1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SOẠN BÀI NGỮ VĂN LỚP 9 HỌC KÌ II

128 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là tài liệu chúng tôi sưu tầm, chọn lọc, mong bạn thích. Mong bạn học tập, thì có kết quả thật tốt. Đây là tài liệu chúng tôi sưu tầm, chọn lọc, mong bạn thích. Mong bạn học tập, thì có kết quả thật tốt. Đây là tài liệu chúng tôi sưu tầm, chọn lọc, mong bạn thích. Mong bạn học tập, thì có kết quả thật tốt.

Trang 1

MỤC LỤC

SOẠN BÀI: BÀN VỀ ĐỌC SÁCH – CHU QUANG TIỀM 3

SOẠN BÀI: KHỞI NGỮ 5

SOẠN BÀI: PHÉP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP 7

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP 9

SOẠN BÀI: TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ 11

SOẠN BÀI: CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP 13

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG .15

SOẠN BÀI: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI 16

SOẠN BÀI: CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP (TIẾP THEO) 19

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ 21

SOẠN BÀI: CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA LA PHÔNG TEN 23

SOẠN BÀI: LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN 24

SOẠN BÀI: CON CÒ 26

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP: LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN 28 SOẠN BÀI: CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ 30

SOẠN BÀI: MÙA XUÂN NHO NHỎ 32

Trang 2

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN

TRÍCH) 37

SOẠN BÀI: CÁC LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH) 38

SOẠN BÀI: SANG THU 41

SOẠN BÀI: NÓI VỚI CON 43

SOẠN BÀI: NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý 45

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ 46

SOẠN BÀI: CÁC LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ 47

SOẠN BÀI: MÂY VÀ SÓNG 50

SOẠN BÀI: ÔN TẬP VỀ THƠ 52

SOẠN BÀI: NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý (TIẾP THEO) 62

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG 64

SOẠN BÀI: CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG PHẦN TIẾNG VIỆT (LỚP 9 HKII) 67

SOẠN BÀI: BẾN QUÊ 68

SOẠN BÀI: ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 9 HKII 70

SOẠN BÀI: NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI 72

SOẠN BÀI: BIÊN BẢN 74

SOẠN BÀI: RÔ BIN XƠN NGOÀI ĐẢO HOANG 76

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT VỀ NGỮ PHÁP 78

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP VIẾT BIÊN BẢN 81

SOẠN BÀI: HỢP ĐỒNG 81

SOẠN BÀI: BỐ CỦA XI MÔNG 82

SOẠN BÀI: ÔN TẬP TRUYỆN LỚP 9 84

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT VỀ NGỮ PHÁP (TIẾP THEO) 88

SOẠN BÀI: CON CHÓ BẤC 93

Trang 3

SOẠN BÀI: KIỂM TRA PHẦN TIẾNG VIỆT LỚP 9 HKII 95

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP VIẾT HỢP ĐỒNG 97

SOẠN BÀI: BẮC SƠN 99

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT PHẦN TẬP LÀM VĂN 106

SOẠN BÀI: TÔI VÀ CHÚNG TA 110

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC 115

SOẠN BÀI: TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC (TIẾP THEO) 118

SOẠN BÀI: THƯ (ĐIỆN) CHÚC MỪNG VÀ THĂM HỎI 127

SOẠN BÀI: BÀN VỀ ĐỌC SÁCH – CHU QUANG TIỀM

Câu 1:

Bàn về việc đọc sách, cụ thể là bàn về ý nghĩa của việc đọc sách và phương pháp đọc sách, tác giả đã triển khai vấn đề qua các luận điểm như sau:

- Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách

- Các khó khăn, các nguy hại dễ gặp của việc đọc sách trong tình hình hiện nay

- Cách lựa chọn sách cần đọc và cách đọc như thế nào cho hiệu quả

Câu 2:

Sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với cuộc sống con người nói riêng và

xã hội nói chung Muốn phát triển và trưởng thành, con người phải tiếp thu, kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài người đã tìm tòi, tích luỹ được trong suốt quá trình phát triển lịch sử Sách là kho tàng kinh nghiệm,

là di sản tinh thần quý báu của loài người

Đối với mỗi con người, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh

Trang 4

vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới

Câu 3:

Thế giới ngày nay đang bùng nổ thông tin Lượng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lí thông tin, khoa học, con người dễ bối rối trước kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích lũy được Tác giả chỉ ra những nguy hại thường gặp: Khi trước mắt ta là cả " rừng sách"

- Nó khiến cho người ra không chuyên sâu, dễ " ăn tươi nuốt sống" không kịp tiêu hóa, không biết suy ngẫm

- Nó khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn sách không thật có ích

Do vậy, cần phải lựa chọn sách mà đọc:

- Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình

- Cần đọc kĩ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyê sâu của mình

- Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức , gần gữi với chuyên môn của mình Tác giả khẳng định: "Trên đòi không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ nào kế cận"; vì thế " Không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào"

Câu 4:

Việc lựa chọn sách đọc là một yếu tố vô cùng quan trọng trong phương pháp đọc sách Lời bàn của Chu Quang Tiềm về phương pháp đọc sách rất sâu sắc mà cũng rất gần gũi, dễ hiểu, tựu chung được thể hiện ở mấy điểm sau:

- Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, "trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng", nhất là với các cuốn sách có giá trị

Trang 5

- Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách

có kế hoạch và hệ thống Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ

Cũng theo tác giả, đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người

Câu 5:

Sức thuyết phục của bài văn được tạo nên bởi các yếu tố cơ bản:

- Từ nội dung bài viết cho đến cách trình bày của tác giả đều đạt lý, thấu tình Các

ý kiến nhận xét đưa ra thật xác đáng, có lý lẽ chặt chẽ, vừa sinh động vừa dễ hiểu

- Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp lý, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên

- Việc tác giả sử dụng nhiều hình ảnh qua cách ví von vừa cụ thể vừa thú vị cũng

là một yếu tố quan trọng làm nên sức thuyết phục của bài

SOẠN BÀI: KHỞI NGỮ Câu 1:

Bàn về việc đọc sách, cụ thể là bàn về ý nghĩa của việc đọc sách và phương pháp đọc sách, tác giả đã triển khai vấn đề qua các luận điểm như sau:

- Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách

- Các khó khăn, các nguy hại dễ gặp của việc đọc sách trong tình hình hiện nay

- Cách lựa chọn sách cần đọc và cách đọc như thế nào cho hiệu quả

Câu 2:

Sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với cuộc sống con người nói riêng và

xã hội nói chung Muốn phát triển và trưởng thành, con người phải tiếp thu, kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài người đã tìm tòi, tích luỹ được trong suốt quá trình phát triển lịch sử Sách là kho tàng kinh nghiệm,

là di sản tinh thần quý báu của loài người

Trang 6

Đối với mỗi con người, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới

Câu 3:

Thế giới ngày nay đang bùng nổ thông tin Lượng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lí thông tin, khoa học, con người dễ bối rối trước kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích lũy được Tác giả chỉ ra những nguy hại thường gặp: Khi trước mắt ta là cả " rừng sách"

- Nó khiến cho người ra không chuyên sâu, dễ " ăn tươi nuốt sống" không kịp tiêu hóa, không biết suy ngẫm

- Nó khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn sách không thật có ích

Do vậy, cần phải lựa chọn sách mà đọc:

- Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình

- Cần đọc kĩ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyê sâu của mình

- Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức , gần gữi với chuyên môn của mình Tác giả khẳng định: "Trên đòi không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ nào kế cận"; vì thế " Không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào"

Câu 4:

Việc lựa chọn sách đọc là một yếu tố vô cùng quan trọng trong phương pháp đọc sách Lời bàn của Chu Quang Tiềm về phương pháp đọc sách rất sâu sắc mà cũng rất gần gũi, dễ hiểu, tựu chung được thể hiện ở mấy điểm sau:

Trang 7

- Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, "trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng", nhất là với các cuốn sách có giá trị

- Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách

có kế hoạch và hệ thống Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ

Cũng theo tác giả, đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người

Câu 5:

Sức thuyết phục của bài văn được tạo nên bởi các yếu tố cơ bản:

- Từ nội dung bài viết cho đến cách trình bày của tác giả đều đạt lý, thấu tình Các

ý kiến nhận xét đưa ra thật xác đáng, có lý lẽ chặt chẽ, vừa sinh động vừa dễ hiểu

- Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp lý, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên

- Việc tác giả sử dụng nhiều hình ảnh qua cách ví von vừa cụ thể vừa thú vị cũng

là một yếu tố quan trọng làm nên sức thuyết phục của bài

SOẠN BÀI: PHÉP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP

Câu 1:

Bàn về việc đọc sách, cụ thể là bàn về ý nghĩa của việc đọc sách và phương pháp đọc sách, tác giả đã triển khai vấn đề qua các luận điểm như sau:

- Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách

- Các khó khăn, các nguy hại dễ gặp của việc đọc sách trong tình hình hiện nay

- Cách lựa chọn sách cần đọc và cách đọc như thế nào cho hiệu quả

Câu 2:

Trang 8

Sách có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với cuộc sống con người nói riêng và

xã hội nói chung Muốn phát triển và trưởng thành, con người phải tiếp thu, kế thừa có sáng tạo những tri thức, kinh nghiệm, thành tựu mà loài người đã tìm tòi, tích luỹ được trong suốt quá trình phát triển lịch sử Sách là kho tàng kinh nghiệm,

là di sản tinh thần quý báu của loài người

Đối với mỗi con người, đọc sách là cách tốt nhất để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, kinh nghiệm sống Đọc sách còn là sự chuẩn bị để tiến hành cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, tích luỹ tri thức, khám phá và chinh phục thế giới

Câu 3:

Thế giới ngày nay đang bùng nổ thông tin Lượng sách in ra ngày càng nhiều, nếu không có sự lựa chọn, xử lí thông tin, khoa học, con người dễ bối rối trước kho tàng tri thức khổng lồ mà nhân loại đã tích lũy được Tác giả chỉ ra những nguy hại thường gặp: Khi trước mắt ta là cả " rừng sách"

- Nó khiến cho người ra không chuyên sâu, dễ " ăn tươi nuốt sống" không kịp tiêu hóa, không biết suy ngẫm

- Nó khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn sách không thật có ích

Do vậy, cần phải lựa chọn sách mà đọc:

- Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ những quyển sách thực sự có giá trị, có ích cho mình

- Cần đọc kĩ các cuốn sách, tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyê sâu của mình

- Trong khi đọc chuyên sâu, không nên xem thường những loại sách thường thức , gần gữi với chuyên môn của mình Tác giả khẳng định: "Trên đòi không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ nào kế cận"; vì thế " Không biết thông thì không thể chuyên, không biết rộng thì không thể nắm gọn Trước biết rộng rồi sau mới nắm chắc, đó là trình tự để nắm vững bất cứ học vấn nào"

Trang 9

Câu 4:

Việc lựa chọn sách đọc là một yếu tố vô cùng quan trọng trong phương pháp đọc sách Lời bàn của Chu Quang Tiềm về phương pháp đọc sách rất sâu sắc mà cũng rất gần gũi, dễ hiểu, tựu chung được thể hiện ở mấy điểm sau:

- Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, "trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng", nhất là với các cuốn sách có giá trị

- Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách

có kế hoạch và hệ thống Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ

Cũng theo tác giả, đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người

Câu 5:

Sức thuyết phục của bài văn được tạo nên bởi các yếu tố cơ bản:

- Từ nội dung bài viết cho đến cách trình bày của tác giả đều đạt lý, thấu tình Các

ý kiến nhận xét đưa ra thật xác đáng, có lý lẽ chặt chẽ, vừa sinh động vừa dễ hiểu

- Bài viết có bố cục chặt chẽ, hợp lý, các ý được dẫn dắt rất tự nhiên

- Việc tác giả sử dụng nhiều hình ảnh qua cách ví von vừa cụ thể vừa thú vị cũng

là một yếu tố quan trọng làm nên sức thuyết phục của bài

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP

Câu 1:

- Trong đoạn văn (a), người viết sử dụng phép lập luận phân tích để làm rõ cái hay

của bài thơ Thu điếu

Trang 10

+ Câu đầu tiên nêu ra một nhận xét khái quát tổng được tổng hợp từ nhiều trường hợp cụ thể "Thơ hay là hay của hồn lẫn xác, hay cả bài… không thể tóm tắt thơ được mà phải đọc lại"

+ Tiếp theo, phân tích cụ thể cái hay của bài Thu điếu ở mấy điểm: các điệu

xanh, những cử động, cách dùng từ, gieo vần tự nhiên, không gò ép

- Trong đoạn văn (b), người viết sử dụng chủ yếu phép lập luận phân tích, có kết hợp với tổng hợp Trình tự ngược với đoạn (a), đầu tiên tác giả đưa ra và phê phán các ý kiến ấy chỉ đúng một phần về nguyên nhân của sự thành đạt

+ Gặp thời: Nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng qua đi

+ Hoàn cảnh bức bách: Nhiều người bị hoàn cảnh khó khăn làm thối chỉ, ngã

lòng

+ Điều kiện thuận lợi: Khối người dùng cái thuận lợi đó để ăn chơi

+ Tài năng: Mới chỉ là khả năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy cũng

bị thui chột

- Sau đó, tác giả kết luận (thao tác tổng hợp): "Rút cuộc mấu chốt của thành đạt là

