Câu 1: nêu kn, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của ktđn. Phân biệt giữa ktđn hợp tác quốc tế, hội nhập kt quốc tế và ngoại thương. Phân biệt giữa kinh tế đối ngoại, hợp tác kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại thương • Khái niệm Ktđn là quan hệ là quan hệ làm kt của VN với nc ngoài, các tổ chức kt và doanh nhân nc ngoài tức quan hệ với các đối tác bên ngoài Ktđn là các hoạt động kt với các đối tác nc ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, ở các cấp độ: quốc gia; các tổ chức kt quốc tế,các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nc ngoài hoạt động ở vn và các doanh nghiệp vn hoạt động ở nc ngoài Kinh tế đối ngoại là tổng thể các hoạt động, các quan hệ kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật và công nghệ của một nước với bên ngoài; qua đó một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế.
Trang 1Kinh tế đối ngoại:
Câu 1: nêu kn, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của ktđn Phân biệt giữa ktđn hợp tác quốc tế, hội nhập kt quốc tế và ngoại thương Phân biệt giữa kinh tế đối ngoại, hợp tác kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế, ngoại thương
• Khái niệm
- Ktđn là quan hệ là quan hệ làm kt của VN với nc ngoài, các tổ chức kt và doanh nhân nc ngoài- tức quan
hệ với các đối tác bên ngoài
- Ktđn là các hoạt động kt với các đối tác nc ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, ở các cấp độ: quốc gia; các tổ chức kt quốc tế,các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nc ngoài hoạt động ở vn và các doanh nghiệp vn hoạt động ở nc ngoài
Kinh tế đối ngoại là tổng thể các hoạt động, các quan hệ kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật và công nghệ của một nước với bên ngoài; qua đó một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế
* chức năng:
* Kinh tế đối ngoại đối với hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia có chức năng, nhiệm vụ đặc thù riêng Nhưng nhìn chung, kinh tế đối ngoại của mọi quốc gia đều có các chức năng sau đây:
1 Kinh tế đối ngoại hỗ trợ khai thác hiệu quả lợi thế của các quốc gia, góp phần đổi mới cơ cấu kinh
tế và đạt được quy mô sản xuất tối ưu.
Lợi thế của các quốc gia thể hiện trên các mặt như:
- Vị trí địa lý: Các quốc gia nằm ở trung tâm các khu vực, đầu mối các trục giao thông quốc tế có lợi thế trong phát triển kinh tế Vị trí địa lý là yếu tố trọng yếu của một quốc gia các khía cạnh chính là vị trí địa lý
tự nhiên, vị trí địa lý giao thông, vị trí địa lý quốc phòng Vị trí địa lý, đặc biệt là vị trí giao thông và vị trí quốc phòng có ý nghĩa xác định tầm quan trọng của một quốc gia trong quan hệ với các nước khác và giữa các nước khác với nhau, đặc biệt là giữa các cường quốc
- Khí hậu: Yếu tố này rất có ý nghĩa đối với các ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhưsản xuất nông nghiệp Cơ cấu, quy mô và hiệu quả ngành chăn nuôi và trồng trọt được quyết định rất nhiều
do nhiệt độ, độ ẩm, chế độ thủy văn…
- Diện tích: Các quốc gia có diện tích đất đai rộng lớn thường có ưu thế trong phát triển kinh tế Diện tích lãnh thổ là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, diện tích càng lớn thì nhìn chung càng có điều kiện
để phát triển kinh tế
Trang 2- Nguồn tài nguyên: Sự phong phú, đa dạng về tài nguyên thiên nhiên như tài nguyên rừng, biển, khoáng sản, là cơ sở để xây dựng và phát triển nhiều ngành nghề của quốc gia Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng trọng yếu và lâu dài đối với một quốc gia Tài nguyên thiên nhiên đã và đang là trung tâm của những cuộc tranh giành, thậm chí xung đột giữa các quốc gia đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt; khoáng sản kim loại; nước và những nguyên tố hiếm phục vụ kỹ thuật, quốc phòng
- Nguồn nhân lực: Trong nền kinh tế tri thức, trí tuệ của con người là yếu tố quan trọng nhất Quốc gia nào
có lợi thế về mặt này sẽ là nước phát triển Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của
sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồnlực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay
Tóm lại, khi quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào phân công lao động, mỗi nước có thể khai thác tối đa lợi thế so sánh của mình để đạt hiệu quả cao nhất trong mỗi ngành sản xuất, đồng thời cũngxây dựng được những ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, tăng cường khả năng cạnh tranh trong nước cũng như trên thế giới
2 Kinh tế đối ngoại giúp các quốc gia giải quyết khó khăn và thiếu hụt về các yếu tố sản xuất: vốn,
lao động, tài nguyên, khoa học công nghệ
Thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại, các nước thu được vốn, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân Thông qua hợp tác, chuyên môn hóa, các quốc giatránh được những thiếu hụt trong qúa trình hoạt động kinh tế.Ngày nay quan hệ kinh tế quốc tế vẫn phát triển theo hướng đa dạng hóa Khoảng cách giữa các nươc giàu – nghèo còn quá xa và ngày càng tăng lên,
vì vậy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là để san lấp khoảng cách này trong thời gian ngắn nhất Hiện nay, các nước trên thế giới đang tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác để học tập, rút kinh nghiệm và giúp
Trang 3Ngoài việc trao đổi hàng hóa nhân dân các nước có điều kiện hiểu biết truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhau, vừa nâng cao trí tuệ, sự tôn trọng và bảo vệ lẫn nhau trước các thế lực riêng đối với nước ta có những chức năng, nhiệm vụ đặc biệt như sau:
