Bài tập giữa kì môn tâm lý học đại cương về Bằng lý luận và thực tiễn hãy làm sang tỏ câu nói của Mác LêNin : Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn là con người nhận thức chân lý thế giới khách quan.
Trang 1ĐỀ BÀI
Bằng lý luận và thực tiễn hãy làm sang tỏ câu nói của Mác LêNin : Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở
về thực tiễn là con người nhận thức chân lý thế giới khách quan
BÀI LÀM
Quá trình nhận thức của con người hiện thực từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng và đến tư duy thực tiễn, để làm rõ được điều này cần làm rõ những khái niệm cơ bản sau đây :
- Trực quan sinh động : là nhận thức trực tiếp ban đầu, thuần túy là
nhận thức của cảm giác chưa có tư duy Ví dụ như : đứng bên bờ biển ta cảm thấy mát
- Tư duy trừu tượng : là ý thức tư duy về đối tượng đã tạo ra cảm
giác , ý thức thiết lập cả một tư tưởng về đối tượng gồm những hình ảnh trừu tượng Ví dụ như : biển là đem lại nhiều lợi ích cho con người,…
- Tư duy thực tiễn : là tư duy cải tạo đối tượng đã cảm giác, tư duy trừu tượng để phục vụ thiết thực cho thực tiễn cuộc sống Ví dụ :
đặt các giàn khoan ở biển để khai dầu mỏ và khí đốt,…
Nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm của bản thân Trong quá trình hoạt động, con người nhận thức thế giới xung
Trang 2động từ đó tiến tới nhận thức thế giới khách quan, nhận thức chân lý và tiến hành cải tạo thế giới Việc nhận thức thế giới có thể đạt tới những mức độ khác nhau: từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Nhưng các mức độ nhận thức đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người Triết học Mác- Lênin không chi khẳng định việc con người có thể nhận thức thế giới mà còn chỉ ra con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thế giới khách quan Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin viết:
"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng
đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức thế giới khách quan, nhận thức chân lý”
Trước khi đi vào phân tích câu nói của Lênin ta cần làm rõ một số khái niệm trong câu để có thể hiểu rõ được quá trình nhận thức chân
lý Đó là: thực tiễn, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng.
Vậy thực tiễn là gì : Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính chất lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên
và xã hội Thực tiễn có vai trò đặc biệt to lớn với nhận thức, nó chính là
cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Thực tiễn bao gồm 3 hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt
động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học
Còn trực quan sinh động ở đây được hiểu là nhận thức cảm tính.
Nhận thức cảm tính bao gồm các hình thức: cảm giác, tri giác, biểu tượng (hay còn gọi là trí nhớ) :
Trang 3+ Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh từng thuộc tính riêng
lẻ, bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta Cảm giác là mức
độ nhận thức đơn giản nhất mở đầu cho hoạt động nhận thức, là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong môi trường xung quanh, làm nguồn cung cấp những nguyên vật liệu cho chính các hình thức nhận thức cao hơn
+ Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các
thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta Tri giác là sự tổng hợp của các cảm giác Trong tri giác, các cảm giác riêng lẻ được tổng hợp lại, liên kết với nhau để tạo ra một hình ảnh trọn vẹn, đầy đủ về sự vật, hiện tượng Trên sơ sở phản ánh thế giới một cách trọn vẹn đầy đủ hơn cảm giác, tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong môi trường xung quanh, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và mang tính ý nghĩa
+ Trong triết học Mác-Lênin nhận thức cảm tính không chỉ có
cảm giác, tri giác mà còn có biểu tượng được định nghĩa là hình thức
nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào các
giác quan Như vậy, có thể thấy biểu tượng trong nhận thức cảm tính
của triết học Mác-Lênin là một hình thức của trí nhớ trong tâm lí học do
trí nhớ là quá trình nhận thức thế giới khách quan bằng cách ghi lại,
Trang 4giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân thu nhận được trong hoạt động sống của mình.
Còn tư duy trừu tượng là mức độ nhận thức tiếp theo của trực quan sinh động hay chính là mức độ nhận thức lý tính Triết học Mác-Lênin
chỉ ra nhận thức lý tính gồm có: khái niệm, phán đoán và suy luận Trong tâm lí học, các hình thức này đã được rút gọn thành: tư duy và tưởng tượng :
+ Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản
chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật
và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Tư duy giúp cho con người nhận thức được quy luật khách quan, trên cơ sở
đó có thể chủ động dự kiến một cách khoa học xu hướng phát triển của
sự vật và có kế hoạch, biện pháp cải tạo hiện thực khách quan Với tư cách là một hành động, tư duy được thực hiện bằng những thao tác tư duy: phân tích- tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa- khái quát hóa
+ Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa
từng có trong kinh nghiệm của cá nhân băng cách xây dựng hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Tường tượng có vai trò rất lớn trong hoạt động nhận thức, cho phép ta hình dung được kết quả trước khi hành động, hình dung được không chỉ kết quả cuối cùng mà cả những kết quả trung gian Nhờ có tưởng tượng, con người có thể vẽ lên trong đầu óc mình viễn cảnh xã hội tương lai, lấy đó làm phương hướng mục tiêu, hoạt động để biến nó thành hiện thực
Trang 5* Nhận thức cảm tính là mức độ đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động
nhận thức của con người
Khi bắt đầu nhận thức một sự vật hiện tượng bao giờ con người cũng
bắt đầu bằng việc sử dụng các giác quan của mình để nhận biết nó Mức
độ nhận thức của con người bao giờ cũng bắt đầu từ nhận thức cảm tính
vì nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên, thấp nhất của con người Trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan của họ
Nhận thức cảm tính của con người bắt đầu từ cảm giác, cảm giác là
định hướng đầu tiên của con người với môi trường xung quanh Cảm giác gồm có: cảm giác nhìn, cảm giác nghe, cảm giác ngửi, cảm giác nếm, cảm giác da, Những cảm giác này nảy sinh do sự tác động của sự vật hiện tượng vào các giác quan của con người
*Ví dụ: Bị kim đâm vào tay gây đau, ánh sáng màu tác động lên mắt làm con người nhận biết màu sắc, hay sờ vào bề mặt một vật nào đó cho
ta cảm giác vật đó nhấp nhô, nhẵn hay phẳng , …
Cảm giác tuy đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức nhưng cảm giác chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ đơn thuần của sự vật hiện tượng, những thuộc tính này chưa được liên kết với nhau Từ những thuộc tính riêng lẻ này con người chỉ có thể nhận biết từng phần
Trang 6của một sự vật hiện tượng chưa thể có một hình ảnh cụ thể đầy đủ về sự vật
*Ví dụ: khi nhìn bông hoa hồng, cảm giác nhìn sẽ cho ta thấy màu sắc của bông hồng, cảm giác ngửi cho ta thấy mùi thơm của bông hồng Nhưng cảm giác nhìn, ngửi chưa thể cho ta hình ảnh bông hồng
Để có thể nhận thức sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn, đầy đủ
hơn chúng ta cần đến một quá trình nhận thức cao hơn trong nhận thức
cảm tính, đó là tri giác Từ cơ sở các thông tin do cảm giác đem lại, con
người tiến hành quá trình tri giác là thu thập, giải nghĩa, lựa chọn và tổ chức các thông tin từ cảm giác Các thông tin đó được sắp xếp thành một thể thống nhất theo đúng cấu trúc khách quan Từ đó hiện ra hình ảnh bên ngoài của sự vật một cách trọn vẹn, đầy đủ
*Ví dụ: Như đã nêu ở ví dụ trên, khi cảm giác về bông hoa hồng ta mới nhận được những cảm giác riêng lẻ về màu sắc và nhìn Khi các cảm giác này đến não bộ, chúng sẽ được tri giác và sẽ cho ra hình ảnh trọn vẹn về bông hoa hồng với màu sắc và hương thơm của nó chứ không đơn thuần là về màu sắc hoặc về mùi thơm
Tri giác là sự tổng hợp các cảm giác nhưng không phải là tổng số của các cảm giác riêng lẻ mà là một quá trình nhận thức cao hơn, phức tạp hơn
*Ví dụ: khi nhìn một quả chanh ta chỉ cần nhìn bằng mắt mà không cần dùng mũi, miệng,tay, cũng có thể tri giác và nhận biết sự vật
Trang 7Sau khi quá trình tri giác đã cho ta một cái nhìn trọn vẹn về sự vật
thì để có thể tiếp tục hoạt động nhận thức ở mức cao hơn thì con người
cần lưu lại hình ảnh sự vật trong não bộ Biểu tượng là bước quá độ từ
nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, là tiền đề cho sự trừu tượng hóa Ở quá trình này, hình ảnh của sự vật khách quan được phản ánh bởi cảm giác và tri giác được tái hiện trong não bộ và trờ thành vốn kinh nghiệm của con người Nhở có biểu tượng mà chúng ta có thể có được hình ảnh trọn vẹn về sự vật mà không cần lúc nào cũng phải sử dụng các giác quan vì hình ảnh bề ngoài của sự vật được các giác quan phản ánh
đã được lưu lại một lần trước đó và sau này khi nhắc đến là chúng ta đã
có thể hình dung ra sự vật
*Ví dụ: Trước đây chúng ta từng ăn chanh và nhờ cảm giác, tri giác ta biết hình dáng của quả chanh, vị và mùi của nó là chua Hình ảnh tri giác của quả chanh trờ thành biểu tượng trong trí nhớ của chúng ta Sau này, khi nhắc đến quả chanh chúng ta có thể xuất hiện trong đầu luôn hình ảnh về quả chanh mà không cần cảm giác và tri giác quả chanh nào
Kết thúc quá trình nhận thức cảm tính, não bộ đã làm xuất hiện
biểu tượng vể sự vật ở con người nhưng chỉ phản ánh được hình ảnh bề ngoài của sự vật chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật Đây mới chỉ là mức độ nhận thức của động vật Để nhận thức được chân lý, con người cần phải tiếp tục nhận thức ở mức độ cao hơn, đó là mức độ nhận thức lý tính
Trang 8Như vậy, nhận thức cảm tính gắn liền với thực tiễn, với sự tác động
của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính
* Nhận thức lý tính là mức độ cao hơn của nhận thức cảm tính , phản
ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Dựa trên cơ sở những thông tin về sự vật mà con người đã nhận thức được trong mức độ nhận thức cảm tính, muốn tìm hiểu các mối liên hệ bên trong của sự vật và các quy luật của nó thì con người phải thực hiện bằng quá trình tư duy Để thực hiện quá trình này con người phải sử dụng đến thao tác của tư duy: phân tích- tổng hợp, so sánh, trừu tượng-khái quát hóa
+ Đầu tiên là thao tác phân tích, con người sử dụng trí óc bắt đầu tách ra trong sự vật những mặt này mặt kia, các thuộc tính này thuộc tính kia, các quan hệ liên hệ này nọ
+ Sau khi phân tích là thao tác tổng hợp lại để hợp nhất các thành phần vừa được phân tích thành một thể thống nhất, logic
+ Tiến hành so sánh sự vật với các sự vật khác để thấy được sự giống nhau, khác nhau, điểm nổi bật, sự đồng nhất, hay tìm mối liên hệ với các
sự vật khác
+ Tiến tới quá trình trừu tượng hóa, con người gạt bỏ những thuộc tính, liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu
tố cần thiết cho hoạt động tư duy và khái quát hóa sự vật hay là hình thành khái niệm về sự vật
Trang 9Sau khi tiến hành các thao tác tư duy, con người bắt đầu đưa ra những phán đoán của mình về sự vật Đó là hình thức tư duy trừu tượng, liên
kết các khái niệm với nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của sự vật
* Vi dụ: sau khi tiến hành các thao tác tư duy với thủy tinh ta đưa ra phán đoán là thủy tinh không dẫn điện hoặc vì thủy tinh là phi kim nên rút ra phán đoán phi kim không dẫn điện
Từ các phán đoán, con người tiến hành thao tác suy luận, liên kết các phán đoán, sàng lọc và hình thành nên những giả thuyết rồi đúc kết nó thành các quy luật, định lý
*Ví dụ: Từ phán đoán thủy tinh không dẫn điện và thủy tinh là phi kim thì con người suy luận ra giả thuyết rằng mọi phi kim đều không dẫn điện
Trong quá trình tư duy, con người liên tục xuất hiện các ý tưởng mới, những phát minh mới Đó là do sự tác động của tưởng tượng Nhờ có tưởng tượng mà con người có thể phát hiện ra những quy luật bên trong của sự vật mà mức độ nhận thức lý tính chưa thể cung cấp dữ liệu để tư duy có thể nhận thức được, từ đó đưa ra những liên tưởng những phán đoán
*Ví dụ: Anh - xtanh đặt ra tiền đề về thuyết tương đối, không có vận tốc nào nhanh hơn vận tốc ánh sáng, vận tốc ánh sang xấp xỉ bằng 3 x 10^8 m/s Xác định bằng công thức E=M x C^2
Trang 10Quá trình nhận thức lý tính kết thúc, khi con người bắt đầu hình thành những giả thuyết về sự vật Tại thời điểm này, con người đã đi sâu vào bản chất của sự vật, đã biến những tri thức của nhận thức cảm tính trở nên sâu sắc hơn, rút ra được những chân lý, quy luật Nhưng tất cả các chân lý, quy luật mà con người rút ra trong mức độ này mới chỉ mang tính chất là giả thuyết, mới chỉ là những suy luận trong não bộ của con người, để biến những giả thuyết này trở thành những chân lý cần phải có sự kiểm tra tính đúng đắn của nó
Vì vậy, như Lênin viết sau giai đoạn nhận thức cảm tính đến nhận
thức lý tính là giai đoạn từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
*Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn:
Nhận thức lý tính mới chỉ đạt được những tri thức về đối tượng nhưng những tri thức đó có chính xác hay không cần phải có sự kiểm nghiệm của thực tiễn, tức là nhận thức nhất thiết phải quay trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn để đo lường tính chân thực của nhận thức *Ví dụ: suy luân mọi phi kim đều không dẫn điện chưa thể trở thành chân lý nếu trong thực tiễn có một phi kim nào đó dẫn điện Nó chỉ thực
sự đúng khi thực tiễn chứng minh tất cả mọi phi kim đều không dẫn điện
Từ những hoạt động thực tiễn, các sự vật trong thế giới tác động lên con người qua các giác quan tạo ra các cảm giác là tiền để để hình thành nên những nhận thức sau này và cho ra các giả thuyết của con người Mặt khác, mục đích, động lực của nhận thức là cải tạo thực tiễn Chính
Trang 11vì vậy, mà giả thuyết phải được kiểm tra trong thực tiễn mới có thể khẳng định được tính đúng đắn của nó và trở thành chân lý
Quá trình nhận thức dường như lặp đi lặp lại, thực tiễn vừa là điểm bắt đầu vừa là điểm kết thúc, quá trình này không có điểm dừng Nhờ vậy mà nhận thức đạt dần tới những tri thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc
về hiện thực khách quan
Qua câu nói của Lênin : “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu trượng trở về thực tiễn là con đường nhận thức chân lý thế giới khác quan” chúng ta đã nắm được quy luật chung của nhận thức đó là từ thực tiễn đến nhận thức và nhận thức phải quay trở về với thực tiễn Hoạt động nhận thức phải luôn gắn liền với thực tiễn thì mới có thể nhận thức đúng đắn được mọi tri thức Từ đó, rút ra phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn đó là học đi đôi với hành; học liên tục, suốt đời, tránh bệnh tự mãn hoặc hời hợt trong nhận thức Qua câu nói trên, ta cũng rút ra được mối liên hệ chặt nhẽ qua lại giữa các quá trình nhận thức, mức độ nhận thức với nhau và mối quan hệ của chúng với thực tiễn