1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tài liệu

33 113 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 181,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề cơ bản để tăng tích lũy từ nông nghiệp là dực vào lực lượng nông nghiệp- nguồn nhân lực và lao động nông dân ở nông thôn, các nước phát triển và công nghiệp hóa trên thế giới, nhấ

Trang 1

ở nông thôn không cao mà đa số chỉ là thiếu việc làm hay nông nhàn xảy ra giữa các vụ mùa Hệ số sử dụng quỹ thời gian trong nông nghiệp chỉ vào khoảng 72 – 73 % tức chỉ khoảng 250 ngày trong năm, thay vì trong công nghiệp tính chuẩn số ngày lao động là 300 ngày trong năm Ngay như trong công nghiệp và dịch vụ thuộc khu vực nhà nước, đa số lao động cũng rơi vào tình trạng thiếu việc làm, thường không sử dụng hết 8 giờ lao động trong ngày như đã được trình bày ở phần trên.

Trong ngày đầu của nền kinh tế thị trường, hàng hóa lương thực thực phẩm vẫn là nguồn cung cấp chính từ khu vực nông nghiệp Tới thời kỳ mở cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, sản xuất nông nghiệp nói chung vẫn là cơ bản theo hướng đẩy mạnh sản xuất gạo để vừa bảo đảm đủ tiêu dùng trong nước vừa dành một phần cho xuất khẩu Trên cơ sở này, từ sau đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đã bắt đầu sản xuất gạo cho tới đại hội VIII thì số lượng gạo xuất khẩu ra nước ngoài trên dưới 3 triệu tấn/năm, trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 – 3 thế giới Như vậy tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp vào GDP rất lớn Mặc khác, chiến lược phát triển công nghiệp ở thời kỳ sau đó vào những năm mở cửa tất nhiên phải dựa vào tích lũy từ nông nghiệp Nông nghiệp phát triển mạnh thì mới tạo khả năng tích lũy cho công nghiệp Đó cũng là qui luật chung co cả nước nông nghiệp đi lên công nghiệp

Vấn đề cơ bản để tăng tích lũy từ nông nghiệp là dực vào lực lượng nông nghiệp- nguồn nhân lực và lao động nông dân ở nông thôn, các nước phát triển và công nghiệp hóa trên thế giới, nhất là ở Châu Á như Nhật Bản, Aán Độ, Đài Loan… là những quốc gia điển hình về vai trò đóng góp vào tích lũy của nông nghiệp trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Sau khi triển khai chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 2

đất nước Việt Nam đã thực hiện chương trình kết hợp công – nông nghiệp theo hướng coi trọng “ phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, sinh học hóa, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng cao, gắn nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp đô thị… từng bước hình thành nông thôn với văn minh hiện đại…” theo báo cáo của BCHTU khóa VI về các vaa8n kiện trình đại hội VII của Đảng CSVN).

Trong quá trình nhất quán phát triển kinh tế – xã hội từ sau thời kỳ mở cửa vào năm 1986, sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta tính theo GDP đã tăng liên tục nhiều năm liền Điều này cho thấy sự đóng góp tích cực của nguồn nhân lực trong thời kỳ mới từ điểm xuất phát của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống là được chuyển đồi sang nền kinh tế thị trường mang tính chất công nghiệp hóa Quan điểm của con người là yếu tố sản xuất chính vẫn tồn tại và được phát huy qua hai thời kỳ của nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đang diễn ra ở nước ta

I Nhân lực đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội :

A Quan điểm con người là yếu tố sản xuất chính:

“ Con người” là lao động hay nguồn nhân lực luôn luôn đóng vai trò chính và trung tâm cho mọi sự phát triển , ngay cả phát triển công nghiệp và đóng góp phần làm tăng trưởng nhanh chóng nền kinh tế quốc gia Quan điểm này không phải lúc nào cũng được các nhà làm kinh tế và quản lý nhà nước coi trọng Khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ ở Anh vào thế kỷ thứ 18 thì nhiều quốc gia nhanh chóng tiếp thu và nhân rộng các mô hình kỹ thuật cơ khí và ứng dụng máy móc vào quá trình phát triển đất nước Lúc này quan điểm cơ khí và máy móc được quan tâm hàng đầu Suốt cả thế kỷ thứ

19 và tới giữa thế kỷ thứ 20, nhiều quốc gia Châu âu, Châu Mỹ đều nỗ lực chạy đua sản xuất và trang bị máy móc từ cơ khí tới điện tử, nền kinh tế phương Tây của các quốc gia phát triển thường được nhìn dưới góc cạnh sự thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp và công nghệ Người ta đã xa rời quan điểm con người, lao động là yếu tố chủ yếu trong các hàm số của tăng trưởng và phát triển nhưng về sau, người ta mới nhận ra rằng chỉ có máy móc hiện đại không mà không có con người, nhất là không có tri thức và trình độ tay nghề để sử dụng , điều khiển những thứ ấy chỉ là những cổ máy bất động không khác những đống sắt thép bình thường Từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi nền tin học công nghệ ra đời và được ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất, dịch vụ có tác dụng mang lại hiệu quả cao thì người ta mới nhận rỏ vai trò con người thật sự ngày càng tăng cao, trở thành trung tâm của hệ thống sản xuất công nghiệp lẫn nông nghiệp được công nghiệp hóa Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đang phát triển đổ xô nhập thiết bọ mới,

Trang 3

công nghệ hiện đại nhưng vẫn giữ nguyên trạng lao động cũ không đào tạo lại cho thích hợp hoặc có đào tạo lại nhưng không đến nơi đến chốn đều nhận lấy thất bại.

Như vậy, quan điểm coi” con người là trung tâm” có một vai trò trọng yếu trong sản xuất dù là công nghiệp, dịch vụ hay nông nghiệp cũng không thể kgo6ng chú trọng tới một số điều kiện cần và đủ giúp cho yếu tố nguồn nhân lực này phát triển tương ứng khã dĩ có tác dụng đẩy nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Dưới đây là các điều kiện chủ yếu để coi con người là “ trung tâm”

1 Phải từ bỏ lối sản xuất theo hướng công nghiệp hóa hẹp đi để đi theo sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách sâu rộng giữa các ngành, địa phương và vùng lãnh thổ

2 Cần có cơ chế quản lý dân chủ, mềm dẻo, linh hoạt nhưng phải phân công lao động” đúng người đúng việc, đúng ngành nghề” và có chính sách đãi ngộ, động viên, khen thưởng trong đó đặc biệt có chính sách giáo dục và đào tạo thích đáng để tạo ra động lực cho sự phát triển

3 Nên tôn trọng người lao động và coi người là thành viên của tổ chức và là mục tiêu chớ không là phương tiện trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội

B Vai trò của nguồn nhân lực với sự tăng trưởng kinh tế:

Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế xã hội được xem như là kết quả đầu ra của một chiến lược xây dựng và phát triển quốc gia với việc sử dụng những yếu tố đầu vào phù hợp Các yếu tố đầu vào cơ bản của nền kinh tế hay hệ thống sản xuất gồm có: vốn đầu tư ( tư bản ), nguồn nhân lực ( lao động), tài nguyên ( đất đai), khoa học kỹ thuật hay công nghệ ( Technonogy) và sự quản trị hay tổ chức ( Management) Các nhà kinh tế học thường mô hình hóa bằng công thức tính toán theo một hàm số:

Y = f ( K,L,R,T,M )Trong đó : Y là xuất lượng hay là kết quả của hệ thống sản xuất của nền kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm xã hội hay GDP ; f là biến số và K: Tư bàn ; L : Lao động ; R : đất đai – tài nguyên ; T : công nghệ ; M : sự quản lý

Mô hình sản xuất của nền kinh tế cổ điển chỉ bao gồm hai yếu tố đầu vào lao động và tư bản Về sau có thêm đất đai hay tài nguyên thiên nhiên Gần đây, năm 1996 nhà kinh tế Gillis và các cộng sự đã đề xuất mô hình sản xuất mới :

Y = f ( K,L,R, a )

Trong đó, K : Tư bản, L : Lao động ; R : đất đai – tài nguyên và a : năng suất hay công nghệ

Trang 4

Oâng Trần Võ Hùng Sơn và Châu Văn Thành, giảng viên của trường

ĐH kinh tế TP.HCM đã phân tích và ứng dụng mô hình trên bằng cách chuyển đổi thành phương trình toán học với cách s8a1p xếp các yếu tố đầu vào thành các tỷ số tương thích để giải ra kết quả của sự đóng góp các yếu tố sản xuất trong hàm số trên vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta theo

ba thời kỳ sau đổi mới, tính từ 1987 – 1995 :

23,722,4526,9

52,835,3221,7

23,542,2351,4

Nguồn : tạp chí phát triển kinh tế số 96 tháng 10-1998, trang 18

Thời kỳ 1987 – 1989 : để có xuất lượng 100 cho nền kinh tế, nhà nước phải sử dụng yếu tố vốn (K) 23,7% và thâm dụng lao động ( L ) 52,8% với năng suất ( a ) thấp 23,5% ( do trình độ tay nghề chưa cao nên năng suất đạt thấp) Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta ở thời kỳ » trước ngưỡng cửa đổi mới » còn thấp : 3,4 ( 1987), 4,6% ( 1988) và 2,7% ( 1989)

Thời kỳ 1990-1992 : vốn 22,45% và lao động ( 35,32%) được đầu tư ít lại nhưng năng suất tăng lên tới 43,23% ( do lao động được nâng cao tay nghề và có thêm công nghệ mới) Tốc độ tăng trưởng của nước ta ở thời kỳ này ( đi vào giai đoạn đầu của đổi mới bắt đầu có tiến bộ : 5,1% ( 1990), 6,0% ( 1991) và 8,6% ( 1992 )

Thời kỳ 1993 – 1995 : vốn có tăng nhưng không bao nhiêu ( 26,9%) trong khi lao động lại giảm ( 21,7%) nhưng năng suất tăng lên rất cao ( 51,4%) do thâm dụng kỹ thuật tay nghề công nhân và đội ngủ quản lý, công nghệ được đổi mới, ứng dụng với giai đoạn tiến hành cải cách tinh giản biên chế, thực hiện công tác sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước như phần trên đã nêu Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tính theo GDP lên cao nhất : 8,08% ( 1993), 8,83% ( 1994) và 9,54% ( năm 1995)

Lao động và năng suất có mối quan hệ với khoa học công nghệ hay kỹ thuật Chính lao động sử dụng kỹ thuật công nghệ càng nhiều thì càng tạo

ra nhiều năng suất Điều này cũng có nghĩa khi thiếu thốn công nghệ thì cần thâm dụng lao động, ứng với các quốc gia chưa phát triển theo định luật Rybzynski, trong điều kiện giá sản phẩm không đổi, sự gia tăng một yếu tố

Trang 5

sản xuất sẽ làm tăng xuất lượng của sản phẩm thâm dụng yếu tố đó theo tỷ lệ cao hơn trước.

Còn theo nhà kinh tế học John Hicks đạt giải thưởng Nobel 1972 về nền kinh tế thì có loại tiến bộ kỹ thuật làm tiết giảm lao động ( labor saving technicak progress ), có tiến bo6 kỹ thuật làm tiết giảm tư bản ( capital saving teachnical progress) ( Theo kinh tế quốc tế – tóm tắt bài giảng « , trường ĐH tổng hợp TP.HCM – 1995, trang 82 – 83)

Mặc khác, chúng ta xét thấy trong hàm số nói trên chỉ có yếu tố lao động là quan trọng nhất vì nó được biểu hiện ở hai mặt : một, lao động gồm có thể chất và tinh thần, trong đó tri thức và kinh nghiệm có liên quan đến chất lượng của nguồn lực và hai, lao động là con người sử dụng tri thức và kinh nghiệm của mình vào việc quản lý, điều khiển và khai thác các yếu tố còn lại là tư bản, công nghệ để chế tạo ra kết quả – hiệu quả Con người chiếm tỷ trọng hàm lượng lớn nhất ở đầu vào và trong số kết quả đầu ra khi thâm dụng lao động, thiếu công nghệ Nói cách khác nguồn lực tạo ra sự tăng trưởng của nền kinh tế gồm có 3 nguồn chính : nhân lực, tài lực và vật lực trong đó suy cho cùng nhân lực là nhân tố quan trọng bậc nhất vì lao động vừa là nguồn nhân lực chủ yếu vừa là động lực tạo ra hai nguồn lực kia

Vai trò của người lao động đối với sự tăng trưởng kiunh tế thường được xem xét qua các chỉ tiêu : số lượng lao động tham gia quá trình sản xuất trong hệ thống kinh tế, trình độ chuyên môn, sức khỏe người lao động và sự tác động và kết hợp hài hòa các yếu tố liên quan trong hàm số qua quá trình quản lý và tổ chức Các yếu tố đó kết hợp lại có trong nguồn nhân lực được gọi là chất lượng lao động Chúng ta sẽ xét tới ở mục dưới

« Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế –xã hội đến năm 2000 » của Chính phủ đã được đề ra từ đại hội VII của Đảng CSVN tức đại hội sau thời kỳ đổi mới, đã xác định rõ : « Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người và do con người »

C Chất lượng lao động quyết định sự phát triển kinh tế –xã hội :

Chất lượng lao động biểu hiện ở các mặt đ8ạc trưng hay tính chất riêng của mỗi người lao động thông qua tay nghề, trình độ , tuổi tác, sức khỏe, khả năng tiếp thu, truyền đạt và thích nghi với môi trường, điều kiện và hoàn cảnh sống

Hàm số về sản xuất hay tăng trưởng trình bày ở trên [ Y=f(K, L,R,T,M)] cho thấy lao động chỉ là một yếu tố cấu thành như lại là phần tử mấu chốt có tác động trực tiếp tới các yếu tố còn lại của hàm số Tư bản (K), tài nguyên( R), công nghệ (T) và sự quản lý ( M) đều phụ thuộc vào con người lao động( L) Bởi vì lao động nằm trong hàm số không chỉ là yếu tố sức lao động đơn thuần mà nó còn là con người- chủ thể tác động tới các đối

Trang 6

tượng lao động còn lại Hơn nữa cụm 5 yếu tố nằm bên vế phải của hàm số không chỉ là phương trình toán học mà còn là một mô hình kinh tế- một cơ chế hay một hệ thống do con người chủ động điều khiển để phát triển về chất lẫn lượng.

Khi ấy con người bằng chức năng và đ85c tính của mình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất( chuyển hóa) để biến đổi các yếu tố ấy thành

ra kết quả ngang bằng với xuất lượng Y Quá trình này được diễn giải như sau :

- Con người sử dụng đồng vốn để đầu tư nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, nhà xưởng bằng sức lao động, trong đó có tài năng và trí tuệ của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội theo các phương thức sản xuất tối

ưu khác nhau một cách có hiệu quả

Do đó, chất lượng lao động hay chất lượng của nguồn nhân lực có liên quan tới năng suất và hiệu suất lao động Yếu tố a của phương trình toán học Y= f ( K,L,R,a) trình bày ở phần trên chính là năng suất+ công nghệ+ quản lý, một bộ phận cấu thành của phương trình- mô hình kinh tế, trong đó có yếu tố lao động, và lao động, vốn, tài nguyên có thể tăng, giảm theo biến số f với một tỷ lệ thích hợp để tạo ra hiệu suất hay năng suất mong muốn

Trong quản lý con người- nguồn nhân lực cũng được các nhà kinh tế học bố trí trong một sơ đồ nhân quả-chất lượng mà người ta thường gọi sơ đồ xương cá, công trình sáng tạo của Kaoru Ishikawa đã trở thành tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản ( JIS-japanese Industrial Standard) Sơ đồ này cấu tạo bởi 5 yếu tố làm thành bộ xương cá có 5 nhánh- 5 M : men ( con người),Materials ( nguyên vật liệu), Machines ( máy móc), phương pháp ( Mthods) và Measuring ( đo lường)

Men Materials Measuring

Tiêu

Chuẩn chất lượng

Method Machin

Chất lượng con người lao động gắn liền với các yếu tố sau đây:

- Cấp bậc đào tạo, bồi dưỡng ( giáo dục – đào tạo)

- Thời gian đào tạo, bồi dưỡng

- Trình độ tay nghề ( kỹ năng-Skills và kỹ thuật – Technics)

- Tuổi tác giới tính, sức khỏe

- Hoàn cảnh gia đình

- Quan hệ xã hội

- Tính tình, cá tính

Trang 7

- Chức vụ đang đảm nhiệm…

Trình độ tay nghề được kể tới:

- Kỹ ăng thực hiện

- Kỹ năng điều hành

- Khả năng ứng xử các tình huống kỹ thuật

- Khã năng ứng xử các tình huống xã hội trong công đồng

- Tính gắn bó và trách nhiệm về chất lượng …

Kỹ thuật điều hành gắn với:

- Trình độ hiểu biết công nghệ( tri thức)

- Khả năng cập nhật hóa thông tin mới

- Giao tế nhân sự trong tổ chức

- Khả năng gương mẫu

- Khã năng tự kích thích và kích thích mọi người ( động viên)

- Đánh giá đúng mình và hiểu biết mọi người…

( Theo: Quản trị chất lượng , viện đào tạo mở rộng-1992, trang 207)

206-Kỹ thuật điều hành còn có thể hiểu là kỹ năng hay năng lực lãnh đạo cần có ở một người lao động khi phải đứng vào vị trí chỉ huy ở cấp cơ sở, cấp trung hay cấp cao:

- Kỹ năng kỹ thuật ( chuyên môn nghiệp vụ)

- Kỹ năng quan hệ ( giao tiếp theo hệ thống dọc, ngang, bên trong và bên ngoài một tổ chức)

- Kỹ năng lý luận ( tu duy, nhận thức, diễn đạt)

Hành vi đạo đức ( phẩm chất con người) không tách rời với chất lượng lao động Đó là đạo đức lao động hay đạo đức nghề nghiệp- một thứ lương tâm chức nghiệp Không có nó, người lao động không thể hiện được sự chân chính, tuân thủ luật pháp, văn hóa của tổ chức và sẽ dẫn tới những hành vi gọi là “ Phi đạo đức” trong tổ chức hay xã hội hành vi đạo đức là việc hành xử theo hệ thống giá trị và chuẩn mực của con người nói chung và cộng đồng- nơi mà người lao động sinh ra nuôi dưỡng lớn lên, được giáo dục ( trình độ văn hóa và tay nghề) để thích nghi và hội nhập vào cộng đồng hay tổ chức mà người lao động tham gia, lao động…

Nguồn nhân lực trong nền kinh tế hay trong hệ thống của quá trình sản xuất đều cần tới chất lượng lao động Vấn đề này đặt ra ở đây nhằm giải quyết yêu cầu nhân lực trong xã hội đổi mới của chúng ta hiện nay đang trở nên một nhu cầu cấp thiết, hôn nữa rất bức xúc và quan trọng bậc nhất Hơn bao giờ hết nó trở thành một nguyên động lực chủ yếu quyết định sự phát triển kinh tế –xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới với bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 8

Chất lượng lao động vì thế còn chịu sự tác độngcủa văn hóa và truyền thống dân tộc Sự cần cù, nhẫn nại, siêng năng, khéo tay, có kỹ xảo và tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật hay tinh hoa văn hóa nước ngoài vốn có của con người lao động Việt Nam đã được hình thành và tích lũy lâu dài trong suốt tiến trình lịch sử văn minh từ thời dựng nước cho tới nay.

Chất lượng lao động ấy đã xuất phát từ ne6n2va8n minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp coi như chưa có gì mà chỉ mới tiếp cận với nền công nghiệp- khoa học kỹ thuật chưa đầy một thế kỷ, trong khi các nước phát triển ở Châu Aâu, Châu Mỹ phải trải qua gần hai thế kỷ Tuy nhiên, chất lượng lao động ấy đã được tôi luyện trong nền văn hóa dân tộc nhiều truyền thống nên đã đóng góp rất nhiều cho công cuộc xây dựng nền kinh tế –xã hội có trên bốn ngàn năm văn hiến Chất lượng lao động ấy đã xây dựng nên nền văn minh công nghiệp phương Tây mà tới nay đã có lợi thế xuất khẩu một bộ phận lao động tuy chất lượng chưa cao trên thế giới và nổi tiếng với các chiến công lừng lẩy chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc vững bền trong độc lập, tự chủ

Với chất lượng lao động tuy còn thấp kém ấy nhưng cũng đã từng bước hội nhập được vào nền kinh tế thế giới theo xu thế toàn cầu hóa từ sau ngày giành được độc lập và thống nhất đất nước Từ ngưỡng cửa này, nguồn nhân lực nước ta đang tiến dần lên để nâng cao chất lượng mà Karl Marx cho rằng đó là yếu tố đồng nhất và cách mạng nhất trong sản xuất

Để có được đội ngũ những người lao động có chất lượng như trên đã phân tích thì phải có đầu tư cao trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Đó là vai trò của giáo dục và đào tạo mà chúng ta sẽ thấy ở chương sau:

II Nhân lực với công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước:

1 nền kinh tế Việt Nam từ bị lệ thuộc tới độc lập tự chủ:

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phát triển theo con đường công nghiệp hóa từ xuất phát điểm của nền công nghiệp tự cung tự cấp ở dưới các chế độ trước tư bản chủ nghĩa, trước cuộc cách mạng công nghiệp thế kỹ 18: năng suất nông nghiệp thấp mang tính chất tự nhiên

Nông nghiệp trở thành một ngành của nền kinh tế quốc dân từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỹ 18 và cách mạng khoa học công nghệ vào giữa thế kỷ 20 cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản Lúc ấy, nông nghiệp là nguồn lương thực chính đáp ứng nhu cầu sống, nông nghiệp là nguồn lương thực chính đáp ứng nhu cầu sống của dân chúng ở thành thị tăng lên và là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp Sau đó, nông nghiệp đã được công nghiệp hóa nhanh chónh ở những nước phát triển và những nước công nghiệp hóa Châu Aâu và Châu Mỹ, tạo ra sự phát triển hết sức lớn lao của lực lượng sản xuất Trong đó có nguồn năng lực và sự phân

Trang 9

công lao động xã hội dẫn đến nhiều ngành sản xuất mới ra đời và phát triển lớn mạnh Trong khi đó, các nước đang phát triển hay còn bị sự chiếm đóng của thực dân và đế quốc đều còn kẹt lại ở trong tình cảnh của nền nông nghiệp lạc hậu và sản xuất nhỏ.

Việt Nam là một nước điển hình tồn tại lâu dài trong tình cảnh ấy cho tới khi giành được độc lập và chủ quyền ở một nữa nước thuộc Miền Bắc vào năm 1954 để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ qúa độ nhưng lại phải tập trung sức người, sức của chi viện quá lớn lao cho Miền Nam cho tới năm 1975 thì mới thống nhất hai miền đất nước và từ đó mới thực sự đi vào con đường phát triển kinh tế –xã hội của một quốc gia XHCN thời bình

Từ thời kỳ này là thuộc địa của Pháp trở về trước, nền kinh tế nông nghiệp của nước ta không còn giữ vai trò độc tôn như dưới các chế độ phong kiến theo chủ trương” Dĩ nông vi bản” nữa Từ năm 1897 tới năm 1954, Thực dân Pháp đã thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa ngày càng mở rộng bằng hình thức xây dựng nền kinh tế công nghiệp theo kiểu TBCN với các hoạt động đầu tư to lớn bởi các nhà tư bản Pháp và nước ngoài khác về thiết lập cơ sở hạ tầng, mở mang công thương nghiệp, trong đó đẩy mạnh khai thác khoáng sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến nhằm mục đích xuất khẩu sản phẩm hàng hóa ra nước ngoài hoặc chuyển vận của cải về phục vụ chính quốc Bên cạnh hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp và công ty lớn là các

cơ sở tài chính, ngân hàng ra đời để độc quyền phát hành tiền giấy lưu hành trong toàn xứ Đông Dương và kinh doanh tiền tệ Như vậy là gần một thế kỷ đô hộ, thực dân Pháp đã đẩy mạnh phát triển kinh tế nước ta theo mô hình kinh tế TBCN với qui mô lớn nên cả ba miền Bắc, Trung, Nam Nhưng kết quả của chính sách cai trị của thực dân Pháp là xây dựng nền kinh tế công nghiệp phát triển thuộc địa theo kiểu” nuôi tằm để rút ruột lấy tơ!”, nói chung vẫn rơi vào tình trạng yếu kém của một đất nước chưa phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp đều bị trì trệ, ốm yếu, chỉ khi nào có độc lập tự chủ và hòa bình thực sự, có sự tham gia toàn bộ của nguồn nhân lực tại chỗ thì đất nước ta mới xây dựng thành công nền kinh tế –xã hội

Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1955 – 1975 bị chia cắt hai miền gồm: một nữa phía Bắc tiến hành xây dựng kinh tế XHCN và một nữa phía Nam đan xen vừa kinh tế giải phóng ở vùng tự do vừa kinh tế TBCN kiểu Mỹ dưới sự lệ thuộc của đế quốc Và thời kỳ sau 1975 thống nhất đất nước và hòa bình lập lại tới khi thực hiện chính sách” đổi mới” ( 1986) để chuyển đổi sang cơ chế thị trường với bước đi ban đầu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nền kinh tế xã hội mới gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể Ơû mỗi giai đoạn, nền kinh tế nước ta có nhiều nét đặc thù chuyển

Trang 10

biến theo tình hình và điều kiện của đất nước nên đã được tổng kết với các mức tăng trưởng có khác nhau suốt chặn đường 40 năm ( 1955 – 1995) với 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn Năm cuối so với năm

9,540,443,566,51

Nguồn: kinh tế Việt nam 1955 – 2000 – NXB Thống kê hà Nội 2000

12-Nếu xét về mặt cơ cấu thì suốt 45 năm nền kinh tế nước ta đã ó sự chuyển dịch theo thứ tự của ba ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ qua 5 giai đoạn như sau:

Dịch vụNông nghiệpDịch vụNông nghiệpCông nghiệp

Công nghiệpCông nghiệpCông nghiệpCông nghiệpNông nghiệp

Nguồn: như trên

Quá tổng kết quá trình xây dựng nền kinh tế 45 năm, trong đó có hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ ở Miền Nam ( quân đội Mỹ và đồng minh trợ lực cho chính quyền Sài Gòn) lẫn Miền Bắc ( tàu chiến và máy bay của Mỹ đánh phá), nước ta có nhiều mức tăng trưởng đạt bình quân 5,13%/năm, trong đó có nhiều năm cao hơn như năm 1995 là cao nhất ( 9,54%) Mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm nhưng giai đoạn gần đây nhất 1994 –

1999 và tới nay cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tiến bộ theo đúng xu thế toàn cầu hóa với thứ tự tối ưu: dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp

Toàn bộ những thành quả nói trên đều thuộc về nguồn nhân lực được sử dụng đáng kể trong quá trình lao động sản xuất ở cả ba khu vực: Quốc doanh, hợp tác xã và tư nhân

Bảng thống kê năm 1989 cho thấy tổng số lực lượng lao động trong hệ thống kinh tế nước ta là 28.477.000 người, trong khi dân số cả nước là 65

Trang 11

triệu người và nguồn nhân lực chiếm 32 triệu người, tỷ lệ tăng trưởng GDP 8,3%, thu nhập bình quân đầu người là 220 USD.

Đvt: người

Lực lượng lao động được sử dụng Năm 1989

Khu vực Quốc doanh:

Khu vực công nghiệp: 2.108.900 người

Khu vực dịch vụ công: 1.110.000

- Khu vực nông lâm nghiệp: 24.300.500

- Khu vực phi công nghiệp: 5.986.900

- ( Thuộc sản xuất nhỏ)

Cộng: 33.506.300

- Khởi đầu những năm 90, cương lĩnh xây dựng đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định: “ phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế –xã hội đồng thời tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt để để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đẩy mạnh thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và một số khoáng sản, phát triển có chọn lựa một số ngành trong công nghiệp tư liệu sản xuất khác và các cơ sở thuộc kết cấu hạ tầng, trong đó ưu tiên phát triển điện, giao thông thủy lợi và thông tin liên lạc” ( văn kiện Đại hội Đảng khóa VII)

Từ nội dung khái quát đó, chúng ta có thể hiểu trọng tâm của vấn đề hiện nay là tập trung nguồn lực của cả nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nề kinh tế –xã hội , trong đó chú trọng tới công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Như vậy do hoàn cảnh lịch sử để lại, đất nước chúng ta tiến hành công nghiệp hóa rất muộn màng trong điều kiện còn lạc hậu và nghèo đói so với các nước phát triển và một số nước NICs trong khu vực Dù vậy chúng ta vẫn tự hào với tiến bộ của nền kinh tế –xã hội ngày càng lạc quan Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP chưa tới 220 USD vào năm 1989 với tổng số dân là 64,774 triệu người, tỷ giá VND/USD là 3.950 hơn nữa, trong tình hình trước đổi mới, chúng ta lại đi ngược một

Trang 12

bước từ khởi điểm trong việc” ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” càng khiến cho công cuộc xây dựng kinh tế –xã hội bị chậm lại một số năm Cho nên có không biết bao nhiêu là thách thức đặt ra trước mắt cho chúng ta Cho tới nay, trước sự tiến bộ đáng kể đó, thu nhập bình quân đầu người đã được nâng lên trên 400 USD.

Cũng như một số nước đang phát triển , chiến lược phát triển công nghiệp ở nước ta trong giai đoạn đầu chủ yếu dựa vào tích lũy từ nông nghiệp Nơi đây có 70% lực lượng lao động trong dân số nông thôn Sau đó, có thêm đầâu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA ( vay ưu đãi cho phát triển KT –XH ) Với chiến lược này, Nghị quyết của Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ VIII đã xác định: đến năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dựa trên một nền khoa học công nghệ tiên tiến

2 Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa:

Trước hết” công nghiệp” ( Industry) hàm chứa một ngữ nghĩa rất rộng nhưng ở đây nó được hiểu theo ý nghĩa hạn chế, nó có liên quan tới hoạt động sản xuất hàng hóa, đặc biệt là được hoàn thiện toàn bằng máy móc- cơ khí rồi điện tử Sau đó nó lại mang thêm ý nghĩa và nội dung của thuật ngữ “ công nghiệp hóa” ( Industrialization): là sự chuyển đổi một nền kinh tế trên diện rộng có sự tham gia của máy móc trong việc sản xuất hàng hóa bằng việc tập trung hóa lực lượng nhân công lao động nhất là ở tỉnh thành Hoạt động sản xuất, chế biến trước đây chủ yếu bằng tay( thủ công) nay trở thành bằng cơ giới( cơ khí hóa , điện tử hóa- công nghệ kỹ thuật cao) diễn ra trong các xí nghiệp, nhà máy hay cơ sở công nghiệp khác Quá trình công nghiệp hóa được mô tả như là sự chuyển đổi từ một xã hội nông nghiệp sang một xã hội công nghiệp Lịch sử của kinh tế học đã chứng minh trong quá trình này mức thu nhập trên đầu người tăng cao đồng thời với sự tăng cao của năng suất lao động

Công nghiệp hóa hiện đại ( Modeern industrialization) thường được đánh dấu bắt nguồn từ cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra ở Anh vào cuối thế kỷ 18 quá trình này có tác động làm thay đổi đời sống từ nông thôn tới thành thị và làm chuyển dịch sản xuất từ hộ gia đình tới nhà máy Nó còn tạo

ra cơ giới hóa trong nông nghiệp dẫn đến tăng năng suất trong nông nghiệp Ngược lại năng suất trong nông nghiệp gia tăng là cần thiết cho sự tăng trưởng công nghiệp hóa hiện đại hóa để trở thành tự cung tự cấp và có tích lũy đầu tư lại cho công nghiệp

Nếu xét về mặt nội dung của quá trình phát triển kinh tế –xã hội trên thế giới trong nhiều thế kỷ qua thì công nghiệp hóa là quá trình trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cùng với việc sử dụng các phương pháp quản lý tiên tiến vào các hoạt động sản xuất trong nền kinh tế, dù là sản xuất vật

Trang 13

chất hay dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả đưa đến tốc độ phát triển nhanh và bền vững về giá trị tổng sản phẩm xã hội hay trong nước ( GDP) Đó là quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa.

Trong ý nghĩa này, công nghiệp hóa được tập trung vào mọi ngành chớ không chỉ riêng cho ngành nào của nền kinh tế xã hội với đặc thù về sử dụng lao động và khai thác các tài nguyên Điều này cũng có nghĩa là một nước muốn công nghiệp hóa cần phải có ít nhất hai nguồn lực lớn: lao động và tài nguyên điều kiện kiện rất giống với đất nước của chúng ta, vốn có nguồn nhân lực dồi dào và nông nghiệp lâu đời, tài nguyên thiên nhiện( rừng, mỏ- đặc biệt than đá, dầu khí , thủy hải sản) phong phú Vốn tiền- vàng thì có thể tích lũy bằng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và hoạt động ngoại thương cùng với chính sách thu hút dòng tiền chảy vào từ bên ngoài bằng đầu tư trực tiếp của nước ngoài hoặc nhận viện trợ, vay ưu đãi ODA Khi ấy tùy thuộc vào chính sách đối ngoại của nhà nước mà công cuộc đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài thông qua các công ty đa quốc gia sẽ diễn biến tốt đẹp hay không Nhiều quốc gia đang phát triển cho thấy rằng đó là những “ cú huých” tạo ra nguồn lực thúc đẩy nền kinh tế –xã hội phát triển

Tác động của công nghiệp hóa dẫn đến cơ giới hóa nông nghiệp,gia tăng phát triển đô thị, biến nông dân thành thị thành dân trong ngành công nghiệp và dịch vụ

Quá trình công nghiệp hóa tập hợp từng bước đi trong mỗi thập kỹ qua Mặc dù một số lượng đáng kể của hoạt động chế biến và sản xuất xảy

ra ở nông thôn nhưng nhiều ngành công nghiệp lại xuất hiện ở tỉnh thành và đã thu hút dòng chảy lao động từ nông thôn

Dân chúng bị thu hút bởi công ăn việc làm của các trung tâm này nên đã kéo dài theo các tiến trình đo thị hóa và công nghiệp hóa một cách gắn bó Năm 1800, nước Anh chỉ có 25% dân chúng sinh sống ở đô thị và tỉnh thành nhưng tới năm 1881, con số này tăng lên tới 80% Hầu hết sản phẩm hàng hóa là bông sợi đều được sản xuất nhằm cung cấp cho các thị trường Âán độ và Nam Mỹ Sau đó là các mặt hàng than đá, sắt, thép được sản xuất với qui mô lớn nhằm phục vụ cho công nghiệp đóng tàu và chế tạo xe lửa và các ngành cơ khí khác Tới khi công nghiệp nặng phát triển hì công nghệ chế biến và vận tải được cải tiến và những vùng có công nghiệp phát triển là Bắc nước Anh, thu lũng Ruuhr của Đức, Đông Bắc của Pháp và thu lũng Meuse của Bỉ

Hoa kỳ được công nghiệp hóa với qui mô lớn đã dựa vào mô hình của Châu Aâu Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã qua mặt Anh về sản xuất sắc và thép Sự phong phú của nguyên vật liệu và sự tăng trưởng nhanh của dân số và

Trang 14

những phát minh nỗi tiếng ra đời như điện tín, điện thoại, điện khí và máy làm lạnh gắn liền với sản phẩm dầu khí đã làm nền tảng cho sự bùng nổ trong các ngành chế biến và sản xuất Vào những ngày đầu năm 1913, henry Ford đã đi tiên phong về áp dụng phương pháp sản xuất hàng lao5t xe hơi trong điều kiện tăng năng suất, giảm giá thành và trả lương cao cho người lao động Tới thập niên 1960 thì Hoa Kỳ đã xuất sắc trong kỹ thuật sản xuất hàng loạt và dẫn đầu thế giới về năng suất, chất lượng

Trong khi đó từ sau Đệ Nhị Thế chiến kết thúc, các ngành sản xuất chế biến đã chiếm lĩnh các nền kinh tế Châu Aâu và Mỹ, thì các nền kinh tế của các nước Đông Á cũng bắt đầu chớm nở, trong đó Nhật đã dẫn đầu Lúc này, mặc dù có tới 75% nền sản xuất của thế giới đều tập trung ở Mỹ, Châu Aâu và Nhật thì một số nước công nghiệp hóa nới( NICs) đã nhanh cho1nh đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa Đó là đất nước của bốn con rồng: Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và SingaPore với thánh tích đạt được mức tăng trưởng kinh tế 10% hàng năm suốt 25 năm liền Họ đã chế biến và xuất khẩu vãi sợi, áo quần, đồ điện cho tiêu dùng với xuất lượng tới 25% GDP trong thời kỳ này

Thế giới cũng cho rằng một số quốc gia đang được công nghiệp hóa thành công là Trung Quốc, Aán Độ và Braxin…

Hiện nay, thế giới cũng cho rằng một số quốc gia đang được công nghiệp theo bốn nhóm ngành: ( I ) công nghiệp sơ đẳng hay đệ nhất đẳng có nhiệm vụ khai thác các nguồn tài nguyên thành nguyên vật liệu ( ii ) công nghiệp đệ nhị đẳng: chuyển đổi từ nguyên vật liệu ra thành phẩm ( iii ) công nghiệp đệ tam đẳng l2 những ngành công nghiệp dịch vụ như thương mại bán lẻ, bán sỉ, vận tải, ngân hàng, tài chính … ( IV) công nghiệp đệ tứ đẳng gồm các hoạt động về cung cấp các kỹ năng chuyên môn và thông tin, các tổ chức nghiên cứu và dịch vụ tư vấn cũng thuộc lĩnh vực này

Gần đây thế kỷ đã chuyển sang xu hướng “ phi công nghiệp hóa” ( Dendustralization) mô tả sự hạ thấp việc đóng góp phần của công nghiệp chế biến để chấn hưng toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia theo hướng “ công nghiệp hóa kiểu mới” Đúng hơn quá trình này nên gọi là “ tái công nghiệp hóa” ( Re- industralization) bởi sự chuyển dịch cấu trúc này không phải là để rút công nghiệp nói chung ra khỏi hện thống sản xuất của nền kinh tế mà từ công nghiệp đệ nhị đẳng chuyển sang công nghiệp đệ tam và đệ tứ đẳng Nói cách khác một nền kinh tế được phi công nghiệp hóa là chuyển dịch từ sự sản xuất hàng hóa để hướng tới sự cung cấp dịch vụ là chính- còn gọi là công nghiệp dịch vụ ( service industry) Người ta cũng phân biệt hai khu vực chính của nền kinh tế hiện đại: sản xuất dịch vụ ( service-producing) và sản xuất hàng hóa ( goods-producing) Khu vực này che phủ nông nghiệp,

Trang 15

công nghiệp khai thác mỏ, xây dựng và chế biến Theo nghĩa rộng nhất, khu vực dịch vụ gồm có công nghiệp, vận tải, giao thông, các tiện ích công cộng, thương mại ( sỉ và lẻ), tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, địa ốc, nghề nghiệp và dịch vụ cá nhân như chăm sóc sức khỏe, kế toán, giải trí, giáo dục và các dịch vụ về thực phẩm…

Anh, Pháp và Mỹ là ba quốc gia hiện đang trải qua tiến trình phi công nghiệp hóa Ưu thế của nền kinh tế dịch vụ trong điều kiện của xã hội hậu công nghiệp là thể hiện đặc điểm của nó bằng một số nét đặc trưng cụ thể như là sự giảm bớt thuê mướn nhân công trong sản xuất và sự phụ thuộc vào hoạt động nhập khẩu thông qua diện rộng của nhiều lĩnh vực

Trên thế giới từ những năm 1990, lao động ở công nghiệp, sản xuất dịch vụ chiếm tới 76,4%, chỉ có 23,6% ở công nghiệp sản xuất hàng hóa Lực lượng lao động ở công nghiệp sản xuất dịch vụ đa số là lao động nữ và phần lớn trong số họ vào độ tuổi trẻ hóa 18 – 20 và làm việc bán thời gian, giảm bớt cường độ và thời gian lao động, đồng thời gia tăng thời gian nghỉ ngơi, giải trí và học tập Cuộc sống của nguồn nhân lực ngày nay có chất lượng và

ý nghĩa hơn trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công

Tuy nhiên, sự mất đi nền tảng của sản xuất có thể là để tạo lập ra sự phát triển không thuận lợi trong dài hạn, thật trở trêu, sự phi công nghiệp hóa của ba quốc gia vừa nói lại được kèm theo sự tăng trưởng trong công nghiệp kỷ thuật cao ở nhiều khu vực như là Côte d’Azuur ở Pháp, Silicon Valley ở California Mỹ và dọc theo xa lộ M4, chung quanh Cambridge và trung bộ Scotland- thường gọi là Silicon Glen ở Anh Tác động lâu dài của phi công nghiệp hóa còn phải nghĩ thêm nữa mới nhận dạng được hết những biến đổi của nó trong chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Đó có thể là tốc độ của quá trình chớ không phải là quá trình tự thân nên đòi hỏi có sự quản lý thận trọng về tài năng

Cũng nên nói thêm là sự ra đời của những công ty đa quốc gia hay xuyên quốc gia vào những năm 1960 có thể là sự phát triển về công nghiệp có ý nghĩa nhất Liên Hiệp Quốc dự báo sự đầu tư của các công ty đa quốc gia này đã tăng 13% hàng năm suốt trong 20 năm qua bởi vì càng nhiều quốc gia những quốc gia có kinh nghiệm giảm bớt công nghiệp sản xuất nội địa như là Anh, Mỹ, Nhật đã chứng tỏ họ bị hấp dẫn bởi các mục tiêu đa quốc gia vì lẽ nhiều quốc gia ở Châu Á và Nam Mỹ có giá lao động và điện năng rẻ Xu thế mới là họ giảm bớt công nghiệp sản xuất nội địa nhưng lại gia tăng công nghiệp sản xuất ở nước ngoài Có một cách nói ví dỏm cho tình trạng này: họ di tản rác từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển ! điều này có ý nghĩa giảm bớt sự tác hại của công nghiệp sản xuất với môi trường sinh thái để dịch chuyển sang công nghiệp dịch vụ, chuyên đi gia công

Trang 16

ở nước ngoài Việt Nam đang diễn ra tình trạng này đối với các công ty đa quốc gia Ngược lại một số ít quốc gia ở Châu Phi được hưởng lợi từ đầu tư cho các công ty xuyên quốc gia mang lại vì lẽ lực lượng công nhân yếu kém kỹ năng chưng hạ tầng cơ sở lại có đầy đủ, sự phát triển của các quốc gia vừa nói đang được động viên như là một cách bảo đảm cho các quốc gia công nghiệp mới ( NICs) mở rộng thị trường xuất khẩu.

Cuối cùng đôi khi hậu quả tiêu cực của công nghiệp hóa lại xảy ra ở các nước đang phát triển cũng như phát triển từ những cấu trúc công nghiệp được xây dựng, nơi mà các vấn đề môi trường và sự phá vỡ cấu trúc xã hội thường đi theo sự phát triển đã thấy bắt đầu từ nhiều năm qua Nói chung, các chế độ công nghiệp hóa có qui mô lớn hiện đại đòi hỏi một sự phát triển song hành của các nguồn lực, trong trường hợp các nhà máy thủy điện, một số cộng đồng nông thôn buộc phải di dời để kiến tạo một vùng rộng lớn làm hồ chứa nước đằng sau cái gọi là “ siêu đập” ( super-dams) Sự bảo vệ môi trường có thể bị bỏ qua nên dẫn đến vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng về không khí, đất cát và nước: trường hợp các nhà máy hóa chất ở Minamata ( Nhật) gây ô nhiễm thủy ngân cho cá trong vịnh này và thức ăn của người đã gây chế chóc và bệnh hoạn kéo dài trên 30 năm Khí độc ở khu công nghiệp Bhopal ( Aán Độ) đã giết chết hàng ngàn người dân và làm mù lòa thương tật cho nhiều người dân khác, các vùng biển Bắc Châu Aâu cũng chịu hậu quả nặng nề của nhiều người thứ ô nhiễm của các nhà máy nhiệt điện, nguyên tử năng, các tàu chở dầu…

Tất cả đều cho thấy rằng đẩy mạnh công nghiệp hóa có nghĩa là phải gia tăng bảo tồn các tài nguyên đang được phát triển do đó trên thế giới ngày nay có xu hướng về ba kiểu công nghiệp hóa: (i) một số qốc gia đã phải trả giá rất đắc cho kinh nghiệm đau thương về một tương lai hậu – công nghiệp, ( ii) nhiều quốc gia đạt hiệu quả trong việc sử dụng và tái tạo nguồn tài nguyên, bớt việc sử dụng tài nguyên cho sản xuất công nghiệp đồng thời bảo vệ môi trường thiên nhiên

Một sự hợp tác quốc tế rất cần thiết nếu mọi quốc gia đều bắt buộc phải có thu hoạch từ lợi ích tiềm năng của công nghiệp

Như vậy, từ thực tiễn công nghiệp hóa của thế giới và ở nước ta, đại hội đảng lần thứ VIII đã đưa ra các quan điểm như sau:

* Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa

* Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu

Ngày đăng: 28/07/2013, 01:25

Xem thêm

w