1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài 10. Bài thơ về tiểu đội xe không kính

20 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ về tiểu đội xe không kính nằm trong chùm thơ Phạm Tiến Duật được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969... Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật bom

Trang 2

- Nhà thơ Phạm Tiến Duật ( 1941 – 2008), quê ở huyện Thanh Ba, Phú Thọ

- Năm 1964, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, rồi ra nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn

- Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống

Mĩ cứu nước

Trang 3

- Thơ Phạm Tiến Duật Tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn

- Nhiều bài thơ của ông đi vào trí nhớ của công chúng như: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây( Được phổ nhạc) Gửi

em cô thanh niên xung phong; Lửa đèn

- Thơ ông có giọng điệu tự nhiên, tinh nghịch, sôi nổi, trẻ trung

Trang 4

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

nằm trong chùm thơ Phạm Tiến

Duật được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969

Trang 5

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Phạm Tiến Duật

Trang 6

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

- Câu thơ dài, tự nhiên như câu văn xuôi, giọng điệu thản nhiên

- Nghệ thuật điệp ngữ: lí giải vì sao chiếc xe không còn kính

- Chiếc xe bị biến dạng trần trụi => Hiện thực chiến trường ác liệt

Trang 7

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Trang 8

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn – thấy gió vào xoa mắt đắng

con đường chạy thẳng vào tim sao trời và đột ngột cánh chim

như sa như ùa vào buồng lái

Miêu tả rất thực những ấn tượng, những cảm giác của người lính lái xe không kính khi trực tiếp tiếp xúc với thế giới bên ngoài

Tư thế ung dung, đàng hoàng, hiên ngang

* Tư thế:

Trang 9

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời.

Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

- Cấu trúc lặp lại, nghệ thuật so sánh, điệp ngữ, giọng thơ bình thản, ngang tàng, những khẩu ngữ mộc mạc, tự nhiên

- Thái độ vững vàng, coi thường gian khổ

Trang 10

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Trang 11

Tiểu đội: Đơn vị gồm 12 người.

Chông chênh: không vững chắc

Bếp Hoàng Cầm:

Đây là loại bếp dã chiến, mang tên đồng chí Hoàng Cầm , một chiến sĩ nuôi quân ( anh nuôi) ở sư đoàn

308 sáng tạo ra từ chiến dịch Hòa Bình 1951, sau đó được sử dụng rộng rãi trong kháng chiến chống

Mĩ Anh đào những đường rãnh thoát khói dưới lòng đất, nối liền với bếp lò, bên trên rãnh đặt

những

cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm Khói

từ bếp bốc lên qua đường rãnh chỉ còn lại một dải hơi nước, tan

nhanh

khi rời khỏi mặt đất Từ đó anh nuôi có thể náu ăn ban ngày, ngay

cả khi máy bay trinh sát của địch trên đầu

Trang 12

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

- Chi tiết chân thực, chọn lọc, giọng thơ nhịp nhàng.

-> Cuộc sống dã chiến của người lính gian khổ, thiếu thốn nhưng đàng hoàng

=> Tình đồng chí, đồng đội gắn bó

Trang 13

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Hãy chỉ ra những đặc sắc nghệ thuật trong khổ thơ cuối và cho biết tác dụng của những biện pháp nghệ thuật ấy?

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Điệp ngữ, liệt kê

Những chiếc xe bị phá hủy đến tang thương

Chiến trường càng lúc càng ác liệt

- Sức mạnh tinh thần.

- Ý chí quyết chiến, quyết thắng.

- Lòng yêu nước thiết tha.

- Nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Hình ảnh biểu tượng

Trái tim người lính còn đập thì chiếc xe vẫn còn tiến về phía trước

Khát vọng thống nhất đất nước

Trang 14

Nhà thơ Phạm Tiến Duật tâm sự:

“ … Hình ảnh cuối cùng tỏa lên bài thơ, làm bài thơ lung linh một ý

nghĩa, một tình yêu Phải, chỉ cần có

“ một trái tim”, một trái tim yêu yêu nước, một lòng khao khát giải phóng miền Nam thì tất cả những cái thiếu kia đâu có hề gì Vậy đó, khí phách ngang tàng mà vẫn tha thiết yêu

thương…”

( Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ/ nhiều tác giả)

Trang 15

Nhà thơ Phạm Tiến Duật tâm sự:

“ … Bài thơ là một trong những hình mẫu, tiêu biểu cho thơ ca tôi Ngắn, khoảng trong chừng ba mươi dòng; ngôn ngữ mộc mạc; những hình ảnh khỏe khoắn, chân thực, như đời sống chân phương ùa vào thơ, sinh động

mà không kém phần lôi cuốn Tôi

thích bài thơ, thích cái vẻ ngang tàng khí phách, thích cái chất kiêu hùng trong vẻ giản dị của nhân vật Tứ

“ không có kính” là cách để làm bật lên tình yêu lớn của người lính lái xe đối với tổ quốc, với miền Nam.”

( Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ/ nhiều tác giả)

Trang 16

- Bài thơ của Phạm Tiến Duật đã khắc họa một hình ảnh độc đáo: Những chiếc xe không kính Qua đó, tác giả khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam

- Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường, ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn

Trang 18

2 Những chiến sĩ lái xe Trường Sơn có phẩm chất gì?

chiến đấu sắt đá

B/ Lạc quan, coi thường hiểm nguy, liều lĩnh.

C/ Vui nhộn, tinh nghịch, dũng cảm.

D/ Lạc quan, cuộc sống.

1 Hai tác phẩm Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính giống nhau ở điểm nào?

B/ Cùng viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp C/ Cùng viết về đề tài người lính, theo thể thơ tự do D/ Cùng viết về cuộc đời lính của chính mình.

Trang 19

Đề: So sánh hình ảnh người lính trong hai tác phẩm:

Trang 20

a.Giống nhau:

• Vư ợt qua khó khăn, gian khổ, thiếu thốn

• Tỡnh đồng đội keo sơn gắn bó

• ý chí chiến đấu và tinh thần lạc quan

b Khác nhau:

•“ Đồng chí”: Những ng ười nông dân mặc áo lính giản dị, chân thành, chất phác.

•‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính”: Những chiến sĩ trẻ hồn nhiên, hóm hỉnh, trẻ trung

Ngày đăng: 13/12/2017, 01:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w