1 Tạo vốn và giải quyết việc làm.
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nước ta là tạo vốn đầu tư để phát triển xã hội và giải quyết việc làm Với số dân đông và chủ yếu làm nông nghiệp trên một diện tích đất nông nghiệp hạn chế đang ngày càng bị thu hẹp bởi quá trình đô thị hóa thì vấn đề việc làm là vấn đề nan giải Thêm vào đó, cơ cấu dân số trẻ, mỗi năm có một số lượng lớn thanh niên bổ sung vào lực lượng lao động và số lao động thất nghiệp theo mùa vụ đòi hỏi cần có những giải pháp cần thiết nhằm tạo việc làm cho người lao động Thu hút vốn và tạo vốn cũng là một nhiệm vụ quan trọng Cùng với hoạt động đầu tư nước ngoài thì các hoạt động kinh tế đối ngoại khác cũng hướng vào việc tạo vốn và giải quyết việc làm cho nền kinh tế.Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài góp phần khắc phục tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động, tạo điều kiện nâng cao mức sống của người dân Viện trợ phát triển chính thức của các đối tác song phương và đa phương giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện cácchương trình xoa đói giảm nghèo… góp phần rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới và khu vực
2 Góp phần đổi mới cơ cấu kinh tế
Xuất phát từ nền kinh tế với tỷ trọng nông nghiệp là chủ yếu, nước ta cần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Kinh tế đối ngoại có tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế vì nó tạo ra những ngành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, dệt may, da giày…Nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên hơn khi ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại vào sản xuất.Có thể nói rằng toàn bộ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn làm động lực cho côngnghiệp hóa của đất nước đều đi liền với đổi mới công nghệ mà chủ yếu bằng con đường nhập khẩu và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Tuy những công nghệ nhập khẩu và chuyển giao chưa phải là tiên tiến nhất nhưng phù hợp với khả năng tài chính và trình độ tiếp nhận công nghệ mới trước mắt ở nước ta,
đã góp phần nâng cao đáng kể trình độ công nghệ lạc hậu hiện nay
3 Khai thác hiệu quả mọi nguồn lực làm cho dân giàu nước mạnh.
Việt Nam là một quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
và đa dạng Tuy đây là nguồn lợi lớn nhưng không dễ biến thành thu nhập cho quốc gia nếu không có vốn,
Trang 4có khoa học – công nghệ hiện đại Vì vậy, nhờ có kinh tế đối ngoại mà tiềm năng của nước ta mới được khai thác hiệu quả.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, vốn là loại hàng hóa đặc biệt không chỉ là nguồn lực quan trọng đối với các nước phát triển, mà còn là yếu tố cấp thiết đối với hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển
* Vai trò của KTĐN
Có thể khái quát vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại qua các các mặt sau đây:
- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế; nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực
- Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA); thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ; khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta
- Góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên nước công nghiệp tiên tiến hiện đại
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Tất nhiên, những vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi hoạt động kinh tế đối ngoại vượt qua được những thách thức (mặt trái) của toàn cầu hoá và giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
Tóm lại, nhận thức được chức năng, vai trò quan trọng của kinh tế đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đãchủ trương thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại rộng mở, phát huy các lợi thế của đất nước, chủ động hộinhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực Trong thực tiễn ngày càng có nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại, làm cho hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam ngày càng sôi động, phong phú, đa dạng và mang lại ngày càng nhiều lợi ích cho quốc gia, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực
*Phân biệt giữa kinh tế đối ngoại, kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế,
ngoại thương
-Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất địnhvới các quốc gia khác còn lại hoặc vớicác tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên
cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế
Trang 5-Mặc dù kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế là hai khái niệm có mối quan hệ với nhau, song khôngnên đồng nhất chúng với nhau Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủ thể của nó là một quốcgia với bên ngoài - với nước khác hoặc với tổ chức kinh tế quốc tế khác Còn kinh tế quốc tế là mốiquan hệ kinh tế với nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốctế.
