1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài 18. Ông đồ

44 208 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 4,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xin chữ,xin câu đối là một trong những hoạt động tâm linh ấy.Nguời viết nên những câu đối ấy chính là những ông đồ Nho học,và bài thơ "Ông đồ" tác giả Vũ Đình Liên viết về những ông đồ N

Trang 2

Thịt mỡ,d a hành,câu

đối đỏ.

Cây nêu, tràng pháo ,bánh ch ng xanh.

Trang 3

Đầu năm thường gắn với việc cầu xin những điềm lành, việc lành trong ao ước của con người qua những cuộc hành hương về nơi linh thiêng nhất Xin chữ,xin câu đối là một trong những hoạt động tâm linh ấy.Nguời viết nên những câu đối ấy chính là những ông đồ Nho học,và bài thơ "Ông đồ" tác giả Vũ Đình Liên viết về những ông đồ Nho thời thịnh vượng và thời tàn lụi.

Bài thơ "Ông đồ" và tác giả đã được các báo chí nước ngoài giới thiệu qua gần 10 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch,

Bồ Đào Nha, Ả Rập Thật là một bài thơ bất hủ của nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên.

Trang 5

(Tiết 1)

Trang 6

1/Tác giả:

- Vũ Đình Liên (1913-1996)

Quê gốc: Hải Dương, chủ yếu sống ở Hà Nội.

Tham gia phong trào Thơ mới ngay từ những ngày đầu với hồn thơ nhân hậu, hoài cổ.

Là một nhà giáo ưu tú, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1990), nhà nghiên cứu dịch thuật.

I/Tác giả - tác phẩm

Trang 8

2.Tác phẩm

Tìm hiểu chung.

*Xuất xứ: Ra đời năm

1936 – Đăng báo “Tinh

hoa”.

3/ Đọc – Chú thích

a./ Đọc

b./ Chú thích

Trang 9

Trong một thời gian dài suốt mấy trăm năm, nền Hán học và chữ Nho chiếm một

vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam.

Học trò học chữ Nho.

Trang 10

Học trò học chữ Nho.

Trang 12

Các nhà nho là nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa dân tộc, được xã hội tôn vinh.

Trang 13

Ông đồ là người Nho học nhưng không đỗ đạt, sống thanh bần bằng nghề dạy học

Trang 14

Theo phong tục, khi Tết đến, người ta sắm câu đối hoặc một đôi chữ nho viết trên giấy đỏ dán lên vách, lên cột vừa để trang hoàng nhà cửa ngày Tết, vừa gửi gắm lời cầu chúc tốt lành

Trang 15

Ông đồ được thiên hạ tìm đến, ông có dịp trổ tài.

Chữ của ông được mọi người trân trọng, thưởng thức.

Trang 16

Ở thành phố, khi giáp Tết xuất hiện những ông

đồ bày mực tàu giấy đỏ bên hè phố, viết chữ

nho, câu đối bán.

Trang 17

Nhưng rồi chế độ thi cử chữ Hán bị bãi bỏ (1915), chữ nho bị rẻ rúng.

Trẻ con không còn đi học chữ nho của

các ông đồ nữa mà học chữ quốc ngữ

hoặc chữ Pháp.

“Ông đồ chính là cái di tích tiều tuỵ đáng

thương của một thời tàn”(Vũ Đình Liên)

Trang 18

II/ Phân tích văn bản:

Trang 19

Thảo luận : Chọn đáp án đúng nhất :

Bài thơ “Ông đồ ” được tạo lập bởi

những phương thức biểu đạt nào? Đâu

Trang 21

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người

qua.

Trang 22

+Thời gian:tết đến,

xuân về.

+Hình ảnh: ông đồ già.

lặp thời gian,sự việc.

+ Màu sắc:đỏ của hoa

đào,của giấymàu

Trang 23

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng

bay”.

Trang 24

Làm sống lại quãng đời

đẹp đẽ của ông đồ thời

Nho học đang thịnh

vượng

Trang 25

+ Nghệ thuật:

Ẩn dụ,so sánh,nói quá:

làm nổi bật tài hoa của

ông đồ

+ Nội dung:

Ông đồ thời đắc ý là

trung tâm của sự chú ý

và ngưỡng mộ của mọi

người, tôn vinh một thú

chơi tao nhã, một con

người tài hoa viết chữ

đẹp, một nét văn hoá tết

đặc sắc

Trang 28

Một số hình ảnh về nét đẹp văn hoá truyền thống đang được khôi phục.

Trang 29

Việc xin chữ đầu năm lâu nay đã có và ngày một thịnh hành, nó đang trở thành phong tục đẹp của người Việt Nam mỗi độ xuân về Tết đến Tại Hà Nội, việc này diễn ra ở nhiều nơi: trong nhà riêng của một số thầy đồ có tiếng văn hay chữ tốt, trên đường phố nơi

có khoảng hè rộng rãi và nhiều người qua lại Chỗ có

vẻ ấn tượng nhất là trước sân Miếu Văn, khoảng hè phố đường Bà Triệu, đoạn giao cắt với đường Trần Hưng Đạo Xin chữ là một nét đẹp văn hóa cần phát huy Chỉ một chữ treo trước mặt mà có ý nghĩa về đạo đức và đời sống đối với những con người cụ thể sẽ giá trị hơn nhiều những lời nói sáo rỗng

Trang 30

ÔNG ĐỒ BỊ LÃNG QUÊN

và tấm lòng của tác giả

Trang 31

- “Nhưng”: quan hệ từ chỉ sự tương phản.

- Điệp từ “mỗi” diễn tả bước đi thời gian.

=> Câu thơ thấm đượm nỗi buồn

Trong 2 khổ thơ 3-4

em thấy những câu thơ nào sử dụng bút pháp nghệ thuật đặc sắc?

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Khổ 3: “Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu”.

Khổ 4: “Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay”.

Trang 32

Nhóm 1:

? Chỉ ra biện pháp nghệ thuật

đặc sắc và phân tích hiệu quả

của biện pháp nghệ thuật trong

hai câu thơ sau

“ Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu”

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Trang 33

Nhóm 1:

“ Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu”

ĐÁP ÁN

- Biện pháp nhân hóa:

+ Giấy đỏ - buồn

+ Mực - sầu

->Phép nhân hóa khiến vật vô tri vô

giác trở nên có tâm hồn -> có tác

dụng nhấn mạnh nỗi buồn cô đơn,

vắng khách của ông đồ Nỗi buồn

+ Mưa bụi gợi nỗi buồn ảm đạm, thê lương

-> Nỗi sầu tủi, cô đơn, tuyệt vọng của ông đồ.

Trang 34

- Câu thơ thấm đượm nỗi buồn xa

nào?

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

=> Nền Nho học suy tàn, ông đồ hiện

lên hết sức đáng thương.

Trang 35

Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua

Năm nay đào lại nở, Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Em hãy so sánh hình ảnh ông đồ và cảnh vật ở khổ thơ đầu và khổ thơ

cuối?

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

- Giống nhau: Cảnh vật vẫn vậy , đều

xuất hiện “ hoa đào nở”

 Thiên nhiên vẫn tồn tại, đẹp đẽ

và bất biến; con người thì trở thành xưa

cũ, vắng bóng

Trang 36

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

thơ?

Thiên nhiên vẫn tồn tại, đẹp đẽ và

bất biến; con người thì trở thành xưa

cũ, vắng bóng.

Nhà thơ buồn thương, xót xa, nuối

tiếc trước việc ông đồ vắng bóng, ngậm

ngùi nhớ về một nét văn hóa đẹp, thể

hiện niềm hoài cổ.

 

Trang 37

Bài thơ ông đồ đã

sử dụng những biện pháp nghệ thuật

nào?

- Thể thơ ngũ ngôn phù hợp với lối

kể chuyện và diễn tả tâm tình

- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, ẩn

dụ, tương phản, bút pháp tả cảnh

ngụ tình

- Ngôn ngữ, hình ảnh trong sáng,

bình dị nhưng hàm súc giàu sức gợi.

Bài thơ thể hiện sâu sắc tình cảnh

đáng thương của ông đồ và niềm cảm

thương, nuối tiếc của tác giả đối với

một lớp người, một nét văn hoá

truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

II/ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Trang 42

Củng cố - sơ đồ tư duy

Củng cố - sơ đồ tư duy

Trang 43

Nắm nghệ thuật và nội dung của hai khổ thơ đầu

* Trả lời các câu hỏi SGK

H íng dÉn VỊ nhµ

Trang 44

Xin chân thành cảm ơn quý

thầy cô đã đến dự

Ngày đăng: 13/12/2017, 03:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN