp luật
Plato (427-374 TCN) là nhà triết học cổ Hy Lạp vĩ đại nhất mọi thời
đại với ba tác phẩm Chính khách (370 TCN), Luật pháp (360 TCN), Nền
cộng hoà (360 TƠN) Ông phát triển ý tưởng về thượng tôn pháp Theo ông
tinh thần thượng tôn của luật phải là nguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; “nhà nước sẽ suy vong nếu
pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền; ngược lại, nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật và những nhà chức trách
coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật”
Aristote (384-322 TCN), là người đã tiếp tục phát triển các quan điểm ctia Platon vé NNPQ Trong tac pham Hién ché Athens (Athens Constitution,
350 TCN), Chính trị (Politics, 350 TCN), Aristote đã bỗ sung khía cạnh mới
về mối quan hệ giữa chính trị (nhà nước) và pháp luật Ông đề cao tính tối
thượng của pháp luật Theo ông, việc dé cao pháp luật phải gắn với cơ chế và
hệ thông các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước Ông là người đầu tiên nêu
ý tưởng về sự phân quyền: “Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật,
! Xem: Thuyết "Tam quyền phân lập" và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, bản dịch của Viện
Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội 1992, tr.6
? Xem: Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới, bản dịch của Đính Văn Mậu và Phạm Hồng
Thái, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.72-73
3 Xem: Platon Toàn tập, tập 3, phần 2, Nxb Tư tưởng, Mát-cơ-va,1972 (tiếng Nga), tr.188
Trang 15cơ quan thực thi pháp luật và toà án”'
Ciceron (106-43 TCN) tiếp tục phát triển ý tưởng của Aristote đến
trình độ cao hơn, ông coi nhà nước là "một cộng đồng pháp lí", "một cộng
đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và quyền lợi chung"° Ông là người đã để xuất nguyên tắc: "Sự phục tùng pháp luật là bắt
buộc đối với tất cả mọi người"
Những quan niệm của các nhà tư tưởng thời cô đại ở phương Đông cũng như ở phương Tây tuy được nêu ở những góc độ khác nhau, nhưng tựu trung đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật và xây dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Những ý tướng đó có ánh hưởng rất lớn tới
việc hình thành và phát triển các lí thuyết về nhà nước pháp quyền
Trong thời kì trung cổ, những ý tưởng và quan niệm nói trên vẫn được vận dụng và có những ảnh hưởng quan trọng Tuy nhiên, nếu xét theo quan
điểm phát triển thì trong thời kì này, tư tưởng nhà nước pháp quyền không có những bước phát triển lớn Phải đến thế ki XVII trở đi, nó mới được phục hưng, tiếp tục phát triển và trở thành tư tưởng có giá trị nhân loại phổ biến
Trong lịch sử thế giới, xã hội châu Âu thế kỷ 16, đặc biệt thé ky 18
được xem là thời đại của “ánh sáng” (le siècle đes lumières) ở Pháp, chiếu sáng (Enlightenment) ở Anh, khai sáng (Aufklärung) ở Đức Những khái
niệm như thiên nhiên, con người và nhân quyền, lý trí và khoa học, nhân đạo
và tự do trở nên những khái niệm chủ đạo của “khai sáng” và thường được sử dụng đồng nghĩa với sự khước từ những thế lực cũ đang chế ngự xã hội đương thời Các nhà tư tưởng chính trị - pháp lý như N Machiavelli (1469-
1527) với các tác phẩm Luận về lịch sử La Mã của Livy (1517), Nghệ thuật
! Xem: Thuyết “Tam quyền phân lập" và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại, bản dịch của Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội 992, tr.6
? Xixêrôn (1966): Đói thoại, Nxb Khoa học, Mát-cơ-va (tiếng Nga),dẫn lại từ Nguyễn Văn Niên: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà NGi.1966, tr.15 -16
Trang 16chiến tranh (1520), Cải cách ở Ploriuce (1520), Quản vương (1513), T
Hobber (1588 — 1679) với ¿hành tô của luật tự nhiên và luật chính trị, J Léc-
cơ (1632-1704) với Chuyên luận thứ hai về chính thé công dân, C L
Mongtesquier (1698 - 1755) với Tỉnh thần pháp luật, I Rousseau (1712- 1778) với khế ước xã hội, I Kant (1724-1804) với Khoa học pháp quyên, G
Hegel (1770-1831) với Triết học pháp quyên
Trong trào lưu phục hưng khai sáng, tên tuổi của N Machiavelli
(1469-1527) nỗi bật ở thế ký 16 Trong đó tác phẩm Quân vương (1513) giữ
địa vị quan trọng nhất Trong tác phẩm Quản vương, ông đã giải quyết mối quan hệ giữa đạo đức và chính trị, từ đó ông đã nêu lên những định chế pháp
luật trong việc trị nước
T Hobber (1588-1679) nhà duy vật Anh có nhiều tác phẩm đã được
công bô Những thành tổ của luật tự nhiên và chính tri (The Elements of Law Natural and Plitic, 1640), Công ddan (The Citizens, 1651), Leviathan Tu tưởng của Hobbes luôn luôn thống nhất giữa tính tự nhiên và tính xã hội Trong xã hội, nhà nước (Leviathan) nắm trọn quyên lực tối cao và bất khả
xâm phạm Hobbes lại cho rằng: một khi Leviathen không đảm bảo được an
ninh cho công dân, thì người dân sẽ không bị ràng buộc bởi khế ước và sẽ
giành lại quyền tự nhiên hay tìm kiếm một Leviathen khác để được bảo vệ
J Locke (1632-1704) nha triết học người Anh, trong tác phẩm Chuyên luận thứ hai về chính thể công dân (1609), ông cho rằng, quyền tự do, bình
dang, quyén tư hữu là những quyền tự nhiên mang bản chất muôn đời và không bị tước đoạt Nhà nước thiết lập những đạo luật, sử dụng những lực lượng xã hội để bảo vệ quyền con người Theo ông ở đâu không có luật pháp
thì ở đó không cỏ tự do Lốc-cơ là người đầu tiên khởi thảo một cách chính
thức học thuyết nhân quyền và phân quyền Nhân dân có vai trò to lớn trong
quan niện của ẹ Locke Họ là một lực lượng tiết chế sự lạm dụng quyền lực
nhà nước, là người phán sử cuối cùng Học thuyết của Locke đề cao tự do
Trang 17dân chủ, kiêm soát quyên lực và xây dựng một cơ chế nhà nước hữu hiệu mà
về sau được Mongtesquier kế thừa và phát triển
C.L Mongtesquier (1698 - 1755) là nhà triết học khai sáng Pháp Tiếp
theo Aristote, Locke, ông đã xây dựng học thuyết về phân quyền hoàn chỉnh Trong tác phẩm Tỉnh thân pháp ludt (Déferse de L” esprit de lois), 6ng da dé
ra lí thuyết phân quyền, một trong những nội dung chủ yếu của NNPQ
Mongtesquier cho rằng trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Để chống độc đoán, lạm quyền
thì ba thứ quyền này phải được tế chức sao cho chúng có tính độc lập và kiềm
chế lẫn nhau Cùng với lí thuyết về phân quyền, Mongtesquier cũng bổ sung thêm những quan điểm lí luận quan trọng về quyền tự do chính trị, về giải quyết vấn đề công bằng và bảo đảm tính tối cao của pháp luật
J Rousseau (1712-1778) trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội (Du
Contrat Social), bên cạnh việc phân tích những vấn đề mang tính nguyên tắc
chung của việc cai trị theo pháp luật, đã bàn một cách khá cặn kẽ về các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo lí thuyết của Montesquieu
I Kant (1724-1804) là người có đóng góp quan trọng trong việc phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền Ông đã đưa ra những lập luận có tính
triết lí về nhà nước pháp quyền Hegel (1770 -1831) cho rằng pháp luật thể
hiện ý chi tự do dân chủ; sự phát triển của tư tưởng pháp quyền trải qua nhiều
cấp độ, mỗi cấp độ có hình thức riêng và khởi điểm của sự phát triển pháp
quyền là ý chí tự do; pháp luật là mối quan hệ của con người, có tính trừu
vl
tượng và "là phương thức tồn tại của li tri tu do” '
Đến nửa cuối thế ki XVIII đầu thế ki XIX, về mặt lí thuyết, tư tưởng
nhà nước pháp quyền được phát triển tương đối toàn diện, trở thành một
trong những tư tưởng chính trị - pháp lí có tính phô biến Từ đầu thế kỷ XIX,
' Xem: Nguyễn Văn Niên, Sđd tr 22-23 & 24
Trang 18trào lưu nghiên cứu ứng dụng học thuyết nhà nước pháp quyền vào việc xác lập các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng,
thực thi pháp luật và xã hội công dân Tư tưởng NNPQ được vận dụng trong thực tiến và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Các đại biểu tiêu biểu là Agusste Comte (1798 - 1865) với Chủ nghĩa thực chứng, John Mill (1806
1873), với Bàn về khế ước, C Mác (1818 -1883) và Ph Ăngghen (1820 —
1895) với Tuyên ngôn của Đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư
tưởng nhà nước pháp quyền tiếp tục phát triển trong xã hội hiện đại “xã hội mở” của Karl R Popper (1902 - 1994), Học thuyết về công bằng (A Theory
of Justice 1971) của John Rawis Nghiên cứu lịch sử về nhà nước pháp quyền trước chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể rút ra một số tư tưởng cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước Dưới nhà nước
pháp quyền, nhà nước không chỉ được nhận thức là công cụ cai trị, mà còn
được nhận thức là bộ máy phục vụ nhân dân Do đó, trong nhà nước pháp
quyền, nhà nước không chỉ là nhà nước giai cấp, mà còn là nhà nước của
cộng đồng quốc gia dân tộc Quyển lực của một tổ chức xã hội đặc biệt vẫn
tồn tại, nhưng nhân dân được thừa nhận và pháp lý hoá là quyền lực gốc cuối cùng của quyền lực nhà nước
Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước, thể hiện các mặt chủ yếu: Bộ
máy quyên lực nhà nước được nhân dân chọn Quyễn lực nhà nước là quyền lực uỷ thác của nhân dân Khi chuyển giao thế hệ, cơ chế nối truyền (gia
đình, dòng tộc, dòng họ, nội bộ nam quyén phải được bãi bỏ Công chúng phải được trực tiếp lựa chọn các đại biểu của mình tham gia các công việc
nhà nước các cấp và “cơ chế bãi miễn bất cứ lúc nào”' khi không đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân
Nhân dân được thực thi quyền lực không chỉ gián tiếp mà còn bằng
'C.Mac va Ph.Angghen: Todn tép, Tap 17, Nxb Chinh tri quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 449.
Trang 19những định chế chính trị, xã hội trực tiếp Điều này cho phép nhân dân ước
chế điều chỉnh lại chính nhà nước từ bộ máy, nhân sự cho đến những chính
sách của nó, bằng sự phản biện công dân dưới nhiều hình thức từ sự phát ngôn, giám sát kiểm tra đến sự lựa chọn chính quyền
Thứ hai, tư tưởng tôn trọng và bảo vệ công dân và quyền con người
Sự ra đời học thuyết và hoạt động thực tiễn của NNPQ đã làm cho hàng trăm triệu nhân dân lao động từ địa vị nô lệ trong xã hội thần dân sang địa vị công
dân trong xã hội công dân Tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền công dân và quyền con người thê hiện các mặt chủ yếu: (1) các quyền tự nhiên cơ bản nhất thiêng liêng nhất của con người như quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền tự do dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc được nhà nước tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các quyền thiêng liêng của con người được nâng cao và mở rộng và hiến định hoá, pháp
định hoá Nó tổn tại hiện thực Mỗi cá nhân không ké nam hay nữ đều có thé
phát triển bình đẳng và tự do trước pháp luật, có đủ cơ hội pháp lý để phát huy mọi khả năng của mình Nhà nước hiến định hoặc pháp định và tôn trọng trên thực tế và bằng pháp luật không những các quyền mà còn cả các lợi ích chính đáng, danh sự và nhân phẩm của công dân cũng được bảo đảm Con người được sống trong công lý và lẽ phải; (2) quyền dân chủ chính trị quan trọng hàng đầu trong quyền công dân như quyển bầu cử ứng cử, quyền lập
hội, hội hop, tu do thân thể, tự do tinh thần và tư tưởng cũng được nhà nước
tôn trọng và bảo về bằng pháp luật
NNPQ trong xã hội pháp quyền đồng thời cũng là nhà nước pháp quyền trong xã hội công dân, quyền độc lập trước những lực lượng quyền lực cũng được pháp luật thừa nhận Với quyền dân chủ chính trị dưới nhà nước pháp quyền trong xã hội công dân, bản sắc cá thể với quan niệm chủ nghĩa cá nhân không những được ý thức bởi mỗi cá nhân mả còn được nhà nước tôn trọng và bảo vệ bởi pháp luật Mọi công dân trong NNPQ đều có thể tham gia
Trang 20vào bất cứ lĩnh vực nào trên cơ sở khả năng của mỗi công dân, mà không
bằng sự truyền nói, kế hoạch phân công chủ quan từ chủ thể quyền lực Mọi công dân không còn là những cá thể thủ động, mà trở thành những chủ thê năng động trong hệ thống quyền lực xã hội và chủ động dự phần vào đời
vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền Không phải nhà
nước nào cũng dân chủ, nhưng điều khẳng định là mọi nền dân chủ (dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa) cũng phải thực hiện thông
qua nhà nước
Tư tưởng NNPQ trong lịch sử đã tạo ra những cơ chế thiết chế thực biện pháp luật nhằm duy trì trật tự, tự do công dân Bản thân NNPQ đã là
hình thức biểu hiện của dân chủ Dân chủ cần đến tính pháp lý và tính nhân
văn của nhà nước Lịch sử phát triển NNPQ cho thấy không có NNPQ thì không thể có dân chủ với đúng nghĩa của nó
Hạt nhân tư tưởng lý luận của nhà nước pháp quyền là vấn đề tự do,
dân chủ Pháp luật vừa là sự phản ánh yêu cầu của dân chủ, vừa là công cụ thực hiện dân chủ Quan hệ biện chứng nội tại của dân chủ và pháp luật là mọi
nền dân chủ đều cần đến pháp luật Dân chủ không chỉ dừng lại ở các tuyên ngôn mang tính chính trị mà nó phải được đảm bảo thực hiện thông qua các qui định pháp luật Do đó, quá trình dân chủ hoá là quá trình không ngừng xây dựng
và hoàn thiện pháp luật, càng dân chủ càng cần pháp luật
Sự ra đời và phát triển NNPQ gắn liền với quá trình dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội Dân chủ hoá thực tế là quá trình tìm kiếm và bảo vệ lợi
ích của đa số Dân chủ hoá trong NNPQ biểu hiện các mặt chủ yếu sau đây:
Trang 21(1) Dân chủ trước hết là dân chủ chính trị, mà nội dung cốt lõi của nó
là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, vận hành theo phương thức đa
chiều Dân chủ chính trị dưới nhà nước pháp quyền được pháp luật quy định
bằng các thiết chế dân chủ như quyền bầu cử, ứng cử, quyển kiểm tra giám
sát của công dân đối với các hoạt động của nhà nước Dân chủ chính trị trong
nhà nước pháp quyền tạo cho công dân cơ hội sử dụng pháp luật để kiểm
soát, điều chỉnh nhà nước từ bộ máy nhà nước đến cơ chế vận hành và nhân
sự Dưới NNPQ, nhân dân có tiếng nói cuối cùng quyết định sự tồn tại của
một chính quyền hay phế truất nó đề thay bằng một chính quyền khác;
(2) Quyền tự do thân thẻ, tự do tỉnh thần và tư tưởng Khi người công dân là những cá thể có quyền lực chính trị, trước hết họ phải là những công dân tự do về thân thể, tỉnh thần và tư tưởng Nhà nước pháp quyền phải tồn tại trên nền tảng xã hội công dân Trong xã hội đó, chủ thể quyền lực không còn với tư cách thần dân hay giáo dân mà thay vào đó họ là những công dân
ý thức về sự tổn tại chính mình như một thực thê độc lập trong “tổng hoà mối
quan hệ xã hội”, độc lập trước những lực lượng quyền lực tôn giáo thé luc
bên ngoài hay lực lượng định mệnh lịch sử
Với tính cách là chủ thể quyền lực họ là những cá thể vừa mang tính
cộng đồng, vừa mang bản sắc cá thể; “chủ quyền cá nhân”, “tự trị cá nhân”
được ý thức bởi mỗi cá nhân, được tôn trọng bởi nhà nước và xã hội, được
bảo đảm bởi pháp luật Bản sắc cá thể được thê hiện ở cả đời sống cá nhân và
đời sống cộng đồng Bản sắc cá nhân được hiện diện, không bị cưỡng chế, công
khai hay không công khai phải bỏ đi bản tinh cá thể độc lập Điều đáng lưu ý là
bản sắc cá nhân được hiến định, pháp định tôn trọng, bảo vệ và phát huy;
3 Quân chung nhân dân trong NNPQ có thể tham gia mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên cơ sở khả năng của mỗi cá thể
Hình thức tổ chức nhà nước theo mô hình NNPQ có thể khắc phục có hiệu quả, sự biến dạng của dân chủ XHCN thành tập trung quan liêu, độc trị
Trang 22hoặc vô chính phủ, hỗn loạn, phường hội, lệ làng thay phép nước Song dân
chủ cần đến một hệ thống các nhân tế bảo đảm và phát huy như hệ thống pháp luật dân chủ, phản ánh đúng quy luật khách quan của sự phát triển xã
hội; nền tư pháp độc lập, công chính và dân chủ
Tư tưởng dân chủ trong NNPQ thực chất là xây dựng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước và xã hội tạo ra môi trường pháp lý và dự
luận xã hội cho hoạt động tự do và sáng tạo, nhất là lĩnh vực chính trị cho
mọi công dân Các quan hệ giữa công dân và nhà nước, công dân với công dân, giữa các đơn vị nhà nước với nhau và giữa các nước được bảo đảm bằng pháp luật
Thứ tư, tính thượng tôn của pháp luật NNPQ là nhà nước bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội,
trong đó pháp luật phải phản ánh “ý chí của nhân dân, lợi ích chung của xã
hội” Tính tối cao của pháp luật thể hiện trên hai phương diện: mộ: la, dam
bảo sự thống trị của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; hai là,
tính bắt buộc của pháp luật đối với bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và
mọi công dân
Như vây, pháp luật là tiêu chuẩn, là căn cứ cho mọi hoạt động của nhà
nước và xã hội Nhà nước trong thiết chế NNPQ là nhà nước tuân thủ pháp
luật, mặc dù nhà nước là người ban hành pháp luật Pháp luật trở thành công
cụ chế ước, kiểm tra, giám sát tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà
nước NNPQ tự đặt mình dưới pháp luật chứ không đứng trên, đứng ngoài pháp luật
Tư tưởng pháp luật là công cụ tối cao trong tô chức và quản lý xã hội
đã được hình thành từ thời kỳ cổ đại Socrates cho rằng nếu không tuân thủ pháp luật thì không thể có nhà nước, công dân của nhà nước nào tuân thủ
pháp luật thì nhà nước đó sẽ vững mạnh và phồn vinh Theo Platon thì sự sụp
đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào pháp luật không có hiệu lực và nằm
Trang 23dưới quyền của một ai đó Còn Aristote cho rằng, pháp luật là tối cao, pháp
luật cần thống trị trên tất cả Nếu ở nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là những nô lệ của pháp luật thì ở đó có
sự cứu thoát của nhà nước
Với sự ra đời học thuyết về NNPQ thì sự ngự trị của pháp luật mang
hệ thống, phương tiện thực hiện quyền lực cũng không khác biệt với các hình thức nhà nước không pháp quyền, nhưng pháp luật là phương tiện hàng đầu
trong các tương tác quyền lực và xã hội
Pháp luật không chỉ là công cụ tổ chức và quản lý khách thể, mà còn để
tổ chức và quản lý bản thân nhà nước Nó không còn là công cụ độc quyền
của nhà nước để hợp lý hoá nền cai trị chuyên quyền NNPQ dùng nó để thể chế hoá nền chính trị phục vụ Pháp luật trở thành công cụ kiểm tra, giám sát
tổ chức và phương thức hoạt động của nhà nước Pháp luật không chỉ là công
cụ duy trì trật tự và phát triển xã hội, mà còn là công cụ duy trì sự tồn tại của
nhà nước
Theo quan niệm truyền thống ở phương Tây, trong NNPQ, pháp luật
có tác dụng tương tác đa chiều Đối với xã hội, nhà nước đóng vai trò quản
trị, điều tiết, kiểm tra Đối với nhà nước, xã hội công dân là người có quyền
giám sát, phản biện, hậu thuẫn hay phế truất quyển lực của nhà nước Đề làm việc đó, cả nhà nước và công dân đều phải hành động theo qui định của pháp
luật Nhà nước và công dân đều có quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật
Công dân có trách nhiệm đối với nhà nước như thế nào thì nhà nước có trách
Trang 24nhiệm với công dân như vậy Không những thế, pháp luật còn có sự tương tác
nhiều chiều giữa nhà nước và pháp luật, giữa pháp luật với xã hội
Hai là, luật pháp phải là luật pháp dân chủ Để đảm bảo được tương tác
đa chiều, pháp luật phải là pháp luật dân chủ, trong khi nhà nước có trong tay hàng loạt công cụ, chế định cưỡng bức có hiệu lực, hiệu quả đối với công dân,
thì công dân không có công cụ vật chất tác động lên nhà nước, mà công cụ
duy nhất là luật pháp, chỉ có luật pháp “dân chủ triệt để” mới có thể hạn chế được sự lạm quyền của công chức nhà nước, nhà nước không tự do thao túng
luật pháp, không sử dụng luật pháp như là công cụ khép kín trong các thành
phần của bộ máy nhà nước
Luật pháp dân chủ có tác dụng quan trọng: (1) làm cho NNPQ không
phải nhà nước đóng, mà là một nhà nước mở về nhân sự, về sự dự phần của
công đân cả về mặt tổ chức, định chế quyền lực nhà nước; (2) luật pháp dân chủ đem lại sự chế định hiện thực của công đân lên nhà nước, hiện thực hoá các quyền của công dân; (3) luật pháp dân chủ không phải là cái quy định cho nhà nước quyền ban cho hay không ban cho, hay buộc công dân phải cầu xin những gì đương nhiên họ được hưởng Nhà nước chỉ là người xác nhận pháp
lý cho công dân Luật pháp dân chủ phải được chi phối mọi mặt đời sống xã hội, nó phải là quy phạm cao nhất so với các quy phạm khác Luật pháp tuy không thoát khỏi đời sống đạo đức nhưng khi có sự xung đột giữa các loại quy phạm thì chuẩn mực pháp lý là cái có tính quyết định vì nó là cái quan trọng nhất đảm bảo quyền con người và quyền công dân
Thứ năm, tư tưởng tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền Để
đảm bảo những yêu cầu, những tư tưởng cơ bản của NNPQ, thì tổ chức quyền lực nhà nước phải thích hợp với việc sử dụng cơ chế dùng quyên lực kiểm tra
là giám sát quyền lực
Tất cả các loại nhà nước đều phải thực hiện thông qua các cá nhân cầm quyền Quyền lực chung giao cho các cá nhân luôn luôn có xu hướng bị lạm dụng thành quyển lực riêng Tập trung quyền lực tất yếu dẫn đến độc đoán,
Trang 25chuyên quyền, độc trị Để khác phục tình trạng đó, tư tưởng lý luận về NNPQ
là quyền lực nhà nước phải được phân định thành lập pháp, hành pháp và tư
pháp Theo các nhà tư tưởng, các quyền này độc lập với nhau như một giải
pháp quan trọng nhất để không hình thành chế độ độc tài, chuyên chế Ba
nhánh trong quyền lực nhà nước ràng buộc lẫn nhau, tạo nên một trạng thái
“dường như nghỉ ngơi hoặc bất động”, nhưng vì tất yếu của mọi sự vật là vận động, nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới một cách nhịp nhàng”
Về quyển lập pháp, đó là quyền làm luật, sửa đổi hay huỷ bộ luật nhưng nội dung của luật pháp phải thể hiện được ý chí chung nhất của quốc gia dân tộc Quốc hội là cơ quan do phổ thông đầu phiếu bầu nên để thay nhân dân thực hiện quyền lập pháp Quốc hội làm việc tuy độc lập với dân chúng nhưng phải trên cơ sở ý chí của nhân dân Cơ quan này có các chức
năng cơ bản như: lập hiến, lập pháp và kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật
Về cơ cấu cơ quan này có thể có hai viện, thượng viện và hạ viện Hai viện
này thảo luận riêng rẽ quan điểm và có quyền phủ định những dự định của
nhau nhằm xác điịnh một quan điểm tối ưu;
Về quyền hành pháp, đó là cơ quan hành động ý chí chung của nhân đân Chức năng của cơ quan hành pháp là thực hiện luật trong quản lý đất nước Cơ quan này cũng phải xây dựng quân đội mang tính nhân dân để dam bảo quyền công dân và quyền con người;
Về quyển tư pháp, đó là quyền xét xử, chức năng của cơ quan tư pháp
là xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật cả từ phía công dân và nhà
nước; bảo vệ pháp luật, công lý, tự do công dân và trật tự an toàn xã hội
Tư tưởng phân quyền trong NNPQ là phân định trong phối hợp chức
năng, nhiệm vụ trong cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất, làm cho quyền
lực nhà nước vận hành nhịp nhàng Sự phân quyền càng rõ, càng độc lập thì
sự kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ và có hiệu quả Các cơ quan lập pháp,
! Charles de Secondat Montesquieu: T?nh thần pháp luật, bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr 110
Trang 26hành pháp và tư pháp cần độc lập với nhau Nếu hành pháp nhập vào lập pháp
thì quyền lực sẽ vào tay một người Viện nguyên lão sẽ không còn tự do, luật được đặt ra và thi hành một cách độc tài Nếu tư pháp nhập vào lập pháp thì sẽ
dẫn dến độc đoán, vi phạm quyền được sống, quyền mưu cầu hành phúc, xâm hại quyền con người và quyền công dân Nếu một người nắm cả ba quyền thì
sẽ là một chế độ độc trị, chuyên chế Theo Montesquieu, không nên để một cá
nhân “nhúng tay” vào cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba cơ
quan lập pháp, hành pháp và tư pháp dù độc lập nhưng lại ràng buộc chặt chẽ, quan hệ đan xen với nhau bổ sung cho nhau, tạo nên sự vận động chung của
toàn hệ thống quyền lực nhà nước
Tư tưởng lý luận về NNPQ trong lịch sử trước chủ nghĩa Mác - Lênin
có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, có thể khai thác để xây dựng NNPQ của
dân, do dân, vì dân Vì nó coi nhà nước là tổ chức công quyền Nhà nước và công dân đều chịu sự ràng buộc bởi pháp luật và thống trị xã hội bằng pháp luật Tư tưởng và hình thức tổ chức nhà nước chống lại sự chuyên quyền độc đoán và sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước và viên chức nhà nước bằng cơ chế
“tam quyền phân lập” Giá trị tư tưởng NNPQ trước chủ nghĩa Mác còn coi công dân là chủ thể quyền lực xã hội, là đối tượng phục vụ của nhà nước Nhà nước phải có trách nhiệm với công dân và phải đảm bảo tự do dân chủ cho
mỗi công dân trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật
Do đứng trên thế giới quan duy tâm về lịch sử, đồng thời xuất phát từ lập trường và lợi ích của các giai cấp bóc lột và do hạn chế lịch sử, nên các nhà tư tưởng trước chủ nghĩa Mác còn có những hạn chế như: chưa thấy được vai trò của quần chúng nhân dân, đặc biệt là GCVS trong xây dựng và tổ chức nhà nước; chưa thấy được nguồn gốc và bản chất của nhà nước kể cả NNPQ
chưa thấy được bản chất giai cấp của nhà nước và pháp luật trong xã hội còn
giai cấp và đấu tranh giai cấp; chưa thấy được sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng chính trị và chức năng xã hội của nhà nước một cách hiện thực
Trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng về lịch sử, kế thừa những tư
Trang 27tưởng tiến bộ của nhân loại về nhà nước, các nhà kinh điển Mác - Lênin đã khắc phục những hạn chế tồn tại, mà hướng tới một NNPQ đích thực
1.2 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ NNPQ
Vấn đề nhà nước và pháp luật là một trong những vấn đẻ có tầm quan trọng đặc biệt trong chủ nghĩa Mác - Lênin Với phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, C.Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã kế thừa và đấu tranh không khoan nhượng với các nhà chính trị - pháp lý của các thời đại
trước và đương thời Để thấy rõ được quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp quyền, trước hết tìm hiểu quá trình phát triển quan điểm lý luận về nhà nước và pháp quyền của chủ nghĩa Mác - Lênin
1.2.1 Khái quát quá trình phát triển quan điểm lý luận về NNPQ của C Mac, Ph Angghen va V.I Lénin
Tư duy lý luận của mỗi thời đại đều là sản phẩm của lịch sử Lý luận
chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là thành tựu vĩ đại của nhân loại được bắt
nguồn từ nền sản xuất vật chất trên cơ sở lực lượng sản xuất đã được xã hội hoá từng bước của chủ nghĩa tư bản Trên cơ sở đó, quan điểm lý luận về nhà nước và pháp quyền của chủ nghĩa Mác - Lênin được phát triển qua ba giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất từ năm 1843 đến khi ra đời tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848)
Trong giai đoạn này, Mác và Ăngghen viết rất nhiều tác phẩm chỉ rõ cơ
sở của toàn bộ lịch sử xã hội loài người cũng như cơ sở hoạt động của nhà nước và pháp quyền Trong Ơia đình thân thánh (1845) và Hệ tư tưởng Đúc (1846), Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị và Tình cánh của giai cấp lao động Anh Mác và Ăngghen đã phân tích xã hội công dân ở những giai đoạn khác nhau là “cơ sở của toàn bộ lịch sử, là cơ sở hoạt động của nhà nước
Trang 28ool
và pháp quyền”' Trong Sự khốn cùng của triết học (1847), Mác đã nhấn
mạnh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của xã
hội, của nhà nước và pháp quyền Tiếp đó, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng san (1847), Lao động làm thuê và tư bàn (1847), Tuyên ngôn của
đảng cộng sản (1848), Mác và Ăngghen đã khẳng định “giai cấp vô sản thiết
lập sự thống trị của mình bằng cách mạng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản””?
Giai đoạn thứ hai, giai đoạn tổng kết các cuộc cách mạng từ Cách mạng năm (1848 - 1850) đến Công xã Pari (1817)
Giai đoạn này Mác và Ăngghen viết rất nhiều tác phẩm tổng kết các
cuộc cách mạng liên quan đến vấn đề nhà nước: Đấu tranh giai cấp ở pháp
1848 — 1850, Chiến tranh nông dân ở Đức, Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapactơ (1853), Nội chiến ở Pháp (1871), Vấn đê nhà ở (1873), Phê phán cương lĩnh Gô ta (1875), Chống Đuy rình (1878), Nguôn gốc của gia đình, của chế độ tư hiữm, của nhà nước (1884) những lời tựa và thư chúc mừng va
trao đối trong giai đoạn này tổng kết các cuộc cách mạng
Mác và Ăngghen đã phê phán quyết liệt NNPQ tư sản phản động, ăn
bám và đưa ra tư tưởng lý luận cách mạng vô sản Trong tác phẩm Ngày 18 tháng Sương mù của Lui- Bô-na-pác, lần đầu tiên Mác đưa ra quan điểm phải đập tan bộ máy nhà nước pháp quyền tư sản và đưa ra lý luận cách mạng vô sản không ngừng; liên minh công nông mà, giai cấp vô sản là người lãnh đạo liên minh này, thực hiện chủ quyền nhân dân
Tư tưởng NNPQ được phát triển hơn nữa trong thời kỳ Công x4 Pari,
thể hiện trong Lời kêu gọi thứ nhất của Tổng hội đông Hội hiên hiệp công
nhân quốc tế về cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (26 tháng 7 năm 1870), lời kêu
sọi thứ hai về cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (2/9/1870), Nội chiến ở Pháp (1871) Trong các tác phẩm đó, đặc biệt Nội chiến ở Pháp, Mác và Ăngghen
' C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn rập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3, tr 54
? C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn ráp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 4, tr 612.
Trang 29đã kịch liệt phê phán bản chất phản động chống nhân dân, phản quốc của tất
cả các cơ quan NNPQ tư sản Pháp, từ cơ quan lập pháp đến hành pháp và tư pháp, qua đó phát triển học thuyết cách mạng vô sản, học thuyết chuyên chính vô sản và học thuyết về nhà nước nhân dân
Trong Nội chiến ở Pháp, Mác chỉ rõ công xã thực chất là “Chính phủ của giai cấp công nhân, là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp những người
sản xuất chống lại giai cấp chiếm đoạt, là hình thức chính trị rốt cuộc đã tìm
ra được khiến cho có thể thực hiên được việc giải phóng lao động về mặt kinh tế” Việc thành lập Công xã có nghĩa là quần chúng nhân dân (xã hội) đoạt lại quyền lực nhà nước, biến nó từ chỗ áp bức thống trị xã hội thành sức
sống của bản thân xã hội Công xã chính là hình thức chính trị của sự giải
phóng giai cấp glai cấp, con người và xã hội
Phê phán quan điểm phân quyền trong nhà nước tư sản, Mác đã đưa ra quan điểm mới cho rằng, quyền lực nhà nước là thống nhất và nó phải tập trung vào tay nhân đân Mác đã đưa ra những nguyên tắc tư tưởng nhà nước pháp luật quan trọng: xây dựng quân đội nhân dân, nhân dân bàu giám sát những người đầy tớ của mình; các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều được nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước cử tri, có thể bãi miễn bất cứ lúc nào; nhà nước áp dụng chính thể cộng hoà đân chủ, thực hiện đầy đủ nguyên tắc của chế độ tập trung dân chủ; nhân dân tham gia quản lý kinh tế văn hoá và xã hội; phát triển lý luận quá độ xã hội chủ nghĩa và quy luật tiêu vong của nhà nước
Năm 1875, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta, Mác chỉ rõ:
“giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của GCV%'” Trong lời nói đầu viết cho
' C.Mác và PhÃngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập L7, tr 454
?C.Mác và PhĂngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 19, tr 47.
Trang 30tác phẩm Nội chiến ở Pháp (1891), Ăngghen bổ sung “Nhà nước cũng chỉ là
một tai họa mà giai cấp vô sản chiến thắng trong cuộc đấu tranh giành quyền thống trị giai cấp đã thừa hưởng, cũng giống như Công xã trước kia, giai cấp
vô sản chiến thắng không thể không tức khấc tước bỏ những mặt nguy hai nhất của tai họa đó, cho đến khi một thế hệ lớn lên trong những điều kiện xã hội mới và tự do, có đủ sức vứt bỏ được tất cả các thứ đồ cũ là nhà nước kia
đi” Năm 1879 trong tác phẩm Chống Đuy rỉnh, Ăngghen phê phán luận
điểm nhà nước nhân dân tự do của Đuyrinh, đồng thời đưa ra luận điểm “tự tiêu vong” của nhà nước chuyên chính vô sản
Giải đoạn thứ ba, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Những tư tưởng lý luận nhà nước và pháp quyền của chủ nghĩa Mác được V.I Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển trong quá trình giành chính quyền và xây dựng nhà nước công nông binh đầu tiên trên thế giới Một mặt, Lênin làm sáng tỏ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác về nhà nước
và pháp quyền, vận dụng quan điểm lý luận sắc bén của Mac va Angghen
trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại các nhà lý luận cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế ]I (1889-1914) mà những đại biểu chủ yếu là Cauxky, Plêkhanôp, Bukharin, giành lấy và tổ chức thực thi quyền lực nhà
nước Đồng thời, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác về nhà nước và pháp quyền
lên một bước mới trên một số phương diện phù hợp với trình độ phát triển mới của thực tiễn
Đứng trước thực tiễn mới của lịch sử, về lý luận Lénin phat triển: Mới
là, nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không
thể điều hoà được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn
giải cấp không thể điều hoà được”; Hai là, Lênin khẳng định, không thể
C.Mác và PhÄngghen: Toàn rập, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 22, tr 291
? V.] Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Mát-cơ-va 1976, tập 33, tr 9.
Trang 31không dùng cách mạng bạo lực để thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô
sản; 8z là, phải đập tan bộ máy nhà nước tư sản thiết lập nhà nước chuyên
chính vô sản; Bốn Ia, phat triển chế độ dân chủ nhân dân Đặc biệt, tư tưởng NNPQ được Lênin phát triển trong quá trình xây dựng nhà nước kiểu mới
Trong dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản (b) Nga năm 1919, Lênin đã đặt
ra cho Nhà nước Cộng hoà Xô-viết những nhiệm vụ lịch sử: Mộ: là, thiết lập
và phát triển trong mọi tổ chức nhà nước từ cơ quan lập pháp, hành pháp và
tu pháp mang tính quần chúng vô sản và nửa vô sản Chính quyền Xô-viết phải xây dựng những cơ quan đó trở thành nền tảng tất yếu của bộ máy nhà nước từ dưới lên trên ở địa phương cũng như ở Trung ương, phải thu hút được những người lao động tham gia quản lý Nhà nước /a¡ ià, Nhà nước Xô-viết thực hiện một nền dân chủ thực sự cho đại đa số nhân dân lao động; Ba là, Nhà nước Xô-viết tạo điều kiện cho quần chúng lao động tác động một cách trực tiếp vào công việc xây dung và quản lý nhà nước; Bốn là, có mối liên hệ mật thiết giữa bộ máy nhà nước với quần chúng nhân dân; Năm là, dân chủ
thực sự trong nhân dân bằng việc thực hiện cơ chế nhân đân tham gia lựa chọn
các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, bỏ chế độ đại nghị; Sáu là, chống chủ nghĩa quan liêu; Bẩy là, giáo dục quần chúng và bảo đảm cho họ được hưởng các phúc lợi của nền văn minh và dân chủ!
