So sánh phong tục hôn nhân truyền thống và hiện đại của người dân Việt Nam 1.Quan niệm về Hôn nhân của ngày xưa và ngày nay Tất nhiên trong mỗi con người sẽ có những quan niệm cũng như
Trang 1I.Khái quát về hôn nhân:
+Với những người theo phái tự nhiên và phái phân tâm học định nghĩa hôn nhân:
Hôn nhân là một hiện tượng tự nhiên Đó là sự liên kết giữa hai con người khác giới với nhau thành một gia đình để giữ chức năng duy trì nòi giống
+Những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì cho rằng :
Hôn nhân trước hết là một quy chế xã hội và sau đó mới là một hiện tượng sinh học, hiện tượng tự nhiên Đây là một sự thật đã tồn tại suốt mấy ngàn năm qua tất cả các nước trên thế giới
II So sánh phong tục hôn nhân truyền thống và hiện đại của người dân Việt Nam
1.Quan niệm về Hôn nhân của ngày xưa và ngày nay
Tất nhiên trong mỗi con người sẽ có những quan niệm cũng như suy nghĩ khác nhau về hôn nhân, đặc biệt là ngày xưa và ngày nay
+ Ngày xưa ( Truyền thống )
Buổi đầu sơ khai là chế độ quần hôn, sau đó là hôn nhân mẫu hệ - một người phụ nữ có thể kết hôn với nhiều người đàn ông Và tiếp đó là hôn nhân phụ hệ,
đa thê Một người đàn ông có thể làm chồng của nhiều người phụ nữ Đó là hôn nhân bất bình đẳng, mua bán, cưỡng ép… Cuối cùng ngày nay là gia đình bình quyền, tự nguyện, một vợ một chồng Quan niệm về hôn nhân cổ truyền Trong
54 dân tộc Việt Nam - mỗi một dân tộc đều có những quan niệm và trực lệ hôn nhân khác nhau, trong đó người Việt là một trong những tộc người có quan niệm và tục lệ hôn nhân vào loại đa dạng nhất
Sự đa dạng phức tạp trong tục lệ hôn nhân truyền thống của người Việt được quy định bởi bản sắc văn hoá tộc người, thêm vào đó là sự ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến và tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc Vì vậy luật nó đã có quy định: việc hôn nhân là do hai bên cha mẹ và họ hàng quyết định Hầu hết ở các vùng nông thôn, và cả trong đô thị, việc hôn nhân theo phong tục đều phải qua một cầu trung gian là người mối lái Nhà trai muốn chọn vợ cho con thì xem “chỗ nào môn đăng hộ đối, tuổi không xung khắc nhau mới mượn người mối lái Mối lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà trai mới đem trầu đến dạm” Môn đăng - hộ đối là tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với tầng lớp trên ở xã hội phong kiến mà cũng thường là tiêu chuẩn chung của xã hội Việt Nam Quan niệm “đăng đối” phải theo nguyên tắc “địa vị xã hội và điều kiện kinh tế của nhà gái có thể thấp hơn nhà tri nhưng không có chuyện ngược lại” Tuổi tác bố mẹ cô dâu chú rể cũng được xem là tiêu chuẩn quan trọng của “môn đăng - hộ đối”
1
Trang 2Theo tập quán người Việt, sau khi quan hệ thông gia đã được thiết lập thì thay đổi về cách xưng hộ giữa hai gia đình và hai tộc họ Do đó nếu cách biệt quá vì tuổi thì người ta cũng không làm thông gia với nhau Ngoài hai tiêu chuẩn cơ bản trên trong quan niệm “môn đăng - hộ đối” người ta còn chú trọng đến tình trạng sức khoẻ của gia đình, tình trạng phương pháp, quan hệ bố mẹ như thế nào? anh em trong gia đình, vấn đề dòng họ Các tiêu chuẩn này được đúc kết lại trong quan niệm “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”
Hợp tuổi là tiêu chuẩn quan trọng thứ hai trong việc kén rể, chọn dâu của các
cụ ngày trước Việc xem tuổi ở đây không phải là sự chênh lệch tuổi tác giữa hai người mà quan trọng là tuổi cầm tinh con gì ở mỗi người tính theo hệ can chi của âm lịch Ngoài ra, người ta còn so tuổi theo nguyên lý âm dương, ngũ hành, tức là “mệnh” của hai người Vì ai cũng cho rằng hợp tuổi nhau thì gia đình mới hoà thuận, thậm chí việc này có ảnh hưởng đến cả đường con cái, tính mạng của nhau Trên là hai tiêu chuẩn chung đối với nhà trai lẫn nhà gái Nhưng trên thực tế người ta chỉ tuân thủ chặt chẽ và đầy đủ với việc chọn dâu, còn trong việc kén rể thì tiêu chuẩn trên thường được nới lỏng hơn và cũng chỉ diễn ra ở các gia đình nhà gái tương đối thân thế
+ Ngày nay ( Hiện đại )
Quan niệm về tầm quan trọng của một lễ cưới ngày nay vẫn giữ nguyên vẹn Thế nhưng việc dựng vợ gả chồng không còn quá phụ thuộc vào cộng đồng Nghĩa là đó là quyền quyết định của đôi trẻ, cho dù gia đình có ‘môn đăng hộ đối’ hay không Việc này cũng cho phép cô dâu và chú rể được đặt tính cá nhân của mình vào một lễ cưới nhiều hơn
Quan niệm hôn nhân ngày nay được tự do hơn, thoải mái hơn ngày xưa rất nhiều bởi giới trẻ hoàn toàn có thể làm chủ mình trong vấn đề hôn nhân Cũng
có nhiều trường hợp những người thích yêu nhưng không thích cưới , cũng có nghĩa là không tiến tới hôn nhân trên mặt pháp luật
Đứng về phía pháp luật, chỉ cần đôi nam nữ có giấy đăng kí kết hôn là được pháp luật bảo vệ Thế nhưng, quan niệm chung của tất cả các cặp đôi vẫn là kết hôn phải được sự đồng ý của hai bên gia đìnhvà thông báo tới họ hàng và bạn bè
2.Nghi Thức
Một lễ cưới đúng nghĩa sẽ phải trải qua những bước tiến hành và ngày càng có
sự thay đổi giữa quá khứ và hiện đại
+ Ngày xưa (Truyền thống )
2
Trang 3Dân gian coi cưới xin là một trong ba việc lớn của đời người (sự nghiệp, làm nhà và cưới vợ) khi nhấn mạnh trong câu ca dao: "tậu trâu cưới vợ làm nhà "Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, hôn nhân của người Việt xưa có sáu lễ chính Để tiến đến lễ cưới, hai gia đình phải thực hiện những lễ chính sau:
-Lễ nạp thái: sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn" để tỏ
ý đã kén chọn ở nơi ấy
-Lễ vấn danh: là lễ do nhà trai sai người làm mối đến hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng Đẻ của người con gái
-Lễ nạp cát: lễ báo cho nhà gái biết rằng đã xem bói được quẻ tốt, nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, nếu tuổi xung khắc thì thôi, quan niệm thoáng hơn người ta tìm cách hóa giài
-Lễ nạp tệ (hay nạp trưng): là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, tang chứng cho sự hứa hôn chắc chắn
-Lễ thỉnh kỳ: là lễ xin định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới
-Lễ thân nghinh (tức lễ rước dâu hay lễ cưới): đúng ngày giờ đã định, họ nhà trai mang lễ đến để rước dâu về
Lễ cưới dân gian
Khi nhà trai xin cưới và nếu nhà gái thuận thì trả lời cho ông bà mai Sự trả lời này còn bao gồm việc thách cưới, nghĩa là nhà gái đòi nhà trai trong lễ đón dâu phải có những đồ lễ gì, bao nhiêu Thách cưới, nhà gái thường đòi với số lượng lớn, yêu cầu thường là trầu rượu, cau, trà, bánh trái, gạo, heo, đồ trang sức, y phục cho cô dâu và tiền mặt
Đúng ngày cưới, người ta chọn giờ "hoàng đạo" mới đi, thường là về chiều, có nơi đi vào chập tối Dẫn đầu đám rước đàng trai là một cụ Già nhiều tuổi được dân làng kính nể vì tuổi tác, tư cách, địa vị xã hội, đóng vai chủ hôn
Ở miền Bắc Việt Nam ngày xưa, tại nhà trai, người ta chờ đợi đám rước dâu về Một quả lò than đốt hồng đặt trước ngưỡng cửa để chờ cô dâu với nghĩa: lửa hồng sẽ đốt hết những tà ma theo Ám ảnh cô dâu và sẽ đốt vía của tất cả những
kẻ độc mồm độc Miệng đã quở mắng cô dâu ở dọc đường
Cô dâu vào lễ gia tiên nhà chồng xong, ông bà cũng như bố Mẹ chồng tặng cho
cô dâu món quà, thường là tiền hoặc là đồ nữ trang
Lễ tơ hồng được cử Hành rất đơn giản Bàn thờ thiết lập ngoài trời, bày lư hương và nến hay đèn, tế vật dùng xôi, gà, trầu, rượu Hai ngày sau lễ cưới, Vợ chồng đưa nhau về thăm cha mẹ vợ với một số lễ vật, tùy theo tập tục địa phương bên vợ Xưa lễ này gọi là "Nhị hỷ" Nếu nhà chồng
3
Trang 4ở cách xa quá, không về được trong hai ngày thì có thể để bốn ngày sau, gọi là
"Tứ hỷ"
Theo tục lệ vợ chồng đem lễ chay hoặc lễ mặn về nhà để cúng gia tiên, để trình bày với gia tiên và cha mẹ, cùng họ hàng việc cưới đã xong xuôi toàn mãn +Ngày nay ( Hiện đại )
Ở phương diện luật định, sau khi đăng ký kết hôn đôi trai gái được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, trong tâm thức và văn hóa dân tộc, lễ cưới chứ không phải
tờ hôn thú, mới là thời điểm để họ hàng, bè bạn và mọi người chính thức công nhận đôi trai gái là vợ chồng
Cũng vì vậy, tại lễ cưới nhiều vấn đề xã hội diễn ra, khen chê của dư luận xã hội đều tập trung vào đó, "ma chê cưới trách" nhưng lại "ai chê đám cưới, ai cười đám ma" Một đám cưới theo nghi thức cổ truyền có thể vừa được khen, vừa bị chê Người khen thì cho rằng thế mới là đám cưới Việt Nam, thế mới không sợ sự du nhập của văn hoá bên ngoài, nhưng người chê thì lại nói rằng thế là rườm rà, lãng phí và luỵ cổ
Tuy vậy, chính quyền không cấm việc tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán xưa, mà chỉ ban hành "quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi", theo đó, quy định rằng: "các thủ tục có tính phong tục tập quán như chạm ngõ, lễ hỏi, xin dâu cần được tổ chức đơn giản và gọn nhẹ" và "việc cưới cần được tổ chức trang trọng vui tươi, lành mạnh phù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc"
Trình tự tiến đến lễ cưới của người Việt Nam, có thể có những cách thức, tên gọi khác nhau, đa số có những điểm chung:
-Đăng ký kết hôn
Lễ cưới ngày nay thường được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn.Chụp ảnh, quay phim: Ở một số thành phố lớn, cô dâu và chú rể thường đến một số địa điểm đẹp ngoài trời để chụp ảnh làm kỷ niệm.Chuẩn bị vật phẩm hôn lễ, quà cưới, phòng cưới, tiệc cưới, quần áo, xe hoa Phải chọn một người trung gian, đóng vai trò bắc cầu cho hai bên gia đình Đó thường là người đứng tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm trong ăn nói
-Lễ dạm ngõ
Được sự đồng ý của nhà gái, nhà trai đem lễ sang Đồ lễ bắt buộc phải có là trầu, cau, rượu, chè Phải có trầu Cau vì câu chuyện trầu cau trong cổ tích Việt Nam là tiêu biểu cho tình nghĩa vợ chồng, họ hàng ruột thịt Miếng trầu là đầu câu chuyện, không có trầu là không theo lễ
4
Trang 5-Lễ Ăn hỏi
Hay còn gọi là lễ vấn danh, theo tục xưa là hỏi tên tuổi cô gái, nhưng ngày nay cha mẹ đôi bên đã biết biết rõ rồi Cô gái nhà nào đã nhận lễ vấn danh coi như
đã có nơi, có chốn Sau ngày lễ ăn hỏi, phải có báo hỉ, chia trầu Nhà gái trích trong lễ vật nhà trai đưa đến một lá trầu, một quả cau, một gói trà nhỏ, một cái bánh cốm, hoặc vài hạt mứt Tất cả gói thành hộp hay phong bao giấy hồng, mang đến cho các gia đình họ hàng, bạn hữu của nhà gái Nhà trai cũng báo hỉ, nhưng không phải có lễ vật này mà chỉ cần thiếp báo hỉ Cũng trong lễ ăn hỏi, hai họ định luôn ngày cưới
-Lễ cưới
Lễ nạp tài: Là ngày nhà trai đem sính lễ sang nhà gái Đồ sính lễ gồm trầu cau, gạo nếp, Thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu Ý nghĩa của lễ nạp tài là nhà trai góp với nhà gái chi phí cỗ bàn, cho nhà gái và cô dâu biết mọi thứ đã chuẩn bị sẵn Với đồ nữ trang cho cô dâu làm vốn, cô có thể yên tâm xây dựng
tổ ấm mới, chứ không đến nỗi sẽ gặp cảnh thiếu thốn
-Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu nhà trai cử người đem trầu, Rượu đến xin dâu,
báo đoàn đón dâu sẽ đến
-Tục chăng dây: ở một số đám cưới, nhà gái bố trí vài em nhỏ bụ bẫm, xinh
xắn, mặc áo đỏ chăng dây trước của nhà gái Khi nhà trai đến, một trong các
em nhỏ chạy về báo cho nhà gái biết Nhà trai chuẩn bị một ít kẹo để phân phát cho lũ trẻ chăng dây này, khi đã nhận được kẹo bọn chúng sẽ rút dây để đoàn nhà trai đi vào nhà gái
-Lễ rước dâu: Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành một đoàn, có cụ già cầm
hương đi trước, cùng với người mang lễ vật Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào Cô dâu cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình với tổ tiên Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng Bố mẹ cô dâu tặng quà cho con gái mình Có gia đình cũng lúc này bày cỗ bàn cho cả họ nhà gái chung vui Khách nhà trai cũng được mời vào
cỗ Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng Họ nhà gái chọn sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu
-Rước dâu vào nhà: đoàn đưa dâu về đến ngõ Lúc này, bà mẹ chồng cầm bình
vôi, tránh mặt đi một lúc, để cô dâu bước vào nhà Hiện tượng này được giải thích theo nhiều cách Thường người ta cho rằng việc làm này có ý nghĩa khắc phục những chuyện cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu sau này
-Lễ tơ hồng: khi hai họ ra về, một số người trừ người thân tín ở lại chứng kiến
cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau
là do ông Tơ bà Nguyệt trên trời xe duyên cho Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này Lễ cúng đơn giản, ông cụ già cầm hương lúc đón dâu, hoặc ông cụ già cả nhất của họ hàng làm chủ lễ Hai vợ chồng lạy lễ tơ hồng rồi vái nhau
5
Trang 6-Trải giường chiếu: bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều
cháu, phúc hậu, hiền từ, cô dâu chú rể vào phòng tân hôn, bà sẽ trải sẽ trải đôi chiếu lên giường ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận
-Lễ hợp cẩn: đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai Trước giường có bàn
bày trầu Rượu và một đĩa bánh phu thê Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống
-Tiệc cưới: dù đám cưới to hay nhỏ, cũng phải có tiệc cưới Đặc biệt là ở nông
thôn, tính cộng đồng xóm giềng, làng xã, họ hàng đang còn mạnh thì tiệc cưới
là một dịp tốt để củng cố tính cộng đồng ấy Ở thành phố, người ta thường tổ chức tiệc cưới ngay sau lễ thành hôn, cho nên nhiều khi cái "tục" của sự ăn lấn
át mất cái "thiêng" của lễ cưới Người ta đến ăn, ngồi cùng bàn ăn là những người không quen biết, ăn sao cho đúng giờ Tiệc cưới có thể tổ chức nhà gái (trước hôm cưới) và nhà trai (trong ngày cưới); nhưng cũng có thể hai nhà tổ chức chung thành một tiệc
-Lễ cheo: một số vùng của Việt Nam còn có lễ cheo Lễ cheo có thể tiến hành
trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày Lễ cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc kinh phí đem đến cho làng hay cho xóm Có con gái đi lấy chồng Lễ cưới
là để họ hàng công nhận, lễ cheo là để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới,
tế bào mới của làng
-Lễ lại mặt: (còn gọi là nhị hỉ hoặc tứ hỉ), sau lễ cưới (2 hoặc 4 ngày), hai vợ
chồng trẻ sẽ trở về nhà cha mẹ vợ mang theo lễ vật để tạ gia tiên Lễ vật cũng
có trầu, xôi, lợn Bố mẹ vợ làm cơm để mời chàng rể và con gái mình Ở một
số trường hợp nếu xảy ra chuyện gì mà nhà trai không bằng lòng sau đêm hợp cẩn, thì lễ nhị hỉ lại có những chuyện không hay, nhưng trường hợp này rất hiếm
Một số tục lệ trong đám cưới xưa đã được lược bớt để phù hợp với đời sống hiện đại Hiện nay chỉ còn giữ lại 5 lễ chính là dạm ngõ, ăn hỏi, xin dâu, đón dâu, lại mặt Lễ cưới sẽ được tổ chức tại nhà của cô dâu, chú rể hoặc tại các nhà hàng Nếu tổ chức tại nhà hàng, cô dâu chú rể sẽ có các nghi lễ như rót rượu mời bố mẹ, cắt bánh cưới, trao nhẫn và mời khách dùng tiệc
3.Trang Phục
Áo dài là loại trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam,áo dài cưới được mặc vào ngày trọng đại của cô dâu sắp về nhà chồng Nó tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt ,thể hiện sự dịu dàng , trong trắng , thước tha khi khoát lên mình
*Trang phục cưới cho nữ giới :
Ngày xưa ( Truyền thống )
6
Trang 7Trong ngày cưới tùy theo từng vùng miền khác nhau mà các trang phục cưới được thiết kế mang đậm dấu ấn này, các cô dâu miền Bắc thường mặc bộ áo
mớ ba, ngoài cùng là chiếc áo the thâm, bên trong ẩn hiện hai chiếc áo màu hồng và màu xanh hoặc màu vàng với màu hồ thủy Rồi đến áo cánh trắng, cuối cùng là chiếc yếm hoa đào có dải bằng lụa bạch
Các cô dâu miền Trung thường theo phong tục đặc thù của mỗi vùng những cũng mặc áo mớ ba, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều, áo giữa bằng the hay vân tha màu xanh chàm, áo ngoài cùng bằng the hay vân tha màu đen
Trang phục cưới truyền thống của các cô dâu nam bộ thường là bộ áo dài gấm, quần lĩnh đen, đi hài thêu
Cô dâu thường mặc áo mớ ba, bên trong là áo có màu rực rỡ như hồng, xanh, vàng bên ngoài phủ áo the thâm Đến thời gian sau này, cô dâu thường mặc
áo dài trắng hoặc váy trắng dài đơn giản
Với nhiều kiểu dáng áo dài cưới đẹp khác nhau, điểm nhấn của chiếc áo được tạo nên bởi các hình thêu, kết hoa, kết cườm hoặc đính đá khá cầu kì trên ngực
và thân áo Mấn sẽ là phụ kiện không thể thiếu, giúp cô dâu “ăn gian” chiều cao một cách đáng kể
Ngày nay ( Hiện đaị):
Ngày nay, dù đất nước đang xây dựng xã hội chủ nghĩa, các nhà máy mọc lên, giao thông mở rộng, thành thị nông thôn giao lưu, cuộc sống có nhiều thay đổi, tâm hồn con người Việt Nam, tính cách con người Việt Nam thể hiện trên nhiều mặt, trong đó có phần trang phục không thể tách rời môi trường, cảnh trí, thiên nhiên Việt Nam Trang phục lễ cưới, dù ở nông thôn hay thành thị, dù có sự biến đổi tất yếu, vẫn cần góp phần tạo nên một bức tranh đời sống văn hóa thật độc đáo của con người Việt Nam Cần nối tiếp và phát huy cái đẹp từ ngàn xưa
