Thơ Lục Bát là gì?*Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ chính của dân tộc ta, thơ lục bát không giới hạn số câu.. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng câu lục và một câu 8 tiến
Trang 21 Thơ Lục Bát là gì?
*Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ chính của dân tộc ta, thơ lục bát không giới hạn số câu Các cặp câu gồm có một câu 6
tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát
2.Cách gieo vần trong thơ lục bát
Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác Có nhiều vần được gieo trong thơ, tạo
cho thơ lục bát có tính linh hoạt về vần
Trang 3Cách gieo vần:
- Chữ cuối của câu 'lục' vần với chữ thứ sáu của câu 'bát' tiếp theo.
- Chữ cuối của câu 'bát' vần với chữ cuối của câu 'lục' kế tiếp
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày giữ nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Trang 4Ngoài quy tắc về gieo vần, thơ Lục Bát cũng có
quy tắc dành cho thanh điệu như sau:
Thanh Bằng: gồm thanh huyền
(`) và thanh ngang (không dấu).
Thanh Trắc: gồm thanh sắc,
hỏi, ngã (~), nặng (.).
Ví dụ:
Cày đồng đang buổi ban trưa
B T B
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
B T B B
Ai ơi bưng bát cơm đầy
B T B Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
B T B B
Trang 53.Cách ngắt nhịp trong thơ Lục Bát:
-Nhịp thơ giúp người nghe, người đọc cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn là 2/4 hoặc 4/4
Ví dụ:
Gió đưa / cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn-Vũ / canh gà Thọ Xương
Mịt mù / khói toả ngàn sương Nhịp chầy Yên Thái, / mặt gương Tây Hồ.
Trang 6Một số bài thơ lục bát đã học
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này ?
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có trúc bóng râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn