Nghiệ m Kết quả - giải thích kết quả 1 Kết quả Đối tượn g Lượn g mẫu g Thể tích ml chuẩn ml Hệ sốđiều chỉnh chuẩn độ Cường độ hô hấp mg/gh Trước thí nghiệm Sau thí nghiệm Hô hấp Bình ki
Trang 1Nghiệ
m
Kết quả - giải thích kết quả
1 Kết quả
Đối
tượn
g
Lượn
g mẫu (g)
Thể tích (ml)
chuẩn (ml) Hệ sốđiều
chỉnh chuẩn độ
Cường
độ hô hấp (mg/gh)
Trước thí nghiệm
Sau thí nghiệm
Hô hấp
Bình kiểm tra
Bình thí nghiệm Hạt
đậu
nảy
mầm
Lá
cây
Công thức tính toán:
Trong đó:
In là cường độ hô hấp
a là kết quả chuẩn độ ở bình kiểm tra
b kết quả chuẩn độ ở bình thí nghiệm
k là hệ số chỉnh chuẩn độ HCl
p trọng lượng mẫu
t thời gian thí nghiệm
Cường độ hô hấp của hạt đậu nảy mầm:
Cường độ hô hấp của lá cây:
Giải thích
Cường Độ Hô Hấp (Respiration Rate) là đại lượng đo khả năng hô hấp của thực vật, thường được tính bằng số mg CO2 thoát ra hay số mg O2 hấp thụ trong một đơn
vị thời gian và một đơn vị khối lượng Nguyên liệu hô hấp ở các loài thực vật khác nhau thì cường độ hô hấp cũng khác nhau Vì vậy, cường độ hô hấp có thể dùng để đánh giá hoạt động sống của cây Cây có hoạt động sống càng mạnh thì cường độ hô hấp càng cao để đảm bảo cung cấp đẩy đủ dinh dưỡng cho cây
Bản chất của quá trình hô hấp ở thực vật là phân giải glucose thành CO2, nước
và giải phóng năng lượng ATP cần cho các hoạt động sinh trưởng và phát triển ở thực vật Ở hạt đậu đang nảy mầm quá trình sinh lý xảy ra mạnh mẽ, hạt cần nhiều năng lượng để phát triển thành cây nên nhu cầu hô hấp cao hơn so với lá cây Mặt khác, trong hạt chứa nhiều tinh bột, đây là nguyên liệu cần thiết để hạt tiến hành quá trình hô hấp, lượng tinh bột càng nhiều thì quá trình hô hấp diễn ra càng mạnh mẽ Trong lá cây thường không chứa hoặc chứa rất ít tinh bột nên sự hô hấp ở lá cây diễn ra không mạnh bằng ở hạt
2 Quan sát hiện tượng và giải thích hiện tượng xảy ra ở lá rong còn sống và lá
Báo Cáo Thực Hành Bài 5
Hô Hấp Ở Thực
Vật
Trang 2rong bị nấu chín
Ở thực vật qua quá trình trao đổi chất đã tạo ra 1 sản phẩm là Perocid Hydro
H2O2 Chất này có khả năng gây độc đối với tế bào Vai trò của Enzyme Catalase chính là tiến hành phân giải H2O2 thành những chất ko có khả năng gây độc với tế bào là Oxy và nước:
Ở những lá rong còn non lượng enzyme catalase nhiều hơn ở lá già nên khi ta nhỏ H2O2 vào thì lá non sẽ thoát ra nhiều bọt khí hơn
Khi lá rong non và già bị nấu chín thì không có hiện tượng bọt khí bay ra do lượng enzyme catalase có trong lá đã bị biến tính vì vậy không còn khả năng khử
H2O2 nữa
Hình ảnh
Lá non khi còn sống Lá già khi còn sống
Lá non khi nấu chín Lá già khi nấu chín
3 Quan sát hiện tượng và giải thích hiện tượng?
Lá non hay những phần non của lá vì có nhiều enzyme reductase nên khả năng khử cao, khi chất màu vừa thâm nhập vào tế bào sẽ bị khử ngay, nghĩa là chất màu
Trang 3(xanh metylen) nhận thêm một nguyên tử hydro và trở thành không màu
Ở những lá già bị nhuộm màu hoàn toàn do lượng enzyme reductase có rất ít hoặc hầu như không còn nên không có khả năng khử màu xanh metylen
Ở những lá trung gian chỉ bị nhuộm màu ở phần đỉnh lá vì thân lá còn nhiều
enzyme reductase, nhưng phần đỉnh lá (phần già của lá) không còn hoặc rất ít enzyme nên không có khả năng khử màu
Lá non thì không bị nhuộm màu vì lượng enzyme reductase có rất nhiều trong lá nên khử xanh metylen rất cao
Lá non Lá trung gian
Lá già