-hội nhập kinh tế quốc tế là: Liên kết quốc tế hay hội nhập kinh tế quốc tế được dử dụng để chỉ cùng 1 nội dung với ý nghĩa là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của 1 quốc gia với nền kinh tế và thị trường thế giới và khu vực thông qua các biện pháp tự do hóa và mở cửa thị trườngtrên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Trong đó tự do hóa thương mại( loại bỏcác rào cản đối với thương mại hàng hóa, dịch vụ) chỉ là 1 nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế.Điều đó có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế cao hơn, rộng hơn tự do hóa thương mại Thể hiện
+giải quyết các tranh chấp thương mại theo quy định của quốc tế
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình trong đó 2 hay nhiều Chính Phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên các khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tếcho các nước Mức độ hội nhập tuy có khác nhau nhưng tất cả đều nhằm tự do hóa, thuận lợi hóahoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn
- ngoại thương theo nghĩa rộng là 1 phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ hàng tiền giữa các quốc giavới nhau Theo quan điểm của liên hợp quốc về thương mại và phát triển ngoại thương bao gồmmọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế từ thương mại hữu hình( liên quan đến hàng hóa,gồm hàng hóa sơ chế có hàm lượng công nghệ thấp và hàng tinh chế có hàm lượng công nghệ cao)đến thương mại vô hình( liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, tác phẩm, thươnghiệu ) và thương mại dịch vụ (như tài chính-ngân hàng, du lịch, bưu chính, y tế )
Ngoại thương là 1 bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại, có liên quan và tác động mạnh mẽ tới
sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thông qua việc phát huy tính kinh tế nhờ quy mô vàchuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế dựa trên so sánh lợi ích quốc gia Ngoại thươngđược nghiên cứu xem xét dưới 3 góc độ:
+đứng trên quan điểm và lợi ích toàn cầu để tìm ra những quy luật xu hướng và những vấn đề mangtính chất chung
+đứng trên lợi ích và quan điểm quốc gia để xem xét mậu dịch của quốc gia đó với phần còn lại củathế giới
+đứng trên lợi ích và quan điểm của doanh nghiệp để xác định phương án kinh doanh quốc tế nhằmtối đa hóa lợi nhuận
Như vậy, nội dung của ngọa thương là các hoạt động xuất- nhập khẩu, trao đổi hàng hóa, dịch vụ,khoa học kỹ thuật giữa nước này với các nước khác hoặc trong phạm vi 1 quốc gia( với cá nhân haydoanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên quốc gia đó) Trong điều kiện hiện nay khái niệmtrong nước và nước ngoài cần phải được quy ước rất chặt chẽ bởi vì trên thực tiễn có hiện tượngxuất khẩu tại chỗ
*Nước ta phải mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại vì
Trang 6- Xu thế phát triển kinh tế của thế giới
Hiện nay khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tiếp tục cónhững bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh
tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xãhội Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng Trình độ làm chủ thông tin tri thức
có ý nghĩa quyết định sự phát triển Chu trình luân chuyển vốn, đổi mới công nghệ và sản phẩmngày càng được rút ngắn; các điều kiện kinh doanh trên thị trường thế giới luôn thay đổi đòi hỏi cácquốc gia cũng như doanh nghiệp phải rất nhanh nhạy nắm bắt thích nghi
Tác động của cách mạng khoa học công nghệ với cường độ mạnh hơn và trình độ cao hơn làm thayđổi cơ cấu các ngành sản xuất và dịch vụ mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn, lực lượng sản xuất cũng pháttriển ở trình độ cao hơn, các ngành kinh tế trở nên mềm hoá, khu vực phi hình thức được mở rộng
"kinh tế tượng trưng" có quy mô lớn hơn nền "kinh tế thực" nhiều lần Cơ cấu lao động theo ngànhnghề có sự thay đổi sâu sắc, xuất hiện nhiều ngành nghề mới với sự đan kết của nhiều lĩnh vực khoahọc công nghệ, của sự phân công lao động quốc tế, vai trò và tầm hoạt động mới của Công ty đaquốc gia và xuyên quốc gia, quá trình hợp tác hoá và quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càngphát triển mạnh mẽ cả chiều rộng và chiều sâu trên cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá, đưa nềnkinh tế thế giới vào cạnh tranh toàn cầu bên cạnh việc đẩy mạnh tìm kiếm sự hợp tác trong cạnhtranh Như vậy hoà bình, hợp tác hội nhập kinh tế quốc tế vì sự phát triển kinh tế ngày càng trởthành một đòi hỏi bức xúc của nhiều quốc gia nhằm tập trung nỗ lực và ưu tiên cho phát triển kinh
tế Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này
Xuất phát từ những xu hướng, yêu cầu đòi hỏi nói trên thì hội nhập kinh tế quốc tế là một nhân tố
