1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuần 21. Vợ nhặt

30 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 385 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt tác phẩm Năm ấy đói tả đói tơi Đói mòn đói mỏi đói rời người ra Người người “xanh xám” như ma “Quạ kêu thê thiết” thật là thảm thương Có anh chàng nọ dân thường Ngoại hình xấ

Trang 1

Vợ nhặt

Trang 2

I Tìm hiểu tác giả - tác phẩm

1 Tác giả

- Kim Lân ( 1920  -  2007 ), tên thật là Nguyễn Văn Tài.

- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm

- Ông được mệnh danh là nhà văn của làng quê, của người nông dân Việt Nam.

- Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về

Trang 3

2 Tác phẩm

Trang 4

Câu 1: Truyện ngắn Vợ Nhặt lấy bối cảnh từ:

A Sự kiện Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương năm 1945

B Nạn đói khủng khiếp năm 1945 ở nước ta làm hơn hai triệu người chết đói

C Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 (1919 –

1929) của thực dân Pháp

D Cách mạng tháng Tám năm 1945

ĐA: B

Trang 5

Câu 2: Tiền thân của truyện ngắn Vợ Nhặt?

A Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955)

B Đứa con người vợ lẽ

C Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)

ĐA: C

Trang 6

3 Tóm tắt tác phẩm Năm ấy đói tả đói tơi

Đói mòn đói mỏi đói rời người ra

Người người “xanh xám” như ma

“Quạ kêu thê thiết” thật là thảm thương

Có anh chàng nọ dân thường

Ngoại hình xấu xí lại phường phu xe

Cái lưng to cứ bè bè

“Hai mắt ti hí” lòe nhoè bóng dâm

Lại còn có tính hâm hâm

Vừa đi “lẩm bẩm” có phần dở hơi

Nhưng mà lại lạ ở đời

Giữa đường “nhặt vợ” ngàn lời thủy chung

“Câu hò đỡ nhọc” bần cùng

“Bốn bát bánh đúc” trùng phùng bên nhau

Đường về Tràng trước thị sau

Người trước đắc trí người sau ngượng ngùng

Mặt Tràng “phớn phở” ung dung Quên đi tất cả sướng sung trở về Nhà Tràng trông thật não lề “Rúm ra rúm ró” chàn chề cỏ cây Anh Tràng cứ đứng “tây ngây” Còn thị khép nép mang đầy buồn đau Tràng kia tự hỏi vài câu

Sao buồn thế nhỉ vì đâu mà sầu?

Hôm nay cụ Tứ đi đâu?

Tràng ra đứng đợi hồi lâu mẹ về

Bà lão trông thật thảm thê Dáng đi “lọng khọng” bộn bề lo toan Tràng ta sung sướng ngập tràn “Reo như đứa trẻ” hỏi han chuyện trò

Trang 7

Cụ Tứ “phấp phỏng” hơi lo

Đến sân sững lại hỏi cho rõ ràng

Được lời giới thiệu của Tràng

“Nhà tôi” thân mật bà càng xót xa

Bây giờ bà lão hiểu ra

Cho người lạ ấy vào nhà làm dâu

Tân hôn sáng rực đèn dầu

“Khóc hờ” văng vẳng đâu đâu trong làng

Sớm mai buổi sáng chói chang

Anh Tràng tỉnh dậy “ngỡ ngàng như

mơ”

Việc Tràng có vợ bây giờ

Sao Tràng vẫn thấy ngờ ngờ phân vân

Vợ Tràng giặt rũ quét sân

Lúc này thị đã ân cần đảm đang

Mẹ Tràng rẫy cỏ mọc hoang Căn nhà rách nát trang hoàng tinh tươm Tràng thấy “gắn bó” lạ thường

“Xăm xăm” ra giúp mọi người sửa sang Bữa cơm ngày đói tan hoang

Mẹ con cười nói kể toàn chuyện vui

Lá cờ phấp phới đỏ tươi Dẫn đường chỉ lối cho người nông dân!

Trang 8

II Đọc hiểu văn bản

1 Tình huống truyện

- Tràng là người xấu xí, dở hơi lại nghèo khổ.nhưng trong cái đói khủng khiếp thì Tràng lại nhặt được vợ dễ dàng chỉ bằng bốn bát bánh đúc và vài lời trêu đùa

Trang 9

Số phận rẻ rúng của con người

Trang 10

Trước khi nhặt được vợ

Trong quá trình nhặt vợ

Trong quá trình nhặt vợ

Khi đưa người vợ nhặt ra mắt mẹ

Khi đưa người vợ nhặt ra mắt mẹ

Sau đêm tân hôn

Trang 11

- Người đàn ông nhà quê nghèo khổ làm nghề kéo xe và là dân ngụ cư.

- Ngoại hình: xấu xí với

“hai con mắt nhỏ tí, gà

gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra” lại còn

có tật “vừa đi vừa nói lảm nhảm”

Trang 12

Tâm trạng của nhân vật Tràng

- Trước khi nhặt được vợ: Tràng là người vô tư,

tính cách trẻ con, hay đua vui với lũ trẻ và cười hềnh hệch Khi nạn đói chàn về Tràng đi từng bước mệt mỏi, ủ rũ và chán nản trong cái cảnh đói khát

Tràng cũng như bao người khác, đang dần

dần bước tới bờ vực của cái chết

Trang 13

- Trong quá trình nhặt được vợ:

+ Nhặt được vợ từ một câu nói đùa và 4 bát

bánh đúc

+ Tràng lo lắng, phân vân “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”

+ Nhưng cuối cùng lại “Chậc kệ!”, sự liều lĩnh

để có được hạnh phúc

Trang 14

+ Hai mắt Tràng “sáng lên lấp lánh” và Tràng “quên đi hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày” và “trong lòng bây giờ chỉ còn tình nghĩa với người đàn

bà đi bên”.

→ dấu hiệu của sự khao khát hạnh phúc

Trang 15

Khi đưa người vợ nhặt về nhà:

đứng tây ngây

ra nhà và cảm thấy bối rối và ngóng chờ mẹ

+ Tràng “lấy

vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình

Thấy mẹ về Tràng “reo lên như một đứa trẻ”

“thở đánh

phào” khi mẹ

đồng ý nhận

nàng dâu.

Trang 16

- Bình luận về chi tiết: Tràng bỏ “hai hào” ra

mua dầu để dùng trong đêm tân hôn?

+ Có đèn giống như một đám cưới truyền thống, hạnh phúc viên mãn, chàn đầy

+ Thắp đèn dầu sáng để mong muốn có một

tương lai tươi sáng hơn

Trang 17

Sau đêm tân hôn:

Trong người ê ái

lửng lơ như người

vừa ở trong giấc mơ

đi ra

Trong người ê ái

lửng lơ như người

vừa ở trong giấc mơ

đi ra

Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân và “hai mắt cay sè” như muốn khóc.

Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân và “hai mắt cay sè” như muốn khóc.

Thấy thương yêu ngôi nhà của mình

Thấy thương yêu ngôi nhà của mình

Trang 18

+ Hắn cảm thấy có bổn phận phải lo lắng cho

vợ con và hắn “xăm xăm chạy ra sân” muốn làm một việc gì đó để tu sửa căn nhà

Tràng đã thay đổi, trưởng thành, suy nghĩ

đã chín chắn hơn nhiều

+ Trong bữa cơm ngày đói, Tràng tỏ ra rất

ngoan ngoan, nghe lời mẹ để lo cho tương lai hạnh phúc sau này

Trang 19

Kết luận:

- Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám Khi chưa có nạn đói thì nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ, trong nạn đói lại lấy vợ, niềm hạnh phúc đan xen với bất hạnh.

- Cuộc đời của những người như Tràng nếu không có một sự thay đổi mang tính đột biến của cả xã hội sẽ sống mãi trong sự tăm tối, đói khát Ở Tràng, tuy chưa

có được sự thay đổi đó, nhưng cuộc sống đã bắt đầu hé

mở cho anh một hướng đi Đó là con đường đến với cách mạng một cách tự nhiên và tất yếu mà những người như Tràng sẽ đi và trong thực tế lịch sử, người nông dân Việt Nam đã đi.

Trang 20

b Nhân vật thị

- Xuất thân:  Trước hết, về cảnh ngộ,

xuất hiện trong tác phẩm, người vợ

nhặt chỉ là một con số không tròn

trĩnh : không tên tuổi, không quê

hương, không giađình, không nghề

nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm

chị chỉ được gọi bằng “thị”- một

cách gọi phiếm định giành cho chị

và tất cả những người phụ nữ có

cảnh ngộ và số phận đáng thương

và tội nghiệp như chị.

- Ngoại hình: xuất hiện với “quần áo

tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi”,

mặt lưỡng cày xám xịt chỉ thấy hai

con mắt.

Trang 21

Tính cách

“sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa

nói”

“sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa

“rón rén”, “e thẹn”

Khi theo Tràng “chân nộ

bước riu cả chân kia”

“chân nộ bước riu cả chân kia”

Tỏ ra ngoan ngoãn, hiểu chuyện

Tỏ ra ngoan ngoãn, hiểu chuyện Sau đêm tân hôn

Dạy sớm quét dọn nhà

cửa

Dạy sớm quét dọn nhà

cửa

Trang 22

- Tính cách:

+ Trước khi lấy Tràng: Tính cách chỏng lỏn, táo

bạo, vô duyên & liều lĩnh đến mức trâng tráo

Lần gặp Lần gặp thứ nhất: thị chủ động làm quen ra

đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng.

Lần thứ hai: thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại

còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng Đã vậy, thị còn

chủ động đòi ăn Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, thị đã

xà xuống ăn, cúi gằm ăn một mạch bốn bát bánh đúc Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon…

Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói.Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người

Trang 23

- Sau khi làm vợ Tràng: thị trở nên hiền thục, e lệ, lễ phép và đảm đang:

+ Trên đường về:( thị đi sau Tràng cái nón rách che nghiêng,

“rón rén, e thẹn” , ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia” )

thật tội nghiệp cho cảnh cô dâu mới theo chồng về

nhà : một cảnh đưa dâu không xe hoa, chẳng pháo cưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối của những người

trong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết tang thương…

+ Sau đêm tân hôn: chị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ

+ Trong bữa cơm cưới ngày đói: chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu chuyện, ngoan ngoãn nghe lời.

Trang 24

- Như vậy, người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy

đã thật sự thay bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng

- Bóng dáng của thị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình.Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của cái chết…

Trang 25

Cả Tràng và thị đều thay

đổi

Cả Tràng và thị đều thay

đổi

• Thị làm cho Tràng thay đổi và

ngược lại

Hướng tới hạnh phúcHướng tới

hạnh phúc

• Giá trị nhân đạo của tác phẩm

Trang 27

Bà “phấp phỏng” theo con trai vào nhà, khi thấy người phụ nữ lạ mặt bà “đứng sững lại”

và hấp háy con mắt.

Bà “phấp phỏng” theo con trai vào nhà, khi thấy người phụ nữ lạ mặt bà “đứng sững lại”

và hấp háy con mắt.

Khi biết con trai nhặt được vợ: bà lão “cúi đầu nín lặng”, “chua xót cho

số phận” con trai mình, rồi “khẽ thở dài” và nhìn đăm đăm ra ngoài

Khi biết con trai nhặt được vợ: bà lão “cúi đầu nín lặng”, “chua xót cho

số phận” con trai mình, rồi “khẽ thở dài” và nhìn đăm đăm ra ngoài

bà đã chấp nhận, dặn do các con làm ăn với hi vọng “ không ai giàu ba

họ, không ai khó ba đời”.

bà đã chấp nhận, dặn do các con làm ăn với hi vọng “ không ai giàu ba

họ, không ai khó ba đời”.

Khi thấy thị

bà kể toàn chuyện vui, chuyện tương lai tươi sáng, hồ hởi và tin tưởng.

bà kể toàn chuyện vui, chuyện tương lai tươi sáng, hồ hởi và tin tưởng.

hành động hi sinh vì con cái, yêu thương quý trọng con người

hành động hi sinh vì con cái, yêu thương quý trọng con người

Trong bữa cơm

Trong bữa cơm

Trang 28

4 Giá trị hiện thực và nhân đạo

Trang 29

Tác giả lên án tố cáo tội

ác của thực dân phong kiến, thể hiện thái độ đồng cảm với cảnh ngộ,

số phận của người lao động nghèo khổ

Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp của tình người, khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin của người lao động.

Mở ra một con đường mới – cách mạng

Trang 30

• III- Kết luận:

- Tác phẩm lên án tội ác của thực dân- phát xít đã đẩy nhân dân ta đến nạn đói khủng khiếp, đồng thời trân trọng tình cảm nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau của những người nghèo khổ

- Con người vươn lên tìm hạnh phúc ngay bên cạnh cái chết và cùng hi vọng vào sức mạnh giải phóng của cách mạng

- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ giản dị, gần gũi, nghệ thuật miêu tả tâm

lí nhân vật độc đáo

Ngày đăng: 12/12/2017, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN