Hoàng Văn Thắng Vulnerability to Climate Change tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về...
Trang 1TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRƯỚC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở HỆ SINH THÁI MŨI CÀ MAU
Hoàng Văn Thắng
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Sự thay đổi một cách rõ rệt của các yếu tố thời tiết trong nhiều thập kỷ, hoặc hàng triệu năm và trong tương lai do tự nhiên và con người gây ra – biến đổi khí hậu, ngày càng trở nên rõ nét và có những tác động không nhỏ lên không chỉ cộng đồng, mà còn tác động mạnh mẽ lên các hệ tự nhiên Các hệ sinh thái cửa sông, ven biển, bao gồm cả rừng ngập mặn, rất dễ bị tổn thương do những thay đổi của các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan Đánh giá được tính dễ bị tổn thương của các hệ thống nói chung (tự nhiên và xã hội), hệ sinh thái cửa sông ven biển nói riêng cần phải xem xét các tác động, đánh giá mức độ phơi lộ hay khả năng dễ bị tác động, mức độ nhạy cảm, khả năng tự điều chỉnh và khả năng thích ứng Báo cáo này đề cập đến các tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan lên hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông, ven biển Mũi Cà Mau, đồng thời đánh giá tính dễ bị tổn thương của các hệ sinh thái này trước biến đổi của các yếu tố khí hậu trên Bên cạnh đó, báo cáo cũng đánh giá khả năng thích ứng của các hệ sinh thái này, trên cơ sở đó, khuyến nghị một số giải pháp quản
lý và bảo tồn
1 MỞ ĐẦU
Sự thay đổi một cách rõ rệt của các yếu tố thời tiết trong nhiều thập kỷ hoặc hàng triệu năm và trong tương lai do tự nhiên và con người gây ra – biến đổi khí hậu (BĐKH) – ngày càng trở nên
rõ nét và có những tác động không nhỏ lên không chỉ cộng đồng, mà còn tác mạnh mẽ lên các hệ
tự nhiên Ngược lại, các hệ sinh thái (HST), nhất là các HST đất ngập nước (ĐNN) cửa sông, ven biển, đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm nhẹ các tác động của BĐKH, cũng như những
hệ quả mà BĐKH có thể gây ra Việt Nam là một trong số ít nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của BĐKH (WB, 2008) Nếu nhiệt độ tăng 2oC, mực nước biển dâng 1 m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất là nơi cư trú của khoảng 23% dân số (tức khoảng 17 triệu người) (Trương Quang Học, 2011) Mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn, bao gồm các khu dân cư, canh tác và cả các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên BĐKH còn ảnh hưởng lớn đến các HST do sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và đặc biệt là tần suất và cường độ của những trận lũ
và hạn hán Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, rét hại, nắng nóng, hỏa hoạn và những thay đổi điều kiện sinh thái khác sẽ dẫn đến các thảm họa khôn lường cho con người
Sự thích ứng (Adaptation) đã trở thành một phần quan trọng của chương trình nghị sự phát triển, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển chịu tác động/bị đe dọa nghiêm trọng nhất trước
Trang 2BĐKH (WB, 2010; Earkin and Lemos, 2010) Hiện đây đang là vấn đề hàng đầu trong các cuộc thương thảo chính sách và yêu cầu khoa học (Andrade và nnk., 2010)
Các HST cửa sông, ven biển, bao gồm cả rừng ngập mặn (RNM) rất dễ bị tổn thương do những thay đổi của các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan Tuy nhiên, hiện nay còn rất ít các nghiên cứu về các vấn đề nêu trên Báo cáo này đề cập đến các tác động của BĐKH, bao gồm sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan lên HST ĐNN cửa sông, ven biển Mũi Cà Mau, đồng thời đánh giá tính dễ bị tổn thương của các HST này trước biến đổi của các yếu tố khí hậu Bên cạnh đó, báo cáo cũng đánh giá khả năng thích ứng của các HST, trên cơ sở đó khuyến nghị một số biện pháp quản lý và bảo tồn, nhằm ứng phó với BĐKH
2 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở tiếp cận HST và tiếp cận thích ứng dựa trên HST Các nghiên cứu và công trình đã được công bố trên thế giới và Việt Nam cũng như khu vực Mũi Cà Mau được thu thập và phân tích Khảo sát thực địa để cập nhật và đánh giá hiện trạng về đa dạng sinh học, các chức năng và dịch vụ HST cũng như những tác động của BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan đối với khu vực Mũi Cà Mau Địa bàn khảo sát và đánh giá chủ yếu thuộc phạm vi của Vườn Quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau, thuộc huyện Năm Căn và Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau
Tính tổn thương của đất ngập nước trước biến đổi khí hậu:
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) của một HST ĐNN là mức độ/thước đo/ước số của độ phơi
lộ, tính nhạy cảm và khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của HST
Để hiểu được tính bị tổn thương của ĐNN trước BĐKH, chúng ta cần biết được mối quan hệ nhân quả giữa những mối đe dọa của BĐKH, sự phơi lộ (hay khả năng dễ bị tác động), tính nhạy cảm và khả năng thích ứng của các cấu thành của HST ĐNN cũng như những tác động lên các dịch vụ và hậu quả của tính tổn thương của hệ tự nhiên và cộng đồng sống phụ thuộc vào các HST này (ICEM, 2011a)
Các yếu tố đe dọa của BĐKH lên các HST ĐNN là khá nhiều Trong nghiên cứu này, thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ được xem xét
kỹ hơn cả
Bên cạnh các tác động của việc gia tăng dân số và các hoạt động phát triển, việc xâm nhập của các loài ngoại lai và thể chế, chính sách cũng là những nhân tố tác động lên tính dễ bị tổn thương của HST
Đánh giá được tính dễ tổn thương của các hệ thống nói chung (tự nhiên và xã hội), HST cửa sông ven biển nói riêng, bao gồm việc xem xét các tác động (Impact), đánh giá mức độ phơi lộ hay khả năng dễ bị tác động (Exposure), mức độ nhạy cảm (Sensitivity), khả năng tự điều chỉnh (Adaptive Capacity) và khả năng thích ứng (Adaptation)
Trang 33 VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU
Các đặc điểm của HST ĐNN ở Mũi Cà Mau là tiêu biểu cho vùng sinh thái cửa sông, ven biển Rừng ngập mặn cung cấp dinh dưỡng và những sản phẩm sơ cấp đầu tiên cho chuỗi thức ăn ở ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản, cung cấp nguồn giống động thực vật, cung cấp nơi cư trú cho các loài động vật hoang dã và các loài chim di cư, cung cấp các sản phẩm gỗ củi, dụng cụ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ quá trình phát triển bền vững ở vùng ven biển VQG Mũi Cà Mau là nơi du lịch và tham quan giải trí lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước (VQG Mũi Cà Mau, 2010)
3.1.1 Phân khu chức năng trên đất liền
1 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 12.203 ha, thuộc tiểu khu 2 và tiểu khu 3 của Khu rừng Đặc dụng Đất Mũi và Khu rừng Phòng hộ Bãi bồi
2 Phân khu phục hồi sinh thái: 2.859 ha, thuộc tiểu khu 4 và phần ven biển tiểu khu 1 của Khu rừng Đặc dụng Đất Mũi
3 Phân khu hành chính dịch vụ: 200 ha, thuộc khu vực ven Rạch Tàu, khu kênh Hai Thiện, khu Rạch Bàu Lớn và khu Rạch Mũi
3.1.2 Phân khu chức năng phần trên biển
Phạm vi tính từ mép bờ biển phía Tây ra phía biển, chức năng chủ yếu của phân khu này là bảo tồn tài nguyên sinh vật biển và HST ven bờ, duy trì và nghiên cứu quá trình địa mạo và sinh thái
tự nhiên của VQG Mũi Cà Mau, bao gồm các điểm sau:
+ Cửa Sào Lưới thuộc huyện Cái Nước, tọa độ: từ 104°47’30” kinh Đông và 8°48’ vĩ Bắc + Cách bờ biển 4.700 mét, tọa độ: từ 104°45’ kinh Đông và 8°48’ vĩ Bắc
+ Ngoài biển, tọa độ: từ 104°42’ kinh Đông và 8°40’ vĩ Bắc
+ Ngoài biển, tọa độ: từ 104°42’ kinh Đông và 8°35’ vĩ Bắc
+ Ngoài biển, tọa độ: từ 104°48’ kinh Đông và 8°33’30” vĩ Bắc
+ Đầu rạch Trương Phi thuộc huyện Ngọc Hiển, tọa độ: từ 104°48’ kinh Đông và 8°34’30” vĩ Bắc
Trang 43.1.3 Vùng đệm
Vùng đệm của VGQ Mũi Cà Mau có tổng diện tích 8.194 ha, nằm trên địa bàn các xã Đất Mũi, Viên An và Đất Mới, thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau
3.2 Đặc điểm khí hậu
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tại Ngọc Hiển 26,5-27,0oC Tháng tư là tháng nóng nhất với nhiệt
độ trung bình là 28,5oC, tháng giêng là tháng lạnh nhất với nhiệt độ trung bình 25,1oC Số giờ nắng trung bình 2.300-2.600 giờ/năm Tháng ba là tháng có số giờ nắng cao nhất (315 giờ), tháng 9 là tháng có số giờ nắng thấp (147 giờ) (SIWRP, 2008)
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất VQG Mũi Cà Mau
Độ ẩm không khí và lượng bốc hơi: Độ ẩm không khí trung bình năm là 85,9%, độ ẩm cao có thể
trên 89% Độ ẩm lớn nhất thường quan sát được trong tháng 9 và tháng 10 là 88% Lượng bốc hơi bình quân là 73 mm/tháng Trong mùa mưa, chỉ số ẩm ướt thường đạt đến 4,1 lần Độ ẩm bình quân của không khí là 81% trong mùa mưa Trong mùa khô, chỉ số khô hạn (lượng bốc hơi/lượng mưa) bằng 2,2 lần
Lượng mưa: Lượng mưa là nguồn nước ngọt chính trên bề mặt và có lượng thay đổi theo mùa
Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 có lượng mưa không đáng kể Lượng mưa trung bình nhiều năm tại Ngọc Hiển thấp hơn so với ở Cà Mau và được phân bố như ở Bảng 3.1 (VQG Mũi
Trang 5Cà Mau, 2010).Vào mùa mưa và giai đoạn chuyển mùa, thường xuất hiện mưa giông kèm gió và sóng lớn rất nguy hiểm trên sông rạch và vùng ven bờ
Bảng 3.1 Đặc trưng lượng mưa trung bình khu vực
Gió: Khu vực Mũi Cà Mau chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính trong năm là gió mùa Đông
Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4), còn gọi là mùa gió Chướng và gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) còn gọi là mùa gió Tây Nam Tháng 5 và tháng 10 là hai tháng chuyển tiếp của hai mùa gió Tốc độ gió bình quân hàng năm từ 1,5-2,0 m/s; ngoài khơi là 2,5-3,5 m/s Mùa gió Chướng bắt đầu vào tháng 9-10 hàng năm, kéo dài đến tháng 4 năm sau Mùa gió Chướng làm cho thủy triều xâm nhập sâu vào nội địa Bão ít xuất hiện, nhưng thường có giông với tần suất từ
50 đến 90 ngày trong năm Giông thường xảy ra vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10)
3.3 Đặc điểm thủy - hải văn
Khu vực Mũi Cà Mau có chế độ thủy triều khá đặc biệt so với các vùng khác của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), do tiếp giáp với 2 vùng biển có chế độ thủy triều khác nhau Bờ phía Đông
có chế độ bán nhật triều không đều, biên độ thủy triều có trị số lớn (3 m ở Gành Hào); bờ phía Tây (Vịnh Thái Lan) có chế độ nhật triều với biên độ triều 1-1,5 m Thủy triều ở phía Đông đẩy nước triều vào sâu nội địa, còn thủy triều ở phía Tây có xu thế hút nước triều ra phía biển
Thông thường, mực thủy triều phía biển Đông luôn luôn cao hơn ở phía Tây, nên các rạch tự nhiên thường có xu thế chảy từ phía Nam (Biển Đông) lên phía Bắc (sông Cửa Lớn), đồng thời sông Cửa Lớn dốc dần từ Đông sang Tây, tạo nên dòng chảy từ sông Bồ Đề (phía Biển Đông) sang phía Tây (Vịnh Thái Lan)
Chế độ thủy triều đóng vai trò quan trọng, quyết định dòng chảy của kênh rạch và sự vận chuyển phù sa ở trong vùng Quá trình bồi lắng phù sa tạo ra một lượng lớn các vật liệu được chuyển tải
từ Biển Đông sang Vịnh Thái Lan theo sông Cửa Lớn bồi lắng tại vùng cửa sông Ông Trang với lượng phù sa trung bình khoảng 70-80 mg/l trong mùa khô và 30 mg/l trong mùa mưa Theo ước tính, hàng năm, sông Cửa Lớn mang lượng phù sa là 1,03 triệu tấn từ phía Biển Đông sang phía Vịnh Thái Lan
Do ảnh hưởng của thủy triều, toàn bộ diện tích ngập mặn Đất Mũi bị ngập nước tùy thuộc vào chế độ bán nhật triều (triều lên xuống 2 lần trong ngày), biên độ triều là khoảng 0,5 m lúc triều thấp và 1 m khi triều cường Nồng độ muối khoảng 25 ppt giảm xuống còn 18-20 ppt sau khi mưa lớn Sự lắng đọng bùn trên diện tích Đất Mũi rất nhanh, vùng phía Tây Bắc có tốc độ bồi lắng hàng năm có khi tới 100 m, nhưng bờ biển phía Nam lại chịu xói mòn, lở hàng năm khoảng 30-50 m
Trang 6Mạng lưới kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho việc giao thông đường thủy Tuy nhiên, chế độ dòng chảy của các kênh rạch trong khu vực này rất phức tạp do chịu ảnh hưởng của các chế độ thủy triều Điều kiện tự nhiên và chế độ thủy văn trong khu vực có tác động tích cực đến môi trường đất, môi trường sinh thái của vùng và các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực
Tính chất dao động của mực nước khu vực ven biển phía bờ Đông hoàn toàn khác ven biển phía
bờ Tây của Mũi Cà Mau Ở khu vực bãi bồi phía Tây của Mũi Cà Mau, dao động của mực nước mang tính nhật triều không đều, với độ lớn của biên độ thủy triều là 01 mét Còn phía biển Đông
có chế độ bán nhật triều không đều với biên động thủy triều từ 2 đến 2,5 mét
Trong mùa mưa, tại khu vực phía bờ Tây, dòng chảy có hướng Tây Tây Nam, dòng chảy hướng vào bờ với vận tốc dòng chảy tầng mặt biến đổi từ 10 cm/s đến 30 cm/s Bờ phía Đông dòng chảy có hướng Đông Đông Bắc và có xu hướng chuyển dịch xa bờ, tốc độ dòng chảy khoảng 20-
50 cm/s
Trong mùa khô, ở phía bờ Tây dòng chảy gần như song song với đường bờ, ở khu vực Bãi Bồi hình thành xoáy nghịch, tạo ra sự lắng đọng phù sa khá lớn trong mùa khô, là điều kiện hình thành nên bãi bồi Trong thời kỳ này, bờ biển phía Đông, dòng chảy đổi hướng Tây và Tây Bắc, tốc độ dòng chảy khoảng 22-60 cm/s
Quá trình hoạt động của các dòng chảy tạo ra nguồn cung cấp các loài động, thực vật nổi dồi dào cho môi trường rừng ngập mặn đồng thời cũng làm cho quá trình lắng đọng phù sa diễn ra nhanh chóng làm cho Mũi Cà Mau không ngừng vươn ra phía Vịnh Thái Lan với tốc độ hàng năm từ
50 đến 80 mét
Địa hình: Mũi Cà Mau có địa hình thấp và trũng Độ cao trung bình so với mực nước biển nhìn
chung thấp hơn so với các vùng khác ở đồng bằng Sông Cửu Long (SIWRP, 2008):
+ Cao nhất trung bình: (+) 1,30 m ÷ (+) 1,60 m
+ Độ cao trung bình: (+) 0,75 m ÷ (+) 1,30 m
+ Thấp nhất trung bình: (+) 0,50 m ÷ (+) 0,75 m
Do nằm ở độ cao thấp/địa hình thấp nên khu vực này thường bị ngập trong mùa mưa Khu vực
Cà Mau có một hệ thống sông rạch dày đặc, vì vậy mặc dù hệ thống đường bộ đã được xây dựng, giao thông thủy vẫn là phương tiện chủ yếu tại đây
Trang 7bị tàn phá do việc phát triển và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, nhất là làm đầm tôm từ những năm đầu 2000 (ICEM, 2011b)
+ Bãi bùn và bãi cát pha: Xuất hiện ở ven biển và các vùng cửa sông Các bãi ngập triều này là nơi sống và kiếm ăn quan trọng của các loài chim nước và chim bờ biển cũng như nơi dừng chân quan trọng của các loài chim di cư
+ Cửa sông hình phễu và cửa sông
+ Đầm nuôi trồng thủy sản: Nhiều đầm nuôi đã bị bỏ hoang và bắt đầu có các cây ngập mặn mọc lên (ICEM, 2011b)
+ Kênh, rạch: Hệ thống kênh, rạch là một đặc điểm đặc thù của ĐBSCL, có vai trò quan trọng trong giao thông thủy
+ Khu dân cư và đê bao: Chính phủ đã cho đắp một con đê dài 97 km nối liền Đông Tây của Mũi Cà Mau với mục đích chính là ngăn chặn sự xâm mặn vào nội đồng (ICEM, 2011b)
Trong số 60 loài Thực vật có mạch, thì 26 loài là cây ngập mặn với 2 loài nằm trong Sách Đỏ
Việt Nam Các loài cây ngập mặn chiếm ưu thế chủ yếu là Mắm (Avicennia alba, Avicennia officinalis, Avicennia marina), Đước (Rhizophora apiculata), Trang (Kandelia candel), Bruguiera spp và Bần (Sonneratia spp.) Phần lớn cây ngập mặn là rừng tự nhiên, một số là
rừng trồng Bên cạnh các cây RNM, thảm cỏ và cỏ biển cũng đóng một vai trò quan trọng trong
việc hình thành thảm thực vật ở đây, bao gồm Phragmites spp., Panicum spp., Eleusine indica và Chlorus barbata, cùng nhiều loài khác
(b) Động vật:
Hiện đã xác định được 379 loài động vật tại khu vực Mũi Cà Mau Trong đó, Polychaeta (18 loài), Gastropoda (11 loài), Bivalvia (8 loài), Cephalopoda (1 loài), Palaeostraca (1 loài), Crustacea (30 loài), Pisces (139 loài), Amphibia (9 loài), Reptilia (43 loài), Aves (93 loài),
Mammalia (26 loài) (VQG Mũi Cà Mau, 2010)
Trong đó, có nhiều loài nguy cấp, quý hiếm như Mèo cá (Prionailurus viverrinus) và Sunda pangolin (Manus javanica), Bò biển (Dugong) (Dugong dugon) Nhiều loài lưỡng cư, bò sát bị
đe dọa toàn cầu như Rùa răng (Heosemys annandalii), Rùa ba gờ (Malayemys subtrijuga) và (Amyda cartilaginea) Trong số này có 13 loài nằm trong danh lục CITES (Hoang Van Thang và nnk., 2012)
Mũi Cà Mau là nơi sống của một số loài có tầm quan trọng quốc tế có số lượng tương đối lớn
chiếm trên 1% tổn số cá thể trên thế giới như Cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes) và Choắt mỏ cong lớn (Numenius madagascariensis) Bên cạnh đó còn có một số loài quan trọng
Trang 8khác bao gồm Bồ nông chân xám (Pelecanus philippensis), Cổ rắn (Anhinga melanogaster), Giang sen (Mycteria leucocephala), Quắm trắng (Threskiornis melanocephalus), and Asian dowitcher (Limnodromus semipalmatus)
Bên cạnh các loài quý hiếm có giá trị bảo tồn cao, khu vực Mũi Cà Mau còn có nhiều loài thủy
sản có giá trị kinh tế, trong đó có nhiều loài cá, nhuyễn thể, tôm như: Himantura gerrardi, Hippocampus kuda, Himantura imbricata, Zebrias crossolepis, Plotosus canius, Lates calcarifer, Atrobucca nibe, Liza macrolepis, Eleutheronema tetradactylum, và Trichiurus lepturus (VQG Mũi Cà Mau, 2010) Các bãi ngập triều là nơi sinh sản và ương vô cùng quan
trọng cho nhiểu loài thủy sinh
3.4.3 Dịch vụ hệ sinh thái
Mũi Cà Mau cung cấp các dịch vụ HST rất quan trọng, trong đó phải kể đến việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho cộng đồng sống trong khu vực, cũng như giảm nhẹ các thảm họa thiên nhiên Các HST khác nhau cung cấp các dịch vụ khác nhau, phụ thuộc vào kiểu hình, diện tích
và vị trí của chúng Các dịch vụ cung cấp bao gồm các giá trị (sử dụng trực tiếp) như cung cấp thủy sản và giá trị gián tiếp (như hạn chế lũ lụt, ngăn chặn gió bão và sóng biển) Bên cạnh các dịch vụ cung cấp là các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ và văn hóa
Các dịch vụ HST của Mũi Cà Mau được chia theo các nhóm như sau:
+ Dịch vụ cung cấp (Provisioning Services): Tài nguyên thiên nhiên Mũi Cà Mau cung cấp thực
phẩm (cá, tôm, cua, ngao, hàu ), nguyên vật liệu xây dựng (gỗ, cọc, lá lợp nhà từ các cây RNM
và dừa nước) và củi, than cho một số lượng không nhỏ các hộ gia đình sống trong khu vực
+ Dịch vụ điều tiết (Regulating services): Bên cạnh việc thu giữ cacbon, VQG có một vai trò rất
quan trọng trong việc điều chỉnh dòng chảy, bảo vệ bờ biển và đê biển trước ảnh hưởng của xói
lở RNM làm giảm đáng kể sóng biển cũng như giảm nhẹ thiên tai
+ Dịch vụ hỗ trợ (Supporting services): Khu vực Mũi Cà Mau là nơi sống quan trọng của rất
nhiều loài sinh vật có tầm quan trọng về bảo tồn cũng như có giá trị kinh tế cao Trong đó, phải
kể đến Cò trắng Trung Quốc, Rẽ mỏ cong lớn, Rái cá Khu vực này cũng là nơi sinh sản và nơi ương của rất nhiều loài hai mảnh vỏ, tôm và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc lưu giữ các chất hữu cơ và các chất rắn lơ lửng (phù sa), hình thành châu thổ và bãi bồi
+ Dịch vụ văn hóa, tinh thần và lịch sử (Cultural, Spiritual and Historical Services): Các hoạt
động văn hóa tại khu vực bao gồm các lễ hội đua ghe và thờ cá ông (cá voi) Đây cũng là địa điểm du lịch với các cảnh quan đẹp của các cánh RNM Là cột mốc “Số 0” cực Nam trên đất liền của Việt Nam, cùng với bề dày lịch sử qua các cuộc kháng chiến cứu nước và bến tàu “Không số”, hàng ngàn du khách đã đến tham quan Mũi Cà Mau Các trường đại học cũng như các trường học phổ thông cũng tiến hành các hoạt động nghiên cứu và dã ngoại tại đây
Trang 94 TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA HỆ SINH THÁI MŨI CÀ MAU
4.1 Dự báo biến đổi khí hậu
4.1.1 Nhiệt độ
Các nghiên cứu của ICEM (2011b) cho thấy nhiệt độ cao nhất và nhiệt độ trung bình khu vực Mũi Cà Mau sẽ tăng lên Nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng 2°C trong năm và có thể tăng lên đến 2,5°C vào tháng 12 Tương tự như vậy, nhiệt độ cao nhất sẽ tăng lên khoảng 1,9°C (Hình 4.1 và 4.2)
Trang 104.1.2 Lượng mưa
Nghiên cứu của SEA START dự báo lượng mưa trung bình trong khu vực sẽ giảm khoảng
80-119 mm/năm (theo kịch bản A2 của IPCC) hoặc 40-79 mm (B2), trong giai đoạn 2010-2050 (ICEM, 2011b) (Hình 4.3), theo đó:
+ Lượng mưa tháng sẽ tăng trong các tháng từ tháng 6 đến tháng 11;
+ Lượng mưa tháng sẽ giảm trong các tháng 12 đến 5;
+ Lượng mưa tháng tăng cao nhất vào tháng 10 (khoảng 35 mm hay 13%);
+ Lượng mưa tháng giảm cao nhất vào tháng 4 (11 mm hay 14%)
Nguồn: ICEM, 2011b
Hình 4.3 Lượng mưa tháng 1980-2004) và dự báo (2045-2069)
4.1.3 Mực nước biển dâng
Trong khoảng 100 năm trở lại đây, mực nước biển đã tăng lên khoảng 3 lần (Rahmstorf, 2007) Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, mực nước biển dâng lên khoảng 1,9-3,4 mm/năm trong thế kỷ XX (Cazenave và Llovel, 2010; IPCC – Working Group I, 2007a) Ở Việt Nam, trạm quan trắc Vũng Tàu đã đo được mực nước biển tăng trong khoảng 1979-2006 khoảng 1.300 mm, hay 4,2 mm/năm
Mực nước biển dâng đã gây ra những thay đổi đáng kể ở ĐBSCL và bán đảo Cà Mau
Nghiên cứu của Hoang Van Thang và nnk (2012) cho thấy, do địa hình trũng, thấp, khu vực bán đảo Cà Mau rất dễ bị tổn thương do mực nước biển dâng
Nếu không có hệ thống đê biển cũng như các biện pháp công trình khác, khi thủy triều lên đỉnh
có thể làm ngập 95% bán đảo Cà Mau IPCC – Working Group I (2007b) dự báo, mực nước biển dâng trong khoảng 26-59 cm sẽ làm ngập 27-65% bán đảo này Trong khi đó Bộ Tài nguyên và Môi trường (MoNRE, 2009) dự báo, nước biển dâng trong khoảng 65-100 cm sẽ làm ngập 69-89% khu vực, với đỉnh triều từ 80-175 cm, sẽ làm 95-100% khu vực ngập trong 70 cm nước