vô cùng quan trọng của quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thànhmột yếu tố không thể thiếu trong chiến lược hướng ngoại để tăng trưởng và phát triển bền vững,chúng ta sẽ có cơ hội thu hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, cảithiện vị thế của mình; đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơhội, khắc phục yếu kém để vươn lên, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chính vìvậy việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là cần thiết để phát triển kinh tế, là đòi hỏimang tính khách quan tất yếu
Câu 2: Khái niệm, vai trò, hình thức chủ yếu xuất nhập khẩu hàng hóa? Liên hệ làm rõ hoạt động xuất nhập khẩu nước ta hnay
• Khái niệm
Xuất nhập khẩu (tiếng anh gọi là import-export) là một trong những lĩnh vực kinh doanh hàng đầu đang được nhà nước ta quan tâm và ưu tiên nhằm giúp lưu thông hàng hóa, mở rộng thị
trường, tạo mối quan hệ làm ăn với các quốc gia khác để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Có thể xem ngành xuất nhập khẩu là khâu cơ bản của hoạt động ngoại thương với mối tương quan lớn và có sự tác động rộng rãi đến nhiều ngành khác Xuất khẩu là một ngành không thể thiếu với mọi quốc gia vì mang lại nguồn ngoại tệ cao để tăng cường nhập khẩu hàng hóa, tạo công ăn việc làm cho người dân…
Trang 7Ngành xuất nhập khẩu được chia thành hai mảng riêng biệt là xuất khẩu và nhập khẩu Mỗi mảng có đặc trưng và chức năng khác nhau:
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ ( có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một quốcgia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm cơ sở thanh toán Các loại hàng xuất khẩu từ Việt Nam thường là các loại nông sản, thủy sản, các sản phẩm quần áo, giày dép, phụ kiện thời trang chính hãng của các thương hiệu thời trang quốc tế được gia công tại Việt Nam… Để được xuất khẩu sang nước ngoài, các mặt hàng này phải đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn của nước sắp nhập vào, các sản phẩm được gia công phải đạt tiêu chuẩn rất khắt khe của từng thương hiệu trước khi được xuất đi
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nghĩa là quốc gia này sẽ muahàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác với nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định Hiện nay, nước ta đang chủ yếu nhập khẩu cácmặt hàng như máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện, xăng dầu, ô tô, nguyên vật liệu dệt may,
da, giày…
• Vai trò
Xuất nhập khẩu là nghiệp vụ chính của hoạt động thương mại ở mỗi quốc gia Xuất nhập khẩu thể hiện mối liên hệ không thể thiếu giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới Không chỉ giúp hàng hóa trong nước được lưu thông, thu được nguồn ngoại tệ cao, tạo công
ăn việc làm cho người dân, xuất nhập khẩu còn giúp bổ sung các hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất được hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối ổn định…
- XK tạo nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu NK
Thông thường NK dựa vào vay vốn, viện trợ XK đc xem là yếu tố quan trọng của nền kinh
tế Đẩy mạnh XK=>mở rộng sx, nhiều ngành nghề mới ra đời=>GDP tăng
XK có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sx để đáp ứng đòi hỏi khắt khe của TTQT, tăng tính cạnh tranh sp, đòi hỏi các doanh nghiệp k ngừng đổi mới trang thiết bị
XK có tác động mạnh mẽ tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành
Trang 8Muốn thúc đẩy DN->sx hàng hóa có tính cạnh tranh dựa trên lợi thế kinh tế của đất nước
XK có tác động tích cực và trực tiếp tới đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo XK mở rộng
và làm sâu sắc thêm mqh giữa nước ta vs các nước trên thế giới
- NK có tác động trực tiếp đến sx vì nc ta phải NK nhiều máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu phục vụ sx và qua đó tác động mạnh tới sx và tiến trình CNH
- Có tác động mạnh tới quá trình đổi mới trang thiết bị và quá trình sx vì hàng nhập ngoại
sẽ gây 1 sức ép lớn tới doanh nghiệp trong nước buộc các doanh nghiệp phải k ngừng nâng cao trình độ và năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tính cạnh tranh của hàng hóa,doanh nghiệp và nền kinh tế VN
- Do nâng cao đc tính cạnh tranh của hàng hóa, NK góp phần thúc đẩy và nâng cao đời sống vật chất cho ng lao động Mặt khác, việc NK hàng tiêu dung và văn hóa phẩm góp phần cả thiện đời sống nhân dân và trình độ dân trí
• Các hình thức xuất nhập khẩu hàng hóa
Các hình thức nhập khẩu:
• Nhập khẩu trực tiếp
Hàng hóa được mua trực tiếp từ nước ngoàI không thông qua trung gian Bên xuất khẩugiao hàng trực tiếp cho bên nhập khẩu Trong hình thức này, doanh nghiệp kinh doanhnhập khẩu phảI trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán kí kết hợpđồng… và phảI tự bỏ vốn để kinh doanh hàng nhập khẩu, phảI chịu mọi chi phí giaodịch, nghiên cứu thị trường,giao nhận lưu kho bãI, nộp thuế tiêu thụ hàng hóa Trên cơ sởnghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp tính toán chính xác chiphí, tuân thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và pháp luật quốc tế
• Nhập khẩu ủy thác
Là hình thức nhập khẩu gián tiếp thông qua trung gian thương mại Bên nhờ ủy thác sẽphảI trả một khoản tiền cho bên nhận ủy thác dưới hình thức phí ủy thác, còn bên nhận ủythác có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung của hợp đồng ủy thác đã được kí kết giữacác bên
Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận ủy thác không mất nhiều chi phí, độ rủi rothấp nhưng lợi nhuận từ hoạt động này không cao
• Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, nó là hình thứcnhập khẩu đI đôI với xuất khẩu Hoạt động này được thanh toán không phảI bằng tiền màchính là hàng hóa Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu có giá trị tương đương nhau
• Nhập khẩu liên doanh
Trang 9Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa cácdoanh nghiệp, trong đó có ít nhất một bên là doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhằm phốihợp các kĩ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đếnhoạt động kinh doanh nhập khẩu Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên được quy địnhtheo tỷ lệ vốn đóng góp.
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phảI kí hai loại hợp đồng
• Nhập khẩu gia công
Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu( là bên nhận gia công)tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu(bên đặt gia công)về để tiếnhành gia công theo những quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên
Các hình thức xuất khẩu:
Xuất khẩu trực tiếp
là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua
từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình Xuất khẩu ủy thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó công ty Xuất nhập khẩu đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết hợp đồng, làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu cho nhà sản xuất và hưởng một số tiền nhất định gọi là phí ủy thác
Buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu là một trong những phương thức giao dịch xuất khẩu trong xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng trao đổi với nhau có giá trị tương đương Trong phương thức xuất khẩu này mục tiêu là thu về một lượng hàng hoá có giátrị tương đương Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng
Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư
Là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là để gán nợ) được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính Phủ Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, mặt khách không có sự rủi ro trong thanh toán.Trên thực tế hình thức xuất khẩu này chiếm tỷ trong rất nhỏ Thông thường sử dụng trong các nước XHCN trước đây và trong một số các quốc gia có quan hệ mật thiết và chỉ trong một số doanh nghiệp nhà nước
Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển rộng rãi, do những ưu việt của nó đem lại
Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn mua được Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu
Gia công quốc tế
Đây là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công)
Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia chú trọng Bởi những lợi ích của nó
Tạm nhập tái xuất
Đây là một hình thức xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua
Trang 10chế biến ở nước tái xuất qua hợp đồng tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu.
Liên hệ
Năm 2015, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của cả nước đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm
2014, tương đương khoảng 12,2 tỷ USD Năm 2015, cả nước có 23 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng có sự chuyển dịch tích cực, phù hợp với lộ trình thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển xuất, nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2030 Tăng trưởng xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến tăng trưởng cao, đóng vai trò quan trọng, kéo theo xuất khẩu của cả nước tăng trưởng.
Trong khi đó, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 165,6 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu đạt 98 tỷ USD, tăng 16,4%; khu vực kinh tế trong nước đạt 67,6 tỷ USD, tăng 6,3% Giá nhập khẩu một số mặt hàng giảm mạnh so với năm trước: Xăng dầu giảm 40,4%; sắt thép giảm 15,6%; chất dẻo giảm 13%; phân bón giảm 14,1%.
Như vậy, sau 3 năm liên tiếp xuất siêu, năm 2015 đã đánh dấu sự quay trở lại của nhập siêu Mức chênh lệch không lớn (3,2 tỷ), nhưng nó lại là câu chuyện về sự biến động mạnh của các xu thế chủ đạo trong kinh tế Việt Nam Vấn đề đặt ra trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng chịu thâm hụt thương mại với nhiều quốc gia hơn và mức thâm hụt thương mại đó ngày càng tăng lên với tốc độ rất cao theo từng năm; trong khi số quốc gia chịu thâm hụt thương mại với Việt Nam lại ít đi và mức thâm hụt đó thì lại tăng không đáng kể Xu hướng này đang gia tăng trong vài năm gần đây, cho thấy những vấn đề cơ bản của nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa được giải quyết.
Cụ thể như, Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nguyên vật liệu và hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc Mức này không những không giảm mà còn ngày càng tăng, khi Việt Nam chỉ nhập siêu khoảng 29 tỷ USD trong năm 2014, thì con số này đã tăng lên 32,3 tỷ USD trong năm 2015 Sự phụ thuộc này lớn đến mức Việt Nam càng tăng cường xuất khẩu sang các thị trường khác để bù đắp khoản thâm hụt thương mại với Trung Quốc, thì mức độ phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc càng tăng lên thông qua việc tăng cường nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất Về lâu dài, các hiệp định FTA sẽ đem lại những lợi ích lớn cho kinh tế Việt Nam; nhưng trong ngắn hạn nó sẽ khiến mức nhập siêu của Việt Nam từ các quốc gia này tăng lên đáng kể Điển hình là Hàn Quốc Việc hàng loạt tập đoàn lớn của Hàn Quốc đầu tư những dự án tỷ USD tại Việt Nam cũng đang khiến mức nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc tăng lên chóng mặt.
Câu 3: hình thức KTĐN? Trong điều kiện hiện nay ưu tiên áp dụng hình thức nào? Vì sao
Các hình thức của KTĐN
1 Xuất nhập khâu hàng hóa
Trang 11+ Xét theo các múc độ chính thống có:
- Xuất nhập khẩu chính ngạch:
- Xuất nhập khâu không chính ngạch (tiểu ngạch)
+ Theo tính chất kinh tế có :
- Xuất nhập khâu mậu dịch: hàng hoá qua biên giới theo con đường mua bán kinh doanh
- Xuất nhập khẩu phí mậu dịch hàng hoá qua biên giới với tính chất mua để dùng, hàng quàtặng
+ Theo phạm vi luân chuyển hàng hóa có:
- Xuất nhập khẩu qua biên giới là hành vi xuất hàng ra nước ngoài
- Xuất nhập khẩu tại chỗ:
2 Xuất nhập khâu tư bản
+ Xuất nhập khẩu tư bản gián tiếp (FII):
+ Xuất nhập khẩu tư bản trực tiếp (FDI):
- Hình thức liên kết, Lỉên doanh, hợp tác và hội nhập: vốn nước ngoài tham gia vào kinh tếnội địa theo 2 hình thức:
- Lỉên doanh với vốn của nhà nước (góp vốn)
- Lỉên doanh vốn (góp vốn) với một công ty nào đó của công dân nước sở tại
- Hình thức hợp tác và hội nhập
+ Liên doanh
+ Hợp tác kinh doanh
3 Xuất nhập khẩu trí tuệ
* Xét theo chiều chuyển động của trí thức có:
Trang 12- Xuất nhập khẩu các chuyên gia nghiên cứu trực tiếp
- Xuất nhập khẩu tại chỗ
* Xét theo phương diện truyền đạt trí tuệ:
- Xuất nhập khẩu các nhà giáo, theo hình thức này, chuyên gia mang trí tuệ thực hiện chứcnăng nhà giáo
- Xuất nhập khẩu các nhà tư vấn khoa học:
4 Xuất nhập khẩu tri thức
là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ trong đó trí tuệ đã thoát ly khỏi nhà khoa học để tồn tại dướidạng nào đó có khả năng truyền tới người khác
5 Xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật: máy móc, công nghệ, dây truyền SX
6 Xuất nhập khẩu công trình công nghiệp: BT, BOT, BTO
+ Dịch vụ xuất khẩu lao động
*Ngoại thương ( hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu.)