ở bản thân chủ quan mỗi người" thể hiện ở:

+ Sự phấn đấu kiên trì, không mệt mỏi

+ Luôn trau dồi đạo đức

Câu 2:

Học qua loa, đối phó, không học thật sự sẽ gây ra nhiều tác hại

- Học đối phó là học mà không lấy việc học làm mục đích, xem học là việc phụ

- Học đối phó là học bị động, không chủ động, cốt đối phó với sự đòi hỏi của thầy

cô, của thi cử

- Học đối phó là học hình thức, không đi sâu vào thực chất kiến thức của bài học

- Học đối phó dù có bằng cấp thì đầu óc cũng trống rỗng

Trang 11

Câu 3:

Xem lại câu 2 bài "Bàn về đọc sách"

Câu 4: Viết một đoạn văn tổng hợp lại những điều đã phân tích trong bài Bàn về

đọc sách

Gợi ý: Bài văn Bàn về đọc sách gồm những luận điểm chính nào? (Tầm quan

trọng của việc đọc sách; Phải chọn sách mà đọc; Phải biết kết hợp giữa đọc sách chuyên môn và sách thường thức…) Đoạn văn phải thâu tóm được những luận điểm chính đã phân tích để rút ra nhận định chung về việc đọc sách

SOẠN BÀI: TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ Câu 1:

Bài viết có bố cục khá chặt chẽ, được thể hiện qua hệ thống luận điểm lô gích, mạch lạc Giữa các luận điểm vừa có sự tiếp nối tự nhiên vừa bổ sung, giải thích cho nhau:

- Văn nghệ không chỉ phản ánh thực tại khách quan mà còn là nhận thức mới mẻ,

là tư tưởng, tình cảm của cá nhân nghệ sĩ

- Tiếng nói của văn nghệ rất cần thiết với cuộc sống của con người, nhất là trong hoàn cảnh những năm đầu kháng chiến

- Văn nghệ có khả năng cảm hoá, có sức lôi cuốn thật kỳ diệu bởi đó là tiếng nói của tình cảm, tác động tới con người qua những rung cảm sâu xa

Câu 2:

Nội dung chủ yếu của văn nghệ là hiện thực mang tính cụ thể, sinh động, là đời sống tình cảm của con người qua cái nhìn và tình cảm của người nghệ sĩ Khác với các bộ môn khoa học như dân tộc học, xã hội học, lịch sử học, triết học thường khám phá, miêu tả và đúc kết các bộ mặt tự nhiên hay xã hội thành những quy luật khách quan, văn nghệ tập trung khám phá, thể hiện chiều sâu cuộc sống

Trang 12

trong các quan hệ, khám phá tính cách, số phận con người Nội dung của văn nghệ được thể hiện chủ yếu qua những đặc điểm sau:

- Tác phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống khách quan nhưng đó không phải là sự sao chép giản đơn, "chụp ảnh" nguyên xi thực tại Trong sự phản ánh của văn nghệ có cách nhìn, cách đánh giá cuộc sống, đồng thời đó cũng là tư tưởng, là tấm lòng của người nghệ sĩ gửi gắm trong đó

- Tác phẩm văn nghệ có tính giáo dục, tác động mạnh mẽ đến người đọc nhưng đó không phải là những lời thuyết lý khô khan mà ngược lại, khả năng tác động của văn nghệ bắt nguồn từ những tình cảm sâu sắc, những say sưa, vui buồn, yêu ghét của người nghệ sĩ Nó khiến ta rung động trước những vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, thậm chí cả quan điểm sống, lối sống của ta

- Nội dung của văn nghệ còn là những rung cảm, nhận thức của từng người tiếp nhận, được mở rộng, lan truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác

Câu 3:

Qua các dẫn chứng được lấy từ các tác phẩm, qua những câu chuyện cụ thể, sinh động, Nguyễn Đình Thi đã phân tích một cách thấm thía sự cần thiết của văn nghệ đối với con người:

- Văn nghệ giúp chúng ta sống đầy đủ hơn, phong phú hơn trên phương diện tinh thần

- Trong những trường hợp con người bị ngăn cách đối với đời sống, văn nghệ là sợi dây liên hệ giữa người đó với thế giới bên ngoài

- Văn nghệ góp phần làm cho đời sống của chúng ta ngày càng đẹp đẽ, đáng yêu hơn Một tác phẩm văn nghệ hay giúp con người cảm thấy yêu tin cuộc sống, biết rung cảm và ước mơ trước cái đẹp

Câu 4:

Trang 13

Văn nghệ tác động đến con người qua nội dung của nó và đặc biệt là còn đường

mà nó đến với người đọc, người nghe:

- Tình cảm là một yếu tố then chốt của văn nghệ Dù phản ánh cuộc sống nào thì một tác phẩm lớn luôn chan chứa những tình cảm sâu xa của người viết Không có những tình cảm sâu sắc, mãnh liệt đối với đời sống, một tác phẩm dù đề cập đến những vấn đề rộng lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa, ngay cả đối với bản thân người sáng tác

- Sự tác động của văn nghệ đối với con người chủ yếu cũng qua con đường tình cảm Những xúc cảm, tâm sự của tác giả đối với đời sống làm lay động cảm xúc của người đọc, người nghe Bạn đọc được sống cuộc sống mà nhà văn miêu tả, được yêu, ghét, vui, buồn cùng các nhân vật trong đó, dần dần thay đổi suy nghĩ, quan niệm về đời sống, thậm chí thay đổi cả cách ứng xử đối với những người xung quanh Văn nghệ khiến cho ta cảm thấy yêu cuộc sống hơn, đồng thời muốn đóng góp công sức của mình để làm cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn

SOẠN BÀI: CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP

I Thành phần tình thái

Câu 1:

Các từ ngữ in đậm trong những câu trên thể hiện nhận định của người nói đối với

sự việc nêu ở trong câu

(1) – chắc: thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với nội

dung được nói đến trong câu (ý nghĩ của nhân vật)

(2) – Có lẽ: cũng thể hiện độ tin cậy cao của người nói (người kể chuyện) đối với

nội dung được nói đến trong câu (tâm trạng, cử chỉ của nhân vật), nhưng ở một

mức độ không cao như từ chắc

Câu 2: Thành phần tình thái không quyết định đến nghĩa sự việc của câu Cho nên

khi bỏ đi các từ ngữ chắc, có lẽ thì nội dung cơ bản của những câu trên không

thay đổi

Trang 14

II Thành phần cảm thán

Câu 1: Các từ ngữ Ồ, Trời ơi trong hai câu này không chỉ sự vật hay sự việc cụ

thể nào Đây là thành phần cảm thán, có tác dụng bộc lộ tâm lí của người nói

Câu 2: Nhờ những phần tiếp theo của câu mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa

cảm thán của từng câu, rằng tại sao người nói lại kêu lên ồ và trời ơi

Câu 3: Các thành phần tình thái và cảm thán không tham gia vào việc diễn đạt

nghĩa sự việc của câu cho nên chúng được gọi là thành phần biệt lập

trách nhiệm về độ tin cậy mà người nói phải chịu thấp nhất Nhà văn chọn

từ chắc là chính xác nhất Tác giả không chọn từ chắc chắn vì đó mới là dự đoán của nhân vật "tôi" – người ngoài cuộc; nhưng cũng không dùng từ hình như có độ

tin cậy thấp, vì nhân vật "tôi" là bạn thân lâu năm của ông Sáu, có thể hiểu rõ được tâm lí của bạn mình

Câu 4:

Trang 15

Viết một đoạn văn ngắn, có sử dụng câu chứa thành phần cảm thán hoặc tình thái, nói về cảm xúc của em khi được thưởng thức một tác phẩm văn nghệ (truyện, thơ, phim, ảnh, tượng,…)

Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, chắc chắn không ai không thương xót cho số phận của nàng Kiều - một người con gái tài hoa bạc mệnh Có thấu hiểu quãng đời mười lăm năm lưu lạc của nàng thì chúng ta mới thấy hết sự tàn bạo, độc ác của tầng lớp thống trị lúc bấy giờ Hỡi ôi, một xã hội chỉ biết chạy theo đồng tiền, sẵn sàng chà đạp lên mọi nhân phẩm, giá trị của con người Đúng là một xã hội bất nhân, thối nát mà Nguyễn Du muốn lột trần bộ mặt thật của nó Nhưng ở đó, Truyện Kiều cũng là sự bênh vực, xót thương cho số phận nhỏ nhoi bị vùi dập Chắc hẳn đại thi hào Nguyễn Du phải đau lòng lắm khi viết ra những nỗi đau, sự bất công trong xã hội mà ông đã sống và chứng kiến

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI

SỐNG

I Kiến thức cơ bản

a Trong văn bản trên, tác giả bàn luận về sự hiện tượng coi thường giờ giấc ở

những công việc chung: Bệnh lề mề là một hiện tượng thường thấy của xã hội, nhất là ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển Bệnh lề mề rất có hại cho đời sống xã hội, bàn đến, chỉ ra những biểu hiện cũng như cái hại của nó nhằm phê phán là một việc làm rất có ý nghĩa, giúp xã hội tiến bộ hơn

b Các nguyên nhân của bệnh lề mề:

- Thiếu trách nhiệm, không coi trọng việc chung

- Thiếu tự trọng, không tôn trọng người khác

c Những tác hại của bệnh lề mề:

- Gây hại cho tập thể, lãng phí thời gian, làm mất thời gian của người khác

- Làm cho công việc trì trệ, gây ra tập quán không tốt…

Trang 16

Người viết tỏ rõ thái độ phê phán đối với hiện tượng lề mề coi thường giờ giấc, xem đây như một thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội

d Bố cục của bài viết mạch lạc và chặt chẽ (có thể chia thành 3 phần tương ứng

với Mở bài, Thân bài, Kết bài) Mở đầu, tác giả chỉ ra hiện tượng cần bàn bạc Tiếp đến, tác giả nêu nguyên nhân, phân tích những tác hại của hiện tượng Cuối cùng, tác giả đưa ra giải pháp khắc phục

II Luyện tập

Câu 1: Các sự việc, hiện tượng tốt, đáng biểu dương mà em thấy ở trường của

mình hoặc ở ngoài xã hội:

a Ham đọc sách

b Trung thực trong học tập

c Chấp hành nghiêm túc luật giao thông khi tham gia trên đường

d Nhặt được của rơi trả lại người mất

Trong số các sự việc, hiện tượng tốt, đáng biểu dương vừa nêu, sự việc, hiện tượng (b), (c) đáng để viết một bài nghị luận

Câu 2: Hiện tượng hút thuốc lá ở thanh niên nam rất đáng để viết một bài nghị

luận:

- Đây là hiện tượng có thực, phổ biến trong đời sống xã hội

- Hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe của bản thân và mọi người xung quanh

- Đề ra biện pháp xử lí hiện tượng trên

SOẠN BÀI: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG VÀO THẾ KỈ MỚI Câu 1:

Trang 17

Bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong dịp mở đầu thế kỷ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới

Nhiệm vụ của nước ta và thế hệ trẻ là:

- Đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức

Câu 2: Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau:

Bài viết nêu ra ba ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động:

- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người

- Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước

- Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới

Câu 3: Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan

trọng nhất, bởi vì:

- Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử

- Trong thời kỳ nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật

Câu 4:

Khi nêu ra những ưu điểm và nhược điểm của người Việt Nam, tác giả đã không làm một phép liệt kê giản đơn từ ưu điểm đến nhược điểm mà cứ mỗi khi nêu một

Trang 18

ưu điểm, tác giả lại đề cập đến một nhược điểm Điều đáng chú ý là những ưu điểm và nhược điểm đó luôn được đặt trong yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước hiện nay Cụ thể:

- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu kiến thức cơ bản, kiến thức thực hành

- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương

- Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc

- Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ "tín"

Câu 6:

Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: "nước đến chân mới nhảy", "trâu buộc ghét trâu ăn", "liệu cơm gắp mắm", "bóc ngắn cắn dài" Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh động, cụ thể, giàu ý nghĩa

Trang 19

SOẠN BÀI: CÁC THÀNH PHẦN BIỆT LẬP (TIẾP THEO) Câu 1:

Bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Khoan trong dịp mở đầu thế kỷ mới đã nêu ra một cách chính xác và kịp thời những vấn đề thiết thực đối với con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, lực lượng quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng đất nước trong thế kỷ mới

Nhiệm vụ của nước ta và thế hệ trẻ là:

- Đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức

Câu 2: Có thể xác định lại dàn ý của bài viết như sau:

Bài viết nêu ra ba ý lớn, mỗi ý lại được cụ thể hoá bằng một hệ thống luận cứ, dẫn chứng khá sinh động:

- Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người

- Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước

- Những cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam cần được nhận thức rõ trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới

Câu 3: Trong hành trang vào thế kỷ mới, sự chuẩn bị bản thân con người là quan

trọng nhất, bởi vì:

- Con người bao giờ cũng là động lực phát triển của lịch sử

- Trong thời kỳ nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, con người lại càng có vai trò nổi bật

Trang 20

- Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng lại thiếu kiến thức cơ bản, kiến thức thực hành

- Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương

- Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau nhưng đồng thời lại cũng thường đố kị nhau trong công việc

- Bản tính thích ứng nhanh nhưng lại có nhiều hạn chế trong thói quen, nếp nghĩ, quen bao cấp, rất sùng ngoại nhưng có khi lại bài ngoại đến mức cực đoan, khôn vặt, ít giữ chữ "tín"

Câu 6:

Trong văn bản, tác giả đã sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ: "nước đến chân mới nhảy", "trâu buộc ghét trâu ăn", "liệu cơm gắp mắm", "bóc ngắn cắn dài"

Trang 21

Việc sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ dân gian như vậy khiến cho bài viết thêm phần sinh động, cụ thể, giàu ý nghĩa

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO

I Kiến thức cơ bản

a Bài văn bàn về vấn đề vai trò của tri thức và người trí thức trong đời sống xã

hội

b Có thể chia văn bản Tri thức là sức mạnh thành 3 phần:

- Phần mở bài (đoạn mở đầu): đặt vấn đề "tri thức là sức mạnh";

- Phần thân bài (hai đoạn tiếp): Chứng minh tri thức đúng là sức mạnh trong công việc và khẳng định tri thức là sức mạnh cách mạng

- Phần kết bài (đoạn còn lại): Phê phán những người chưa biết quý trọng tri thức

và sử dụng tri thức không đúng mục đích

c Các câu mang luận điểm:

- Các câu trong đoạn mở bài

- "Tri thức đúng là sức mạnh"; "Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi.";

- "Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng.";

- Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức."; "Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!"

Trang 22

Các luận điểm được trình bày rõ ràng, thuyết phục, thể hiện được luận điểm chung: Tri thức là sức mạnh

d Văn bản chủ yếu sử dụng phép lập luận chứng minh Từ những dẫn chứng cụ

thể, người viết khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng "Tri thức là sức mạnh" và

"Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh", qua đó phê phán những người không biết quý trọng tri thức, sử dụng tri thức sai mục đích và đề cao vai trò của tri thức đối với sự phát triển của đất nước

e

- Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng cuộc sống: Từ một sự việc, hiện tượng đời sống, người viết nêu ra vấn đề mang ý nghĩa tư tưởng, đạo lí

- Bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đao lí: Bằng cách giải thích, chứng minh,

so sánh, đối chiếu, phân tích… làm sáng tỏ, một vấn đề tư tưởng, đạo lí, chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của nó; qua đó khẳng định tư tưởng của người viết

II Luyện tập

a Văn bản Thời gian là vàng thuộc loại bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

b Văn bản nghị luận về giá trị của thời gian Giá trị của thời gian được làm rõ qua

các luận điểm:

- Thời gian là sự sống

- Thời gian là thắng lợi

- Thời gian là tiền

- Thời gian là tri thức

c Trong văn bản Thời gian là vàng, người viết sử dụng phép lập luận phân tích và

chứng minh

Người viết đã phân tích giá trị của thời gian thành các luận điểm (Thời gian là sự sống – Thời gian là thắng lợi – Thời gian là tiền – Thời gian là tri thức) Các luận

Trang 23

điểm này lại được chứng minh bằng những dẫn chứng từ thực tiễn Mạch triển khai lập luận của bài văn đơn giản nhưng cô đọng, sáng rõ và chặt chẽ

SOẠN BÀI: CHÓ SÓI VÀ CỪU TRONG THƠ NGỤ NGÔN CỦA

LA PHÔNG TEN Câu 1: Văn bản có bố cục hai phần:

- Phần một (từ đầu đến "tốt bụng như thế"): hình tượng con cừu trong thơ phông-ten

La Phần hai (còn lại): hình tượng chó sói trong thơ LaLa phôngLa ten

Trong cả hai đoạn, nhằm làm nổi bật các hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ La-phông-ten, tác giả đều dẫn ra những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông Mạch nghị luận trong cả hai phần cũng tương đối giống nhau, đều theo trật tự ba phần: dưới ngòi bút của La-phông-ten – dưới ngòi bút của Buy-phông – dưới ngòi bút của La-phông-ten Trong phần một, hình ảnh cừu trong thơ La-phông-ten được thể hiện qua một đoạn thơ cụ thể Cách viết như vậy khiến cho bài văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn

Câu 2:

Buy-phông viết về loài cừu và loài chó sói từ quan điểm của một nhà khoa học, bởi vậy, các chi tiết đều giống như trong đời thực Ông không nói đến "sự thân thương của loài cừu" cũng như "nỗi bất hạnh của loài sói" bởi vì đó không phải là đặc điểm tiêu biểu của chúng Những đặc điểm đó do con người "gán" cho loài vật, không thể xuất hiện trong công trình nghiên cứu của một nhà khoa học

Trang 24

ten đã nhân cách hoá con cừu, miêu tả cả chó sói và cừu như những con người cụ thể

Câu 4: Hình tượng chó sói trong truyện ngụ ngôn của La-phông-ten được xây

dựng dựa trên đặc tính vốn có của loài sói, đó là săn mồi Từ đó, tác giả nêu ra hai luận điểm:

- Chó sói là kẻ đáng cười (vì không kiếm nổi miếng ăn nên đói meo)

- Chó sói còn là một kẻ đáng ghét vì nó làm hại đến người khác

Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, có thể phân tích hình tượng chó sói trong thơ ngụ ngôn của La-phông-ten theo những gợi ý sau:

- Con chó sói được nói đến trong bài thơ là một con sói cụ thể, rất sinh động (gầy giơ xương, đi kiếm mồi, muốn ăn thịt cừu non )

- Con chó sói được nhân cách hoá như hình tượng cừu dưới ngòi bút phóng khoáng của nhà thơ và đặc trưng của thể loại ngụ ngôn

SOẠN BÀI: LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN

I Khái niệm liên kết

Câu 1:

Đoạn văn bàn về mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống và sự sáng tạo của người

nghệ sĩ Đây là một yếu tố (chủ đề nhỏ) của chủ đề chung: Tiếng nói của văn nghệ

Chủ đề của đoạn văn trên nằm trong chủ đề chung của toàn văn bản, là một phần tạo nên chủ đề chung

Câu 2:

- Nội dung chính của câu (1): Tác phẩm nghệ thuật phản ánh thực tại đời sống

Trang 25

- Nội dung chính của câu (2): Điều quan trọng là người nghệ sĩ phải nói cái mới

Câu 3: Mối quan hệ chặt chẽ giữa các câu trong đoạn văn thể hiện bằng các biện

Chủ đề của đoạn văn trên là khẳng định tư chất trí tuệ đồng thời chỉ ra điểm yếu

mà người Việt Nam cần khắc phục để chuẩn bị cho thế kỉ mới Các câu trong đoạn văn đều xoay quanh và triển khai chủ đề chung này

Các câu được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ, thể hiện được mạch phát triển lập luận: khẳng định thế mạnh - chỉ ra nhược điểm - đòi hỏi phải khắc phục nhược điểm

Câu 2:

- Thế đồng nghĩa: sự thông minh, nhạy bén với cái mới - Bản chất trời phú ấy

- Nối: Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn - ấy là

Trang 26

- Lặp: lỗ hổng - lỗ hổng này; sự thông minh (câu 1) - trí thông minh (câu 5)

SOẠN BÀI: CON CÒ

Câu 1: Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò trong

những câu hát ru Con cò trong ca dao là hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống cần cù, vất vả Chế Lan Viên chỉ khai thác hình ảnh con cò là biểu trưng cho tấm lòng của mẹ và những lời hát ru

Câu 2: Bài thơ được tác giả chia làm ba đoạn:

- Đoạn 1: hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi ấu thơ

- Đoạn 2: hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo con người đi suốt cuộc đời

- Đoạn 3: từ hình ảnh con cò, nhà thơ suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và tình mẹ đối với cuộc đời mỗi con người

Ý nghĩa biểu trưng của con cò có sự phát triển: con cò trong lời ru (đoạn 1) biến

thành con cò mang tình cảm của mẹ mãi dõi theo bước chân con (đoạn 2) và trở thành biểu tượng cho lời ru, cho lòng mẹ theo con suốt đời Con cò trong lời hát trở thành con cò nâng đỡ, dìu dắt con; thành con cò đồng hành với con suốt đời trong một tình yêu thiêng liêng, cao cả

Câu 3: Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đã sử dụng những câu ca dao:

- Con cò bay lả bay la

Bay từ cổng phủ, bay ra cánh đồng

- Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng

- Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Trang 27

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục,đau lòng cò con

Trong hai bài ca dao trước, hình ảnh con cò gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc, nhịp điệu nhẹ nhàng, thong thả của cuộc sống thời xưa Trong bài ca dao

sau (Con cò mày đi ăn đêm ), hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con

người, nhất là người phụ nữ đang nhọc nhằn, vất vả để kiếm sống nuôi con

Câu 4:

Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò nhưng cảm hứng chủ đạo lại là tình

mẹ Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ Bởi vậy, những câu thơ mang tính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêu thương của người mẹ:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con

Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thể hiện tình cảm yêu thương vô

bờ bến của người mẹ Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở

Câu 5:

Trang 28

Trong bài thơ này, tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời ru Tuy nhiên đây không phải là bài hát ru theo kiểu hát, mà lời ru gợi ra những suy ngẫm, triết lý, nên không cuốn người đọc vào giai điệu đều đều, êm ái

mà hướng tâm trí vào suy ngẫm, chiêm nghiệm Điều đó làm cho việc thể hiện cảm xúc đa dạng, nhất quán và sáng tạo

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP: LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN

VĂN Câu 1: Những phép liên kết câu và liên kết đoạn văn là:

(a):

- Liên kết câu: trường học - trường học (phép lặp);

- Liên kết đoạn: trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân

và phong kiến - như thế (phép thế)

(b):

- Liên kết câu: Văn nghệ - văn nghệ (phép lặp);

- Liên kết đoạn: sự sống - Sự sống; văn nghệ - Văn nghệ (phép lặp)

(c): Liên kết câu: thời gian - thời gian - thời gian; con người - con người - Con

người (phép lặp)

(d): Liên kết câu: yếu đuối - mạnh; hiền lành - ác (liên hệ trái nghĩa)

Câu 2: Các cặp từ ngữ trái nghĩa:

Thời gian vật lí Thời gian tâm lí

Trang 29

ra mối liên kết chặt chẽ giữa hai câu văn

Câu 3: Các lỗi về liên kết nội dung:

(a): Theo sự diễn đạt này, các câu vi phạm liên kết nội dung: không cùng chung

một chủ đề

- Sửa: Cắm bơi một mình trong đêm Trận địa đại đội 2 của anh ở phía bãi bồi bên một dòng sông Anh chợt nhớ hồi đầu mùa lạc hai bố con anh cùng viết đơn xin ra mặt trận Bây giờ thì mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối

(b): Câu này vi phạm liên kết nội dung: trình tự các sự việc nêu trong các câu

không hợp lí

- Sửa: Năm 19 tuổi chị đẻ đứa con trai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong hai

năm rồi chết Suốt thời gian anh ốm, chị làm quần quật phụng dưỡng cha mẹ

chồng, hầu hạ chồng, bú mớm cho con Có những ngày ngắn ngủi cơn bệnh tạm lui, chồng chị yêu thương chị vô cùng

Câu 4: Các lỗi liên kết hình thức:

(a): Lỗi thay thế, từ nó trong câu 2 không thể thay thế cho loài nhện Chữa:

thay nó bằng chúng

(b): Lỗi dùng từ không thống nhất, từ hội trường không thể đồng nghĩa với từ văn

phòng cho nên không thể thay thế được cho nhau Chữa: bỏ từ hội trường trong câu 2 hoặc thay từ này bằng từ văn phòng

Trang 30

SOẠN BÀI: CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ

TƯỞNG, ĐẠO LÍ

I Đề bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

a Những điểm giống nhau giữa các đề:

- Các đề đều đưa ra một vấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí

- Tuy vậy các đề 1, 3, 10 là đều có yêu cầu cụ thể (suy nghĩ, bàn về, ) Các đề còn lại không nêu yêu cầu Nhưng dù có đưa ra mệnh lệnh hay không thì các đề đều có điểm chung về yêu cầu: nghị luận (tức là đòi hỏi người viết phải nhận định, giải thích, bình luận, chứng minh)

b Một vài đề bài tương tự:

- Bình luận câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"

- Suy nghĩ của em về tính trung thực trong học tập

- Đoàn kết là sức mạnh

- Có công mài sắt có ngày nên kim

II Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

Phần này đã được trình bày đầy đủ trong sgk Ngữ Văn 9

Trang 31

- Tìm ý: Tự học là gì? Tại sao phải tự học? Tự học có tác dụng, ưu thế gì? Người

có tinh thần tự học là người như thế nào? Em đã biết đến những tấm gương tự học nào? Em đã có tinh thần tự học chưa?

+ Tự học" là phần làm việc ở nhà trước khi vào lớp tốt hơn

- Chứng minh: Trong thực tế có biết bao gương tự học đã làm nên danh phận như: Mạc Đỉnh Chi tự học thi đỗ Trạng nguyên, Mã Lương tự học và vẽ như thật, Bác

Hồ tự học và biết nhiều thứ tiếng

- Phê phán: Những kẻ lười học, xem việc học là khổ sở, là bắt buộc nên chán học , lười học

Trang 32

+ "Tự học" là biện pháp giúp người học sinh tự tìm hiểu lấy kiến thức

+ "Tự học" là phương pháp mới giúp học sinh năng động hơn trong học tập

+ Đó còn là cơ sở thể hiện năng lực tư duy sáng tạo, biết sắp xếp công việc có khoa học

+ Người học sinh có biện pháp tự học là biết làm chủ lấy mình

3 Kết bài:

- Tinh thần tự học giúp con người nâng cao kiến thức, tự làm chủ lấy mình, tự đặt

ra kế hoạch trong học tập

- Tinh thần tự học rất cần cho tất cả mọi người

- Mỗi học sinh cần đề ra cho mình biện pháp tự học

SOẠN BÀI: MÙA XUÂN NHO NHỎ Câu 1:

Từ xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đến mùa xuân của mỗi con người trong mùa xuân lớn của đất nước, thể hiện khát vọng được dâng hiến "mùa xuân nho nhỏ" của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung

Có thể xác định bố cục của bài thơ gồm bốn đoạn:

- Khổ đầu (6 dòng thơ): cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất trời

- Hai khổ 2, 3 (từ "Mùa xuân người cầm súng" đến "cứ đi lên phía trước"): hình ảnh mùa xuân đất nước

- Hai khổ 4, 5 (từ "Ta làm con chim hót" đến "Dù là khi tóc bạc"): những suy nghĩ

và ước nguyện của nhà thơ trước thiên nhiên đất nước

- Khổ thơ cuối: Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu ca Huế

Trang 33

Câu 2:

Mùa xuân ở khổ thơ đầu là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời với dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời Chỉ bằng vài nét phác hoạ, tác giả đã vẽ ra cả không gian cao rộng với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao

la, với màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoa tím biếc), với những âm thanh vang vọng (tiếng chim chiền chiện) của mùa xuân

Cảm xúc của tác giả trước cảnh mùa xuân được diễn tả qua hai câu thơ:

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

Có nhiều cách hiểu về hai câu thơ này, tuy nhiên có thể hiểu "từng giọt" là "những giọt mùa xuân", là sự chuyển đổi các cảm giác, từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh sang hình khối, đường nét, một sự cụ tượng hoá những yếu tố vô hình (âm thanh, màu sắc ) thành một yếu tố hữu hình, có thể cảm nhận được bằng nhiều giác quan Dù hiểu như thế nào thì hai câu thơ cũng thể hiện niềm say sưa ngây ngất của nhà thơ trước cảnh mùa xuân

Câu 3:

Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước Đó là khát vọng được hoà nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước

Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp Nhà thơ đã dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói lên ước nguyện của mình: muốn "làm con chim hót", muốn "làm một cành hoa" Niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, như bông hoa toả hương sắc, mang đến vẻ đẹp cho cuộc đời

Đoạn thơ gợi cho ta những suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết sống, biết chăm lo cho cuộc

Trang 34

đời chung và có thể đóng góp những gì tốt đẹp của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước

Câu 4: Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca

Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệu quả:

- Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết Cách gieo vần liền giữa các khổ thơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc

- Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao ) với các hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao )

- Tứ thơ xoay quanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quê hương đất nước Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảm xúc trong thơ không bị dàn trải

- Giọng điệu của bài thơ thể hiện đúng tâm trạng của tác giả, biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khi bộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết

Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải Nhiều nhà thơ đã viết về mùa xuân với những sắc thái khác nhau: mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), Xuân ý, Xuân lòng (Tố Hữu) Trong bài thơ này, ý nguyện của tác giả là muốn làm một mùa xuân nhưng chỉ là một mùa xuân nho nhỏ - đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm đẹp thêm mùa xuân đất nước

SOẠN BÀI: VIẾNG LĂNG BÁC Câu 1:

Cảm xúc bao trùm trong bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào xen lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác Giọng điệu trong bài thơ là giọng thành kính, trang nghiêm trong những suy tư trầm lắng Cảm xúc đó được thể hiện theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác Mở đầu là cảm xúc về cảnh bên ngoài lăng, tiếp đó là cảm xúc trước hình ảnh dòng người bất tận

Trang 35

ngày ngày vào lăng viếng Bác Nỗi xúc động thiêng liêng khi vào lăng được gợi lên từ những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng: mặt trời, vầng trăng, trời xanh Trong khổ thơ cuối, tác giả thể hiện niềm mong ước thiết tha muốn tấm lòng mình mãi mãi ở lại bên lăng Bác

Câu 2:

Hàng tre là hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả trong bài thơ Đây là hình ảnh thực nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc Đó là hình ảnh thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam, một biểu tượng của dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất, bền bỉ Cuối bài thơ, hình ảnh hàng tre còn được lặp lại với

ý nghĩa cây tre trung hiếu Đó cũng là một phẩm chất tiêu biểu của con người Việt

Nam, dân tộc Việt Nam Cách kết cấu như vậy gọi là kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh, gây ấn tượng sâu sắc và cảm xúc được nâng cao lên

Câu 3:

Tình cảm của nhà thơ, của mọi người đối với Bác đã được thể hiện qua sự kết hợp giữa những hình ảnh thực với những ẩn dụ đặc sắc:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ hai vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ vừa thể hiện được sự thành kính của nhà thơ và của cả dân tộc đối với Bác

Đến hai câu tiếp theo, hình ảnh "dòng người đi trong thương nhớ" là thực nhưng "Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân" lại là một ẩn dụ đẹp và rất

sáng tạo, thể hiện sâu sắc những tình cảm thành kính, thiêng liêng của nhân dân đối với Bác

Đến khổ thứ ba, dòng người đang yên lặng đi qua linh cữu Bác trong nỗi nhớ thương và xót xa vô hạn Không khí tĩnh lặng, khung cảnh yên tĩnh nơi đây đã khiến cho ngay cả hình ảnh thơ cũng thay đổi:

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Trang 36

Hình ảnh mặt trời rực đỏ trong lăng đã được thay bằng vầng trăng "sáng dịu hiền"

Sự thay đổi ấy thể hiện rất nhiều ý nghĩa Bác không chỉ là một người chiến sĩ cách mạng, là ngọn đuốc sáng soi đường cho dân tộc (ý nghĩa biểu tượng từ mặt trời), Bác còn là một người Cha có "đôi mắt Mẹ hiền sao!" Hình ảnh vầng trăng còn gợi ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng của Người

Đến hai câu thơ sau, mạch xúc cảm ấy đã được bộc lộ trực tiếp:

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Đây là những câu thơ hết sức chân thành, mãnh liệt Tình cảm mãnh liệt của tác giả đã khiến cho câu thơ vượt lên trên ý nghĩa biểu tượng thông thường, đồng thời tạo nên một mạch liên kết ngầm bên trong Hình ảnh Bác được ví với mặt trời rực

rỡ, với mặt trăng dịu mát, êm đềm và với cả trời xanh vĩnh cửu Đó đều là những vật thể có ý nghĩa trường tồn gần như là vĩnh viễn nếu so với đời sống của mỗi cá nhân con người Mặc dù vậy, tác giả vẫn thốt lên: "Mà sao nghe nhói ở trong tim"

Đó là lời giãi bày rất thực, xuất phát từ những tình cảm mãnh liệt của nhân dân, đồng bào đối với Bác Thông thường, trong những hoàn cảnh tương tự, việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ là một thủ pháp nhằm giảm nhẹ nỗi đau tinh thần Mặc dù vậy, tác giả thốt lên: "Mà sao nghe nhói ở trong tim" Dường như nỗi đau quá lớn khiến cho những hình ảnh ẩn dụ trở nên không còn ý nghĩa, chỉ có cách diễn tả trực tiếp tâm trạng mới có thể giúp nhà thơ giãi bày tình cảm của mình

Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ được mãi mãi ở bên Bác Đã đến giờ phút phải chia tay, tác giả chỉ có thể biểu hiện tấm lòng mình bằng ước muốn hoá thân vào những cảnh vật, sự vật ở bên Bác: muốn làm con chim cất cao tiếng hót, muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây, và nhất là muốn làm cây tre trung hiếu

để có thể mãi mãi ở bên Bác

Câu 4:

Giọng điệu trong bài thơ thể hiện rất nhiều tâm trạng: đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lại chan chứa niềm tin và lòng tự hào, thể hiện đúng những tâm trạng bộn bề của bao người khi vào lăng viếng Bác

Trang 37

 Bài thơ sử dụng thể 8 chữ là chủ yếu nhưng có những câu 7 chữ hoặc 9 chữ Nhịp điệu trong thơ chậm rãi, khoan thai, diễn tả khá sát hình ảnh đoàn người đang nối nhau vào cõi thiêng liêng để được viếng Bác, để được nghiêng mình thành kính trước vong linh của một người Cha nhưng cũng đồng thời là một vị anh hùng dân tộc

 Hình ảnh thơ trong bài rất sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng Những hình ảnh ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng, trời xanh tuy đã rất quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ này đã thể hiện được những ý nghĩa rất mới mẻ, có sức khái quát cao đồng thời cũng chan chứa tình cảm của tác giả, của đồng bào miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung đối với Bác

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC

ĐOẠN TRÍCH)

I Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

a Văn bản nghị luận về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên làm công tác khí

tượng kiêm vật lí địa cầu trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long

Có thể đặt tên cho văn bản là: Con người của Sa Pa lặng lẽ hoặc Sức sống Sa Pa…

b Các luận điểm:

- Tấm lòng yêu đời, tinh thần trách nhiệm cao với công việc

- Lòng hiếu khách và sự chu đáo với mọi người

- Sự khiêm tốn

c Cách dẫn dắt từng luận điểm: Nêu luận điểm (thể hiện ở các câu chủ đề đầu

đoạn) – phân tích, chứng minh các luận điểm – Khái quát chung, nâng cao vấn đề

II Luyện tập

Trang 38

Câu 1: Đoạn văn nghị luận: cái chết của nhân vật lão Hạc, qua đó thấy được vẻ

đẹp nhân cách của nhân vật này trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

Câu 2: Các ý chính của đoạn văn:

- Lão Hạc phải lựa chọn giữa sống và chết;

- Lão Hạc đã chọn cái chết trong còn hơn sống khổ, sống nhục

- Cái chết của lão là gieo mầm cho cái sống

Câu 3: Đoạn văn giúp ta hiểu thêm về nhân vật lão Hạc:

- Đó là sự hi sinh cao cả

- Đó là nỗi đau thân phận của con người

SOẠN BÀI: CÁC LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM

TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH)

I Đề bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

a Các vấn đề nghị luận:

- Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

- Diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

- Thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều của Nguyễn Du

- Đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng

b Sự khác nhau về yêu cầu (mệnh lệnh) trong các đề bài trên thể hiện ở hai

từ phân tích và suy nghĩ:

Trang 39

- Phân tích: Phân tích tác phẩm hoặc một phương diện nào đó của tác phẩm để

đưa ra nhận định về giá trị của tác phẩm

- Suy nghĩ: Đưa ra nhận định, đánh giá về tác phẩm theo một khía cạnh, góc nhìn

hay vấn đề nào đó

Trong bài văn trình bày suy nghĩ về tác phẩm (hoặc đoạn trích) có thể sử dụng nhiều thao tác, trong đó có cả phân tích

II Tìm hiểu các bước làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

Cho đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng" của Kim Lân

"Lão Hạc" là một trong những tác phấm tiêu biểu như thế! Truyện đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ

2 Thân bài:

Tham khảo 1 đoạn phần thân bài:

Về phần cuối truyện, tác giả đặt nhân vật giữa hai tọa độ nhìn khác nhau: vợ ông giáo và Binh Tư Trò chuyện với vợ, ông giáo nghiền ngẫm, triết lí về sự nhìn nhận và đánh giá của người đời Trò chuyện với Binh Tư, ông giáo từ sửng sốt chuyển sang thất vọng về lão Hạc Ở chỗ nãy, Nam Cao thật cao tay – ông đưa ra một hiểu lầm thật bất ngờ để rồi cũng bằng cách bất ngờ nhất, ông "lật tẩy" sự việc làm cho người đọc thỏa mãn trong sự hiểu biết trọn vẹn: lão Hạc vẫn nguyên vẹn, trong sạch cho đến chết

Trang 40

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM

TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH)

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn

II Thân bài :

a Giới thiệu :

- Chiếu lược ngà viết 1966 viết trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta rất gay go

- Truyện kể ngôi thứ nhất qua lời kể của Bác Ba - bạn thân anh Sáu

- Chiếc lược ngà là kỉ vật cuối cùng của ông Sáu dành cho bé Thu

- Nhà văn dẫn dắt nhân vật vào tình huống éo le để nhân vật bộc lộ sâu sắc tình cha con

- Nói sơ lược cốt truyện

b Cảm nhận

Bé Thu cảm nhận tình yêu thương một cách mãnh liệt

- Qua các tình huống khi bé Thu lần đầu gặp người đàn ông có vết sẹo dài trên mặt

Ngày đăng: 24/12/2017, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w