để lại, mỗi lần trong đời người nhớ tới hình ảnh ấy củng cố thêm cho mình lòng yêu quê hương, đất nước, lòng quyết tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Trang phục lễ cưới ở đồng bào người Việt cho đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn Những nét tiến bộ trên cơ sở truyền thống dân tộc được nhân dân phát huy làm phong phú thêm cho trang phục ngày cưới Những mốt "hiện đại" theo
sự biến động của trào lưu trang phục nước ngoài xa lạ với thẩm mỹ của nhân dân, không phù hợp với tầm vóc cơ thể của người phụ nữ Việt Nam đã dần bị loại trừ như thứ váy năm, bảy tầng, kiểu tóc và những hình thức "trang điểm"
7
Trang 8diêm dúa, lạc lõng, lai căng, đua đòi, thiếu sự hài hòa thẩm mỹ, nó không làm đẹp mà đi ngược lại điều mong muốn của các cô dâu và mọi người
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn, trang phục lễ cưới nói chung của cô dâu chú rể nói riêng cũng cần tùy thuộc vào khả năng kinh tế của từng gia đình, dựa theo phong tục tập quán ở từng địa phương mà định liệu
Ở thành thị (hoặc ở nông thôn, nếu có điều kiện), cô dâu nên mặc áo dài trắng hoặc áo dài màu sáng, nhạt Chọn lựa không thể tùy tiện, không nên quan niệm rằng loại vải nào càng đắt tiền là càng đẹp, màu sắc nào càng rực rỡ là càng sang trọng, hợp thời Ngoài màu sắc (như trắng, đỏ, xanh nhạt ) hoặc theo chất liệu vải (như lụa, nhung, xoa ni lông ), còn phải căn cứ vào tầm vóc từng người (cao, thấp, gầy, béo)
*Trang phục cưới cho nam giới :
Chú rể xưa và nay đều mặc vest đen
chỉn chu, cài hoa trước ngực Các tân
lang ngày này cũng có nhiều sự lựa
chọn hơn: vest trắng, vest đen hay đỏ
mận, vest kiểu hiện đại hay bộ Tuxedo
lịch lãm…
Chú rể ba miền đều thường mặc áo
thụng bằng gấm hay the màu lam,
quần trắng ống sớ, búi tóc, chít khăn
nhiễu màu lam, chân đi văn hài thêu
đẹp
Chú rể ngày nay cũng vẫn thường mặc vest, nhưng với nhiều mẫu dáng đa dạng, có nhiều tông màu hơn để lựa chọn Một số ít đám cưới chọn các loại hình cách điệu, tân thời hoặc có thiết
kế đặc biệt
Chú rể nên mặc com-lê bằng vải trơn màu sáng, đeo cra-vát, cài một bông hoa trắng trên ngực hoặc đơn giản hơn, có thể mặc sơ-mi dài tay và thắt cra-vát, nếu trời nóng nực
4.Qùa cưới và sính lễ
Quà cáp, sính lễ là một trong những hình thức quan trọng và xuất hiện xuyên suốt trong các lễ cưới hỏi của người Việt Nam từ xa xưa Những chuẩn mực về quà cáp trong văn hóa cưới hỏi của chúng ta bị ảnh hưởng ít nhiều của văn hóa
8
Trang 9Trung Quốc Tuy nhiên, sau một thời gian dài, tập tục trong chuyện quà cáp của
người Việt Nam dần đa dạng theo từng vùng miền Mỗi giai đoạn của việc cưới
hỏi sẽ có những sính lễ, quà cáp tương ứng để góp phần thể hiện ý nghĩa của
từng giai đoạn Từ quá khứ cho đến thời điểm hiện tại thì quà cưới và sinh lễ
không có sự thay đổi lớn , ở một vài vùng thì những nghi lễ bị lượt bỏ , xong
vẫn mang đậm chất đám cưới Việt Nam Ta có thể cụ thể hóa bằng bảng tóm tắt
sau :
Lễ
dạm
ngõ
Đàn
trai
- Chục trầu cau, chè, thuốc, bánh kẹo và luôn là số chẵn
Nhà trai mang một chai rượu, khay trầu sang nhà gái để bàn
về chuyện cưới xin
Nhà trai sang nhà gái chỉ đem một ít lễ vật nhỏ như: trà, bánh ngọt, trầu, rượu với số lượng chẵn để hai bên gia đình gặp nhau bàn chuyện chọn ngày và các thủ tục khác cho hôn
lễ
Đàn
gái - Một ít trà, bánh, kẹohoặc một ít trái cây…
Lễ
hỏi
Đàn
trai
- 30 chục trầu và tráp
ăn hỏi Chục trầu đầu tiên là cho nghi thức ăn hỏi, chục trầu tiếp theo cho nghi thức xin cưới và chục trầu thứ 3 là cho lễ nạp tài
- Tráp ăn hỏi có thể gồm 5, 7, 9 hoặc 11 tráp nhưng phải là số
lẻ và lễ vật trong các tráp phải là bội số của
2 Đồ lễ ăn hỏi không thể thiếu là bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá… và có thêm xôi, lợn quay- Điều đặc biệt cần lưu ý trong lễ ăn hỏi là nhà trai phải chuẩn bị 3 phong bì đựng tiền (gọi là lễ đen) 1 phong bì dành cho nhà nội cô dâu,1
- Lễ vật gồm năm mâm quả: quả trầu cau với 105 quả cau tượng trưng cho câu nói trăm năm hạnh phúc; quả trà rượu ngoài trà và đôi rượu còn có phong bì tiền dọn để hỗ trợ nhà gái chuẩn bị cho tiệc đám hỏi hôm đó và vàng (thường là đôi hoa tai nhưng cũng
có nhà đi nhẫn); quả bánh kem đính hôn;
quả nem chả với số lượng chẵn cặp; mâm ngũ quả được kết rồng phượng cầu kỳ
Cũng có nhà theo tục
cũ đi thêm một quả bánh su sê nữa
- Ngoài vòng tay, nhẫn hoặc hoa tai vàng, mẹ chồng còn trao cho con dâu một
- Ngày nay lễ vật của lễ
ăn hỏi là tráp ăn hỏi, thông thường là số lẻ 5,7,9,11 tráp,và số đồ lễ bắt buộc phải là số chẵn
Đồ lễ ăn hỏi thường là bánh cốm, bánh su sê, rượu, trầu cau, xôi- gà, lợn quay…
- Điều đặc biệt trong lễ ăn hỏi là nhà trai phải chuẩn
bị trước 3 phong bì đựng tiền gọi là lễ đen, một phong bì dành cho nhà nội cô dâu, một phong bì dành cho nhà ngoại và một phong bì còn lại để thắp hương trên bàn thờ nhà cô dâu
9
Trang 10phong bì dành cho nhà ngoại cô dâu và phong bì còn lại để thắp hương trên bàn thờ nhà cô dâu Số tiền tùy thuộc vào nhà gái
phong bì tiền mừng dâu Phong bì tiền dọn trong quả trà rượu sẽ đưa cho ba
mẹ cô
Đàn
gái
Số tiền này ngay sau
đó thường được nhà gái cho lại đôi vợ chồng Khi nhà trai
ra về, khay quả trống không phải được lật ngửa nắp để cho thấy
lễ vật đã được nhà gái tiếp nhận
Đồ lễ ăn hỏi thường được nhà gái giữ lại một ít, trầu cau sẽ được mang lên bàn thờ tổ tiên để thắp hương
Lễ
cưới
Đàn
trai
- Được tổ chức tại nhà trai ngày nay thường được tổ chức tại các nhà hàng- tiệc cưới, đại diện hai bên gia đình sẽ có những bài phát biểu sau đó trao quà và đãi tiệc mặn cùng các hoạt động văn nghệ góp vui
Trước khi vào nhà gái, đoàn rước dâu cử một người trong họ tộc mang theo khay rượu vào nhà cô dâu
để trình giờ xin được vào làm lễ Sính lễ vẫn là năm mâm quả như lễ ăn hỏi Nếu nhà gái có bày bàn thờ gia tiên, nhà trai mang theo đôi nến hồng để gắn lên chân nến đặt sẵn
- Trước giờ đón dâu, mẹ chú rể sẽ cùng một người thân trong gia đình đến nhà gái đem cơi trầu, chai rượu để báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến để nhà gái yên tâm đón tiếp
- Được tổ chức tại nhà trai ngày nay thường được tổ chức tại các nhà hàng- tiệc cưới, đại diện hai bên gia đình sẽ có những bài phát biểu sau
đó trao quà và đãi tiệc mặn cùng các hoạt động văn nghệ góp vui
Đàn
gái
III:Một số tiêu chí khác :
1.Tỉ lệ sống thử trước hôn nhân :
10