Trang 13là 1 bộ phận quan trọng của KTĐN, có liên quan và tác động mạnh mẽ tới sự tăng trưởng và pháttriển của nền kinh tế thông qua tính kinh tế nhờ quy mô và chuyên môn hóa trong phân công laođộng quốc tế
NT thương đc nghiên cứu trên 3 góc độ:
- Toàn câu
- Mỗi quốc gia
- Quan điểm, lợi ích doanh nghiệp, xác điịnh phương án kinh doanh quốc tế nhằm tối đahóa lợi nhuận của mình
Trong mỗi giai đoạn phát triển, NT bao h cũng đc đánh giá cao vì n giúp mỗi quốc gia có đchàng hóa mà quốc gia đó k có đc
- Chuyển giao công nghệ mà nhờ đó nâng cao kinh tế ng dân
+ kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
+ Đem lại lợi ích k chỉ cho DN, tăng thêm thu và lợi nhuận
+ Mở rộng khả năng lựa chọn cho ng tiêu dung
+ Giảm chi phí đầu vào cho sx
- NT phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sx cảu thế giới, thúc đẩy chuyên môn há khiến cácnước sử dụng nguồn lực của mình 1 cách có hiệu quả nhất
- NT làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhất cho mỗi quốc gia
- NT nâng cao hiệu quả nền kinh tế
- NT còn có mối liên hệ khăng khít với đầu tư nước ngoài( FDI)
- NT vô hình, đặc biệt là nhập khẩu công nghệ hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả nềnkinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế đag phát triển khi mà họ chưa đủ khả năng tạo racông nghệ mới việc
- NT mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia tuy nhiên mức độ lợi ích khác nhau tùy theo từngnước và nhóm nước Các nước phát triển thường thu đc nhiều lợi ích từ NT do họ có trình
độ công nghệ và tổ chức quản lý sc cao hơn, có khả năng cạnh tranh cao trên 4 cấp độ
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng tolớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệuquả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởngkinh tế; "điều tiết thừa thiếu" trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngànhnghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nhất là trongcác ngành xuất khẩu
Câu 4: anh (chị) hãy trình bày cơ sở hình thành và phát triển của kinh tế đối ngoại
*Những cơ sở của việc hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại
Lịch sử đã ghi nhận "con đường tơ lụa", đó chính là thương mại quốc tế, một hình thức chủ yếu của quan
hệ kinh tế quốc tế tồn tại cho đến ngày nay Thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho các nước tham gia
Cơ sở của những lợi ích đó bắt nguồn từ chỗ mỗi nước có lợi thế riêng Những lợi thế này do điều kiện tựnhiên khác nhau, do trình độ phát triển kinh tế, xã hội, trình độ chuyên môn hóa lao động khác nhau Saunày, các nhà kinh tế học đã khái quát lại thành lý thuyết lợi thế (lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh) Đó là cơ
sở lý thuyết cho sự lựa chọn thương mại quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Trang 14thời đại ngày nay, kinh tế đối ngoại phát triển rất mạnh mẽ cả chiều rộng và chiều sâu, trở thành một xu thếtất yếu mà không một quốc gia nào có thể phát triển nếu đứng ngoài xu thế đó Trong thời đại ngày nay,toàn cầu hóa kinh tế lôi cuốn mọi quốc gia vào dòng xoáy của nó, dù là quốc gia tiên tiến hay lạc hậu, pháttriển hay chậm phát triển Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra những thời cơ và những thách thức mới; quốc gia nàonắm bắt được thời cơ, vượt qua được thách thức sẽ phát triển nhanh hơn, ngược lại sẽ bị tụt hậu xa hơn.Trong bối cảnh đó, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trở thành tất yếu đối với mọi quốc gia.
Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp nhất của toàn cầu hóa kinh tế là sự phát triển hết sức nhanh chóng và cónhững đột phá của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại là nguyên nhân trực tiếp của toàn cầu hóa kinh tế, vì:
Một là, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất
làm cho nó vượt khỏi khuôn khổ các quốc gia, đòi hỏi phải mở rộng không gian kinh tế mới có khả năng sửdụng có hiệu quả
Hai là, nó tạo ra các phương tiện giao thông, vận tải, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, làm cho việc
đi lại, giao lưu trở nên nhanh chóng, dễ dàng, làm cho khoảng cách giữa nhiều quốc gia cách nhau hàngngàn cây số trở nên "ngắn lại" vì tốc độ rất nhanh
Ba là, nó làm xuất hiện những lợi thế mới cho nhiều quốc gia, bởi vì mỗi quốc gia có ưu thế khác nhau về
các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tạo ra được những sản phẩm có thế mạnh riêng Vì vậy, mở rộng quan hệkinh tế đối ngoại càng trở nên cần thiết, bởi vì mỗi quốc gia có thể mua được những sản phẩm chưa có khảnăng sản xuất hoặc sản xuất được nhưng chưa tốt và còn đắt, đồng thời bán được sản phẩm có thế mạnhcủa mình
Toàn cầu hóa kinh tế được biểu hiện rõ nét ở chỗ:
Một là, sự phân công lao động quốc tế và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, các khu vực ngày càng phát
triển cả bề rộng và bề sâu, bao quát nhiều lĩnh vực với tốc độ nhanh
Hai là, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước ngày càng tăng Chính sự chuyên môn hóa, hiệp tác
hóa sản xuất làm cho các nước phụ thuộc nhau về nhiều mặt như: nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ, vốnđầu tư, lao động, thị trường… Mỗi nước đều cố gắng khai thác tối đa những lợi thế tuyệt đối và tương đốicủa mình
Ba là, hình thành kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế và giá cả quốc tế.
Ngày nay, khi xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất như đường giao thông, sân bay, bến cảng, kho bãi, hệthống thông tin liên lạc và cả các lĩnh vực khác như dịch vụ, khách sạn các quốc gia đều dựa theo tiêuchuẩn quốc tế Hệ quả của nó là tạo ra điều kiện thuận lợi hơn cho mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại củacác quốc gia Toàn cầu hóa kinh tế còn biểu hiện ở sự hình thành giá cả quốc tế Ngày nay, các sản phẩmphổ biến (như xăng dầu, gạo, sắt thép, cà phê ) đều có giá cả quốc tế
Tóm lại, thời đại ngày nay toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ, là xu thế khách quan và không một quốc
gia nào có thể đứng ngoài dòng xoáy của nó Toàn cầu hóa kinh tế vừa tạo ra cơ hội vừa tạo ra thách thứccho mỗi quốc gia Vì vậy, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại trở thành tất yếu khách quan và
là một trong các nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta và được nhấn mạnh nhiều lầntrong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước "Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâuhơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nướclàm mục tiêu cao nhất
Câu 5: chức năng QLNN đối vs KTĐN? Tại sao cần nâng cao hơn nữa hiệu quả và đổi mới
cơ chế quản lý KTĐN
Trang 15Quan hệ ngoại giao dẫn đường cho các quan hệ kinh tế
+ Mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước
+ Tạo mối quan hệ bình thường hoá, hoà bình, hữu nghị
3) Xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho KTĐN
+ Mở rộng các ngành sản xuất trong nước
+ Xây dựng hệ thống hạ tầng: điện, nước, giao thông, thông tin, các công trình phục vụ đờisống văn hoá, y tế, giáo dục, ngân hàng, hệ thống phân phối sản phẩm (siêu thị…)
Qui hoạch các KCN, KCX, khu công nghệ cao để thu hút đầu tư nước ngoài
4) Xác định hành lang pháp lý cho các hoạt động KTĐN
5) Hướng dẫn các tổ chức kinh doanh hoạt động theo pháp luật
+ Chính sách nhất quán, minh bạch, không phân biệt đối xử người nước ngoài
+ Thủ tục hành chính chuyên nghiệp, giảm phiền hà, hướng đến ‘một cửa’ theo đúng nghĩacủa nó
6) Ban hành các chính sách kinh tế, đặc biệt là các chính sách tài chính, tín dụng; cải thiện
hệ thống tài chính, ngân hàng, tiền tệ;
+Cải thiện chính sách đầu tư gắn với điều chỉnh cơ cấu kinh tế
7) Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động KTĐN
+ Kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật
• Kinh tế đôi ngoại có tầm quan trọng đặc biệt
Kinh tế đối ngoại có ý nghĩa toàn diện sâu sắc đối triển tổng thể kinh tế, xã hội, chính trị,quốc phòng, ngoại giao của đất nước
Về kinh tế, KTĐN giải quyết những vấn đề then chốt của nền kinh tế như vấn đề vốn đầu
tư, vấn đề tiến bộ khoa học và công nghệ, vấn đề chuyển dịch cơ cấu và phân công lao độngquốc tế theo lợi thế so sánh Đó toàn là những vấn đề then chốt để tăng năng suất lao động xãhội, cái quyết định sự thắng lợi của mọi chế độ kinh tế
Về chính trị, ngoại giao, quốc phòng, kinh tế đối ngoại liên quan đến việc mở rộng quan hệbạn bè, loại trừ và cô lập kẻ thù, liên quan đến việc bảo vệ bí mật quốc gia, vấn đề bảo vệ vị trí