Về pháp luật, Lênin khẳng định vai trò to lớn của pháp luật và pháp chế
trong quản lý xã hội mới, coi đó là điều kiện quan trọng giáo dục con người
mới, xây dựng thành công CNXH Trong nhà nước XHCƠN, xã hội phải “căn
cứ vào luật lệ của mình là điều kiện cần và đủ cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi triệt để” Đặc biệt, khi chuyển sang chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin
nhấn mạnh “những hình thức quan hệ mới được xác lập trong quá trình cách
mạng và trên cơ sở chính sách kinh tế mới do chính quền thực hiện phải được
“thể hiện trong pháp luật và được bảo vệ về mặt tư pháp”
Căn cứ vào lý luận của Mác về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản
! V.J Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Mát-cơ-va 1976, tập 38, tr 112-116.
Trang 32trình bày trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô ta, Lênin phân tích hai giai
đoạn tiêu vong của Nhà nước Trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, tuy tư liệu sản xuất đã thuộc sở hữu của toàn xã hội; nhưng sản phẩm vẫn được phân phối theo lao động là quyền lợi bình đẳng, nhưng vẫn là bình
dang theo pháp quyền tư sản, dựa trên tiền để không bình đẳng nên “pháp
zoo]
quyén tu san van tiép tuc thong tri”’
1.2.2 Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về NNPQ
Trong khi phê phán học thuyết nhà nước, NNPQ của các nhà tư tưởng
đi trước và đương thời như Hegel (1770 - 1931), Vaitling (1807-1871) Pru- đông (1809-1865), Lat-xan (1825-1864), Duy-ring (1833-1921), Bében (1840-1913), Cau-xky (1854-1938), Bécxtanh (1850-1932), Tơ-rốt-xki (1879-1940) Đồng thời, tổng kết các cuộc cách mạng năm 1848 - 1851 ở
Châu Âu, Cách mạng Công xã Pari năm 1871, Cách mạng năm 1905, Cách
mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, C.Mác, Ph.Ăngghen dé
xướng nhà nước cách mạng của GCVS, Lênin phát triển và hoàn thiện
Mặc dù khái niệm NNPQ chưa được các nhà kinh điển Mac - Lênin sử
dụng, nhưng những quan điểm cốt lõi của NNPQ lại được các nhà kinh điển
Mác - Lênin đẻ cập sâu sắc, khoa học và cách mạng Đó là “Nhà nước của
nhân dân”, nhà nước kiểu mới, nhà nước hợp hiến, hợp pháp, xây đựng chế độ
“đân chủ triệt để”, “dân chủ đến cùng”, pháp chế nghiêm minh theo hướng giải phóng con người, giải phóng giai cấp và xã hội “Biến nhà nước từ cơ
quan đứng trên xã hội thành cơ quan hoàn toàn phục vụ xã hội”, “Pháp luật
phải lấy xã hội làm cơ sở” “Luật pháp tồn tại vì con người”
Quan điểm cốt lõi của nhà nước pháp quyền thể hiện qua nhiều tác
phẩm: Góp phần phê phán triết học pháp quyên của Hêghen (1843), Gia đình thân thành (1844), Hệ tư tưởng Đúc (184G), Sự khốn cùng của triết học
VT,Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến Bộ, Mat-co-va 1976, tập 33, tr 115.
Trang 33(1847), Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapactơ (1853), Vấn đề nhà ở
(1873), Chống Đuyrinh (1878), Luních Phoiơbắc và sự cáo chung của triết
học cổ điển Đức (1886), Nhà nước và cách mạng (1917), Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (1918), Thà ít mà tốt (1923)
Chủ nghĩa Mác - Lênin không phủ nhận bản chất tiến bộ và những giá trị nhân văn của những tư tưởng về NNPQ, mà các nhà kinh điển Mác - Lênin
kế thừa Khi đánh giá triết học Kant, Các Mác chỉ ra “ở Kant, nước cộng hoà
với tính cách là nhà nước duy nhất hợp lý, trở thành định đề của lý trí thực tế
không bao giờ thực hiện được nhưng việc thực hiện định đề đó luôn luôn là
mục đích của chúng ta và là đối tượng tư duy của chúng ta” Quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin về NNPQ thể hiện trên ba vấn đề cơ bản sau đây:
Một là, quan điểm chung về NNPQ
Thứ nhất, xã hội là cơ sở vật chất của nhà nước lập hiển, pháp luật và
tự pháp Trước C.Mác, nhiều nhà tư tưởng đã thần thánh hóa nhà nước và pháp luật Coi nhà nước là một lực lượng siêu nhiên, chí phối đời sống con người Họ quan niệm nhà nước và pháp luật không chỉ huyền bí mà còn là
một hiện tượng vĩnh cửu, bất biến, phi giai cấp
Khác với họ, khi nghiên cứu nhà nước, pháp luật, Mác và Ăngghen đã nghiên cứu sự biến đổi của lịch sử loài người trong mối quan hệ hữu cơ giữa con người, xã hội và tự nhiên Đồng thời dựa vào các công trình khoa học của Moócgan, Bachôphen, Maclenan, mà nghiên cứu quá trình phái triển xã hội loài người ở từng giai đoạn lịch sử trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh một cách khoa học sự xuất hiện và phát triển của nhà nước lập hiến, pháp luật và tư pháp
Trong tác phẩm Phế phán triết học pháp quyển của Hêghen năm 1943,
Mác phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen, khi Hêghen đã đưa ra sự tương phản không thể giải quyết được về sự tất yếu bên ngoài, mục đích bên
mow
trong, "luật pháp", "lợi ích" của gia đình và xã hội phải nhượng bộ "luật
Trang 34pháp không chỉ lợi ích của chúng tôi, mà cả "luật pháp" của chúng ta cả
những "quy định bản chất” của chúng ta cũng "lệ thuộc” vào nhà nước Nhà nước quan hệ với "luật pháp và lợi ích của những lĩnh vực ấy" với tư cách là
"quyền lực tối cao" Mác đã vạch ra "chủ nghĩa thần bí lôgích phiến thần
199]
luan"”' Héghen da coi gia đình, xã hội công dân với nhà nước là hình thức
"biểu hiện của ý niệm đạo đức" tựa hồ như ý niệm hiện thực hoạt động theo một nguyên tắc nhất định Ý niệm biến thành chủ thể độc lập còn, quan hệ hiện thực của gia đình và của xã hội công dân với nhà nước thì biến thành hoạt động bên trong có tính tưởng tượng của ý niệm Như thế là, tất cả điều
đó đều bị đặt lộn ngược Đứng trên lập trường duy vật, Mác chỉ rõ: "Gia đình
và xã hội công dân là những yếu tố thật sự tích cực"? của nhà nước
Gia đình là cơ sở tự nhiên của nhà nước, còn xã hội công dân là cơ sở nhân tạo của nhà nước "Nhà nước chính trị không thể tồn tại nếu không có cơ
sở tự nhiên là gia đình và cơ sở nhân tạo là xã hội công dan"’ Ở đây, không
phải chế độ nhà nước sáng tạo ra xã hội công dân, mà là xã hội công dân tạo
ra chế độ nhà nước Sau này Ph Ăngghen làm rõ thêm: "xã hội công dân là
chiếc chìa khóa"* để tìm hiểu nhà nước, tìm hiểu quá trình phát triển lịch sử
của loài người
Trong tác phẩm Vự án chống khu ủy vùng Ranh của những người dân chủ (1849), Mác đã chỉ ra cơ sở xã hội như một nền tảng vật chất của pháp luật dưới dạng quyền lực - pháp quyền "xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở,
đó chỉ là ảo tưởng của những nhà luật học Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ
sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà,chứ không phải
đo ý muốn tùy tiến của một cá nhân Chừng nào, bộ luật không còn thích hợp với quan hệ xã hội nữa thì nó sẽ biến thành một mớ giấy lộn Các vị không
! C.Mác và Ph.Ängghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.3 13
? C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn rập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.313
? C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn !ập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.315
* C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.491.
Trang 35thể làm cho các đạo luật cũ trở thành cơ sở của sự phát triển của xã hội mới
được, cũng như các đạo luật cũ đó không thể sáng lập ra các quan hệ xã hội
cũ được Các đạo luật cũ đã nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội cũ thì cũng
phải tiêu vong cùng với những quan hệ xã hội cũ đó Chúng không tránh khỏi phải biến đổi cùng với những điều kiện sinh hoạt đang biến đổi”,
Việc khẳng định nội dung luật pháp chịu sự quy định và biến đổi của quan hệ xã hội là sự thể hiện quan điểm khoa học và cách mạng về nhận thức
nguồn gốc, bản chất của luật pháp Điều này đúng với quan điểm của Mác khi
nói trong Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen năm 1843: "Nhà lập
pháp "phải coi mình như là nhà khoa học tự nhiên Ông ta không tìm ra luật,
ông ta không phát minh ra chúng, mà chỉ nêu chúng lên'? Như vậy, quyền
lực nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà
quyền lực nhà nước là "sản phẩm của một xã hội: đã phát triển tới một giai đoạn nhất định" Bản chất hiện thực của nhà nước, pháp luật phải thuộc về con người hiện thực, nhân dân hiện thực
Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen (1843),
Mác viết: "Dưới chế độ quân chủ, tổng thể tức nhân dân bị đặt vào trong những phương thức tồn tại của họ, tức chế độ chính trị của họ Còn trong chế độ dân chủ thì bản thân chế độ nhà nước thể hiện ra là một trong những tính quy định cụ thể là sự £ quy định của nhân dân Trong chế độ quân chủ, chúng ta có nhân dân của chế độ nhà nước; trong chế độ dân chủ, chúng ta có chế độ nhà nước của nhân dân Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế
độ nhà nước ở đây, chế độ nhà nước không chỉ tự nó, xét theo bản chất của nó,
mà còn xét theo sự tồn tại của nó, theo tính hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bẩn thân nhân dân", Nhà nước, pháp luật ở đây xuất hiện đúng chân tướng của nó, tức là "xuất hiện
'C.Mác và Ph.Ängghen: Toản rập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Ha Noi, 2000, tr.333
‡C.Mác va Ph.Angghen: Toan tdp, tap 1, Nxb Chinh tri quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.232
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn ráp, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.252
*C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn rập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.349.
Trang 36với tính cách là sản phẩm tự do của con người""
Từ sự phân tích mối quan hệ nhà nước và pháp luật với tư hữu, C.Mác
va Ph.Angghen cho rằng: "Tư pháp phát triển đồng thời với sở hữu tư nhân””
Do sự phát triển của phân công lao động, ngành công, thương nghiệp phát
triển đã làm tan rã hình thức phong kiến, thì sở hữu tư nhân và tư pháp xuất
hiện đánh dấu một giai đoạn mới của sự phát triển Trong tác phẩm //¿ rư
tưởng Đức (1846), Mác và Ăngghen còn chỉ ra "Vì nhà nước là hình thưc mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để phục vụ lợi ích của họ và còn là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu
hiện một cách tập trung, nên từ đó có thể rút ra kết luận là mọi thiết chế công cộng, đều thông qua nhà nước "3,
Cùng với việc khẳng định cơ sở vật chất của nhà nước, pháp luật và pháp quyền, chủ nghĩa Mác còn vạch ra con đường ra đời của quyền lực
Trong Vấn đề nhà ở (1872), Ăngghen mô tả rằng, trong quá trình phát triển
xã hội, người ta nhận thức thực tiễn trong quá trình sản xuất, phân phối trao đối sản phẩm đòi hỏi phải tập hợp dưới một hình thức chung và nó cứ lặp đi
lặp lại hàng ngày nhiều lần "Quy tắc đó lúc đầu là thói quen, mang tính phổ biến, sau đó trở thành pháp luật"
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bất buộc chung kể cả
viên chức nhà nước và mọi công dân, do nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Pháp luật tồn tại và phát triển trên nền tảng vật chất của các quan hệ, mà trước hết là quan hệ kinh tế Pháp luật không thể xa rời các điều kiện kinh tế - xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ,
pháp luật không thể cao hơn chế độ kinh tế song cũng không thể lạc hậu hơn
chế độ kinh tế Pháp luật hình thành từ nhu cầu của phát triển kinh tế và xã
hội Pháp luật có thể thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội nếu nó phù hợp Trong
' C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn ráp, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.349
? C.Mác và Ph.Ängghen: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.364-365
C.Mác và Ph.Ängghen: Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.90
*C.Mác va Ph.Angghen: Toàn rập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.254.
Trang 37thời đại nào cũng thế, quyền lực nhà nước phải phục tùng những điều kiện
kinh tế Theo chủ nghĩa Mác, "chế độ lập pháp về chính trị cũng như về dân
sự chỉ làm cái việc nói lên ghi chép lại những yêu cầu của những quan hệ kinh tế mà thôi"
Thứ hai, bản chất của NNPQ Quá trình phát triển của các thị tộc, bộ lạc, dẫn tới chế độ tư hữu ra đời, gắn liền với việc phân chia xã hội thành giai cấp "báo hiệu sự ra đời của xã hội văn minh mới; xã hội có giai cấp" Chế độ
sở hữu phát triển qua nhiều hình thức khác nhau: sở hữu ruộng đất, phong kiến, sở hữu động sản phường hội, sở hữu tư bản thủ công đến sở hữu tư bản
hiện đại (sở hữu tư nhân) Tương ứng với sở hữu tư nhân hiện đại là nhà nước
hiện đại Nhà nước hiện đại bị những người sở hữu tư nhân nắm dần dần bằng thuế khóa và nhà nước hoàn toàn rơi vào tay họ qua công trái; diễn biến qua thị trường chứng khoán, ở sở giao dịch Sự diễn biến hoàn toàn phụ thuộc vào
tín dụng, thương nghiệp mà những người tư hữu hiện đại cấp cho nhà nước
Những người hữu sản không còn là một đẳng cấp mà là một giai cấp, nên buộc nó phải tự tổ chức không phải trên quy mô địa phương mà trên quy mô toàn quốc và gắn với lợi ích của giai cấp có của Chủ nghĩa Mác chỉ rõ: "nhà nước ấy chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người
tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở
ngoài nước cũng như ở trong nước"
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ chủ
nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự phát triển rất lớn của công nghiệp và quá trình tập trung cực kỳ nhanh chóng của sản xuất "Sự tập trung tự nó sẽ dẫn thẳng đến độc quyền” và sự cạnh tranh biến thành độc quyền, đó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại” Cuộc cách mạng công
! C.Mác và Ph.Ăngghen: 7oàn rập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.59
? C.Mác và Ph.Angghen: Toàn rập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 50
*C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn iập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.90
“VL Lênin: Toàn ráp, tiếng Việt, tập 27, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.398.
Trang 38nghiệp lần thứ hai đã khởi động, mà khởi đầu là sự phát triển năng lượng mới
- năng lượng điện Điện kết hợp với cơ khí tạo thành điện cơ khí hóa Chính
mô hình sản xuất mới đã tạo ra hàng loạt các ngành sản xuất công nghiệp
mới, sản xuất công nông nghiệp có tính liên hợp Với lợi ích của quy mô lớn,
những xí nghiệp lớn ở các nước tư bản công nghiệp liên hợp lại và phát triển
thành những tổ chức độc quyền, hình thức thống trị phổ biến của nên kinh tế
tư bản chủ nghĩa ở thời kỳ mới - đế quốc chủ nghĩa
Trước bão táp cách mạng và trong những cuộc luận chiến quyết liệt với
các phe phái chống lại chủ nghĩa Mác về nhà nước và pháp luật, Lênin đã bảo
vệ, phát triển chủ nghĩa Mác và vạch rõ sự "lãng quên", "xóa nhòa", "xuyên
tạc” những luận điệu sai trái của bọn xã hội -sôvanh (Bec-xtanh), bọn cơ hội
chủ nghĩa Cauxky, bọn chủ nghĩa xã hội - cách mạng (Bukharm), bọn
Mensevich (Tsecnitsepxky), bọn chủ nghĩa vô chính phủ (Bacunin) trên nhiều tác phẩm: Luận cương tháng tư, Nhà nước và Cách mạng, Những nhiệm vụ
trước mắt của chính quyền Xô viết, Thà ít mà tốt Trong những tác phẩm đó,
Lênin chỉ ra, nhà nước và pháp luật là một hiện tượng lịch sử đặc biệt Và vi vậy, khi xem xét vấn đề nhà nước, phải xuất phát từ đặc điểm kinh tế trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định, từ đó mới có thể thấy được sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự thay đổi các hình thức, phương pháp thống trị của giai cấp Trong xã hội nguyên thủy, khi người ta sống thành từng thị tộc nhỏ với trình độ phát triển kinh tế văn hóa, xã hội thấp trong một trạng thái gần như man rợ, thì người ta chưa thấy dấu tích sự tồn tại của nhà nước và pháp luật Lúc đó, các quan hệ xã hội, bản thân xã hội, duy trì được nhờ sức
mạnh của phong tục tập quán, nhờ uy tín và sự tôn trọng những bô lão của thị tộc "Lúc đó không có một hạng người đặc biệt, người chuyên môn để cai
trị"' Theo Lênin, chỉ khi nào xuất hiện một nhóm người cai trị thì cần có bộ máy cưỡng bức như nhà tù, quân đội để người khác phục tùng thì nhà nước, pháp luật xuất hiện Ông cho rằng: "Nhà nước tức cơ quan bạo lực có tổ chức
- VI Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, tập 39, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.80-8.
Trang 39nhất định phải xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định,
lúc mà xã hội đã phân chia thành giai cấp không thể điều hòa, lúc mà xã hội
không thể tồn tại được nếu không có quyền lực”! Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, xã hội là nên tảng vật chất của nhà nước, NNPQ là sản phẩm của xã hội công dân
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, bản chất của nhà nước là bộ máy cưỡng bức để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với một giai cấp khác là công cụ của "giai cấp có thế lực nhất của giai cấp thống trị về kinh tế và nhờ
có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị"? Trong đa
số những nhà nước tồn tại trong lịch sử, những quyền ban cho công đân còn tỷ lệ
với tài sản của họ Điều đó trực tiếp nói lên rằng "Nhà nước là tổ chức của giai cấp
hữu sản, dùng để bảo vệ giai cấp này chống lại giai cấp không có của"
Trong tác phẩm $ phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến
khoa học (1878), Ăngghen chỉ rõ: "Cái lực lượng cố kết xã hội văn minh là nhà nước Nhà nước này trong tất cả những thời kỳ điển hình vẫn chỉ là của giai cấp thống trị và trong mọi trường hợp về thực chất vẫn là bộ máy dùng để
dan áp giai cấp bị áp bức, bị bóc lột“
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác về nhà nước, pháp luật, Lênin
đã diễn giải một cách rõ hơn về bản chất của nhà nước "Nhà nước không phải là cái gì khác hơn là bộ máy đàn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác"° Nhà nước bao giờ cũng mang tính giai cấp, bất cứ nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực, nhưng toàn bộ chỉ khác nhau ở chỗ bạo lực đối VỚI aI
Thứ ba, quyền lực tốt cao của nhà nước xuất phát từ nhân dân và của
nhân dân Xuất phát từ lập trường dân chủ triệt để, dân chủ đến cùng khi phê
'V J Lénin: Toàn rập, tiếng Việt, tập 29, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr 89
? C.Mác và Ph.Ängghen: Toàn tdp, tiéng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.255
* C.Mác và Ph.Ăngghen: 7oàn rập, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.256
* VI Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, tập 19, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1980, tr.256
Š_V, Lênin: Toàn :ập, tiếng Việt, tập 37, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.3
Trang 40phán quan điểm của Hêghen (1843) vẻ triết học pháp quyền, Mác đã khẳng
định "Chủ quyền của nhân dân không phải cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua mà ngược lại chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân"! Chủ quyền của nhân dân tức là quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về nhân dân Khi nghiên cứu các hình thức nhà nước trong lịch, Mác cho rằng, "Với chế độ dân chủ nhà nước, luật pháp, chế độ nhà nước là yếu tố thống trị,
nhưng nhà nước lại không thật sự thống trị tức là nhà nước không thâm nhập
một cách vật chất vào nội dung của những lĩnh vực phi chính trị khác Trong chế độ dân chủ, thì chế độ nhà nước, luật pháp bản thân nhà nước - trong chừng mực nhà nước là một chế độ chính trị nhất định - chỉ là sự quy định của
nhân dân và là nội dung xác định của nhân dân"2
Mặt khác, không hoạt động nào của nhà nước được phép trở thành công
cụ độc quyền của những cá nhân nắm giữ đặc quyền, vì công việc nhà nước thực chất là công việc của toàn thể nhân dân "Với tư cách là người quy định cái phổ biến, công dân của nhà nước là người lập pháp: với tư cách là người đảm nhận việc quyết định cái đơn nhất, người thực sự biểu hiện ý chí của
"3 Từ sự phê phán về một nhà nước pháp quyền
mình thì anh ta là nhà vua
kiểu tư sản, Mác khẳng định, chỉ trong chế độ dân chủ triệt để, dân chủ cho
quảng đại quần chúng lao động, thì "nguyên tác hình thức cũng đồng thời là
nguyên tắc vật chất Vì vậy chỉ có chế độ dân chủ mới là thống nhất chân
chính giữa cái phổ biến (nhân dân) và cái đặc thù" (hình thức nhà nước) Để đạt được điều đó, cần phải thực hiện dân chủ triệt để, tức là thúc đẩy sự vận động chế độ - nhà nước theo hướng dân chủ hóa sao cho "người thật sự đại biểu cho chế độ nhà nước, tức nhân dân, trở thành nguyên tắc của chế độ nhà nước Bản thân sự tiến bộ đó cũng là chế độ nhà nước” Một khi nhà nước không còn "biểu hiện thật sự ý chí của nhân dân nữa thì trở thành một cái hữu
! Mác và Ph.Ăngghen: Toàn ráp, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.347
? C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tdp, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.35 L
3 C.Mác và Ph.Ăngghen: 7oàn rập, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.342
* C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.350
Š C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn rập, tiếng Việt, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.393.