Chính sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, chính yêu cầu phát triển đồng bộ các loại thị trường khác nhau đã góp phần phân bổ hợp lý, nhanh chóng, có hiệu quả
Trang 1Câu 1: Trình bày và phân tích những nội dung cơ bản
của lý luận hàng hóa sức lao động của C Mác Ý nghĩa thực tiễn
của lý luận đó?
Trả lời:
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể
một con người và được vận dụng trong quá trình sản xuất ra giá trị sử
dụng nào đó Bất cứ trong xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện
cơ bản của sản xuất, nhưng chỉ đến chủ nghĩa tư bản, sức lao động
mới trở thành hàng hóa
Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi (1) người lao động
phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao động của mình
và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian nhất định; (2) người
lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình đứng ra tổ
chức sản xuất và không có khả năng bán những sản phẩm do sức lao
động của họ kết tinh
C.Mác viết: "Như vậy là để chuyển hóa tiền tệ thành tư bản
người chủ tiền tệ phải tìm được người lao động tự do trên thị trường
hàng hóa, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do,
chi phối được sức lao động của mình với tư cách là một hàng hóa, và
mặt khác, anh ta không còn có một hàng hóa nào khác để bán, hoàn
toàn không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của
mình
Cũng giống như hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao
động có hai thuộc tính đó là giá trị của hàng hóa sức lao động và Giá
trị sử dụng của hàng hóa sức lao động:
Giá trị của hàng hóa sức lao động do số lượng lao động xã
hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Sản xuất và
tái sản xuất ra sức lao động được thực hiện thông qua tiêu dùng cá
nhân của công nhân Bởi vậy giá trị sức lao động bằng giá trị toàn bộ
giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra và tái sản xuất sức lao
động, để duy trì đời sống công nhân làm thuê
Là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao
động được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
những tư liệu sinh hoạt và dịch vụ để duy trì cuộc sống của người
công nhân
Giá trị hàng hóa sức lao động gồm những bộ phận hợp thành sau
đây: Giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết nuôi sống người công
nhân; Giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết nuôi sống gia đình
người công nhân; Chi phí đào tạo
Khi xã hội càng phát triển, thì nhu cầu về lao động chất
lượng cao tăng lên, đồng thời nhu cầu tiêu dùng, dịch vụ của công
nhân cũng tăng lên theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Do đó, giá trị hàng hóa sức lao động có xu hướng tăng lên Mặt khác,
do năng suất lao động tăng lên, giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ
giảm xuống Vì vậy, giá trị của hàng hóa sức lao động chịu sự tác
động của hai xu hướng đối lập này
Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác
hàng hóa thông thường ở chỗ nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ở việc
đáp ứng nhu cầu người mua, do đó, công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản
Trong quá trình lao động để sản xuất hàng hóa nào đó, sức lao
động đã tạo ra một lượng giá trị mới (v + m) lớn hơn giá trị của bản thân
nó, phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động chính là giá trị thặng dư
Ý nghĩa thực tiễn của lý luận về hàng hóa sức lao động
Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác đã chỉ ra chìa khóa
giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản, đã trình bày về nội hàm
khái niệm sức lao động, luận giải rõ những điều kiện cần thiết để sức lao
động trở thành hàng hóa phổ biến, chỉ ra đặc thù của hàng hóa sức lao
động so với các hàng hóa khác thông qua các thuộc tính giá trị và giá trị sử
dụng của hàng hóa sức lao động
Do đó, Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác đã tạo căn cứ
khoa học cho nghiên cứu về điều kiện cần thiết của sự hình thành tư bản
với tư cách là quan hệ sản xuất phổ biến khi sản xuất hàng hóa đạt tới trình
độ nhất định, tạo cơ sở khoa học cho nhận thức bản chất và nguồn gốc của
giá trị thặng dư với tư cách là trình độ phát triển cao của giá trị hàng hóa
Việc tiếp tục nhận thức, vận dụng hợp lý lý luận hàng hóa sức lao
động của Mác vào phát triển thị trường lao động là một vấn đề quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Trong thời gian qua, việc phát triển thị trường lao động nước ta đã
thu được những thành quả nhất định, làm cơ sở cho việc hoàn thiện quan
hệ lao động, phát triển kinh tế - xã hội Nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề, trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần Chính sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, chính yêu cầu phát triển đồng bộ các loại thị trường khác nhau đã góp phần phân bổ hợp lý, nhanh chóng, có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế đã tạo điều kiện cho hàng hoá sức lao động
và thị trường lao động Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá XHCN, trong đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hoá TBCN Yếu tố cơ bản để phân biệt sản xuất hàng hoá TBCN với sản xuất hàng hoá theo định hướng XHCN là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hoá sức lao động Đây là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tốt đẹp hơn quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường TBCN
Nền kinh tế thị trường ở nước ta vận động và phát triển gắn liền với quá trình CNH, HĐH Vì vậy, khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao động cần phải quan tâm giải quyết vấn
đề nguồn cung lao động chất lượng cao cho quá trình CNH, HĐH Mặt khác, trong xu thế hội nhập quốc tếnền kinh tế thị trường ở các nước phát triển là hướng đến nền kinh tế tri thức Đây là nền kinh tế đòi hỏi lao động trí tuệ cao, vì vậy, người lao động phải biết nắm bắt và xử lý thông tin nhanh nhạy, đặc biệt là trong những ngành công nghệ mới Xu thế này của nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vẫn còn những giới hạn nhất định, chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể như: về giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động còn thấp làm hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hoá sức lao động còn bất cập, chưa bao hàm hết những yếu tốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người làm công ăn lương Hệ thống thông tin lao động, việc làm chưa được quản lý chặt chẽ Hệ thống giáo dục - đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1
Trang 2Câu 2 Phân tích và so sánh các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư tuyệt đối và tương đối Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Khái niệm giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức
lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt(ký hiệu là
m) C.Mác vạch ra: Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của tư bản quy
lại là ở chỗ tư bản chi phối được một số lượng lao động không công
nhất định của người khác
* Phân tích sản xuất giá trị thặng dư
Là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, trước đây
từng có nhận thức sai lầm cho rằng, giá trị thặng dư là phạm trù riêng
của sản xuất tư bản chủ nghĩa Thực ra, ngay cả sản xuất hàng hóa
nhỏ của nông dân và thợ thủ công trong xã hội tư bản cũng có thể
"không những tái sản xuất ra sức lao động của mình, mà còn tạo ra
giá trị thặng dư nữa" Ở đây, "người sản xuất đã tạo ra giá trị thặng
dư của chính mình nhờ chỗ anh ta là người sở hữu các tư liệu sản
xuất, nên lao động thặng dư của bản thân anh ta rơi vào tay anh ta "
Tuy nhiên, sản xuất giá trị thặng dư không phải là quy luật tuyệt đối
của sản xuất hàng hóa nhỏ Người tiểu nông và thợ thủ công cũng
luôn mong ước thu được giá trị thặng dư, nhưng nếu vì hoàn cảnh
khách quan (như bị thiên tai gây mất mùa hay khi gặp khó khăn trên
thị trường phải tiêu thụ hàng hóa với giá rẻ ) mà thu nhập của họ chỉ
đủ để tái sản xuất sức lao động, thậm chí chỉ được bữa rau bữa cháo
cầm hơi, họ vẫn cứ phải tiếp tục sản xuất "Đối với người nông dân
có một mảnh đất nhỏ, giới hạn kinh doanh, một mặt không phải là lợi
nhuận trung bình của tư bản, chừng nào bản thân anh ta là một nhà tư
bản nhỏ; và mặt khác, giới hạn đó cũng không phải là sự cần thiết
phải nộp địa tô, chừng nào người nông dân vẫn còn là kẻ sở hữu
ruộng đất Với tư cách là một nhà tư bản nhỏ, giới hạn tuyệt đối duy
nhất là tiền công mà anh ta tự trả cho mình, sau khi đã trừ các chi phí
theo đúng nghĩa của danh từ đó đi Chừng nào giá cả của sản phẩm
còn đem lại tiền công ấy cho anh ta thì anh ta vẫn sẽ còn canh tác
mảnh đất của mình" Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định: "Sản xuất
giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức
sản xuất này"
So sánh phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và tương đối
* Giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thăng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo
dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi năng
suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu
không thay đổi
Hiện nay, cần phải đấu tranh chống quan điểm tư sản phủ
nhận giá trị thặng dư tuyệt đối trong điều kiện thế giới hiện đại Bởi
vì, trong điều kiện sản xuất hiện đại, việc cường độ lao động biểu
hiện dưới hình thức mới là tăng cường độ lao động thần kinh thay thế
cho tăng cường độ lao động cơ bắp trước đây
* Giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút
ngắn thời gian lao động tất yếu để kéo dài thời gian lao động thặng
dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi
Rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị
sức lao động Muốn vậy, phải làm giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt
và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động của người công
nhân Điều đó chỉ diễn ra bằng cách tăng năng suất lao động trong
các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt hoặc các ngành sản xuất ra tư
liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Vận dụng học thuyết giá trị trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát huy mặt tích cực: Phát triển kinh tế hàng hóa làm cho
phân công và hiệp tác lao động xã hội ngày càng sâu sắc Mối liên hệ
giữa các ngành các vùng ngày càng chặt chẽ… từ đó sẽ xóa bỏ được
tính chất bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội
hóa sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế Đồng thời, sự tách
biệt về kinh tế đòi hỏi các chủ thể sản xuất kinh doanh phải năng
động sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ, hợp lý hóa sản xuất,
… làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển
Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa cũng có những khuyết tật như:
khủng hoảng kinh tế, phân hóa giàu nghèo, chạy theo lợi ích kinh tế
dẫn đến phá hủy tài nguyên môi trường…
* Nhận thức tính khách quan của các quy luật kinh tế
trong phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một mặt, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường thì sự tác động
của các quy luật kinh tế khách quan là tất yếu và phải được tôn trọng Tuy nhiên, những tác động của các quy luật kinh tế thị trường luôn
có tính hai mặt Vấn đề nhận thức để tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh lành mạnh nhất là môi trường
pháp lý Mặt khác, cần phải có những chính sách biện pháp để phù
hợp nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường
* Vận dụng quy luật giá trị thặng dư trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trước đây, do thịnh hành một quan điểm sai lầm, thành kiến đối lập một cách giản đơn chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, từ
đó đối lập chủ nghĩa xã hội với kinh tế thị trường, không thừa nhận kinh tế thị trường - trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá - do
đó, không có phạm trù giá trị và càng không có phạm trù giá trị thặng dư
Ngày nay, trải qua thực tiễn, chúng ta ngày càng nhận thức rõ rằng: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng" Trong lịch sử, từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá giản đơn là cả một quá trình lâu dài do phân công lao động xã hội diễn ra chậm chạp từng bước và sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất nhỏ
Như vậy, có thể khẳng định rằng, bằng con đường phát triển kinh
tế hàng hóa mà giai đoạn cao của nó là kinh tế thị trường chủ nghĩa tư bản
đã tạo ra một năng suất lao động cao là tiền kinh tế để thúc đẩy lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển hết sức nhanh chóng V.I.Lênin cũng
đã khẳng định rằng: Xét cho đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới Chủ nghĩa tư bản thắng chủ nghĩa phong kiến do tạo ra năng suất lao động cao Chủ nghĩa tư bản chỉ có thể bị đánh bại khi chủ nghĩa xã hội tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn so với chủ nghĩa tư bản Như vậy, sản xuất giá trị thặng dư là mục đích và động cơ hoạt động của từng nhà tư bản và toàn xã hội tư bản Vì thế, theo C.Mác: "sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất này" Trên tinh thần ấy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội X (2006): "Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức mới nhất của nhân loại Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước ở từng vùng, từng địa phương trong từng dự án kinh tế - xã hội
Câu 3: Trình bày và phân tích vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước (CNTBĐQNN) Nêu ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp hay dung hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền với sức mạnh của nhà nước
tư sản trong một cơ chế thông nhât, nhằm phục vụ trước hết lợi ích của các tổ chức độc quyền và duy trì sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa tư bản Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, vai trò của nhà nưởc tư sản đã có sự biến đổi Nhà nước trực tiếp can thiệp vào quả trình tái sản xuất xã hội làm cho nền kinh tế quốc dân vừa chịu sự tác động tự phát của quy luật thị trường, vừa chịu sự điều tiết của nhà nước Sự điều tiết này bao trùm tất cả các khâu sản xuất,
phân phối, lưu thông, tiêu dùng và được thực hiện chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
Vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước trong điều kiện của CNTBĐQNN được thể hiện trên các mặt sau đây:
- Mục đích điều tiết nền kinh tế của nhà nước tư sản:
Trước hết, điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản là một biểu hiện chủ yếu, đặc trưng và quan trọng nhất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân sâu xa mà trực tiếp
là những khuyết tật của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và nhằm mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội, tạo môi trường cho tư bản độc quyền tư nhân hoạt động có hiệu quả
2
Trang 3Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh và cơ chế độc quyền tư
nhân đều có những tác động tích cực và tiêu cực Bởi vậy khi nào và
ở đâu mà trình độ xã hội hoá LLSX đã vượt khỏi giới hạn điều tiết
của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải
được bổ sung bằng sự điều tiết của nhà nước Bản thân sự điều tiết
của nhà nước cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực Vì thế hệ thống
điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả 3 cơ chế: thị trường,
độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích
cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế Xét đến cùng và về bản
chất hệ thống điều tiết đó đều phục vụ CNTBĐQ
- Hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản hình thành
như một tổng thể những thiết chế và thể chế kinh tế của nhà nước
Một bộ máy kinh tế của nhà nước được tổ chức chặt chẽ với hệ thống
chính sách, công cụ có khả năng điều điều tiết sự vận động của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội Sự điều
tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức, bằng
các công cụ kinh tế và công cụ hành chính – pháp lý, bằng cả ưu đãi
và trừng phạt; bằng những giải pháp chiến lược dài hạn và bằng cả
những giải pháp ngắn hạn
- Công cụ điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản:
Các chính sách kinh tế của nhà nước tư sản là biểu hiện quan
trọng nhất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Chúng bao gồm
nhiều linh vực như chính sách chống chu kỳ, chống lạm phát, chính
sách về tăng trưởng kinh tế, chính sách xã hội, chính sách kinh tế đối
ngoại Các công cụ chủ yếu của nhà nước tư sản để điểu tiết kinh tế
và thực hiện các chính sách kinh tế cũng rất phong phú và được tổng
hợp thành 2 nhóm:
Thứ nhất: Nhà nước điều tiết kinh tế bằng các công cụ kinh tế vĩ
mô như: thuế, lãi suất, hối đoái, vay nợ trong và ngoài nước, Nhà nước
tư sản cũng sử dụng ngân sách để đầu tư kích “cầu” nền kinh tế khi cần
thiết đối với các lĩnh vực như: tiêu dùng, tạo việc làm mới, khắc phục
thảm họa thiên tai, môi trường,…
Thứ hai: Nhà nước điều tiết kinh tế bằng các công cụ phi kinh tế
như: định hướng ưu tiên trong chính sách quốc gia, khuyến khích lập
các quỹ từ thiện, cứu trợ xã hội, tạo thuận lợi cho các tổ chức phi
chính phủ hoạt động trong và ngoài nước,vv
Như vậy, CNTBĐQNN nảy sinh như một tất yếu kinh tế, đáp
ứng yêu cầu xã hội hoá cao độ của lực lượng sản xuất trong khuôn
khổ chế độ tư bản, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
CNTBĐQ nhưng vẫn vấp phải những giới hạn và mâu thuẫn mà chủ
nghĩa tư bản không thể vượt qua được Vì thế, về cơ bản điều tiết
kinh tế của nhà nước tư sản vẫn luôn luôn thể hiện bản chất giai cấp
của nó Lợi ích lớn nhất mà mọi hoạt động điều tiết kinh tế của nhà
nước tư sản là đều được định hướng ưu tiên hàng đầu cho các tập
đoàn tư bản độc quyền lớn , cho tầng lớp giàu có nhất trong xã hội tư
sản
Ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam:(mỗi người tự liên hệ
theo cách hiểu khác nhau về Vai trò của Nhà nước đối với điều tiết
kinh tế ở VN)
Vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ
yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn
xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa
Trước hết là quản lý của nhà nước bằng hệ thống pháp luật:
Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước , nó
tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các chủ thể kinh tế hoạt động nhằm phát
huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo
đảm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hệ
thống pháp luật bao trùm mọi hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm các
lĩnh vực về hợp đồng kinh tế, về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội,
bảo vệ môi trường, v.v
Nhà nước quản lý nền kinh tế không chỉ bằng các công cụ
pháp luật, kế hoạch hoá, mà còn bằng lực lượng kinh tế của nhà nước
(như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể) để chúng dần dần trở thành
nền tảng của nền kinh tế, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững Nhờ đó nhà nước ta có sức mạnh vật chất để điều
tiết, hướng dẫn nền kinh tế theo mục tiêu kinh tế - xã hội do kế hoạch
đặt ra
Nhà nước ta còn điều tiết kinh tế bằng kế hoạch hoá Cơ chế
vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kế
hoạch kết hợp với thị trường Kế hoạch và thị trường là hai công cụ quản lý của Nhà nước, chúng được kết hợp chặt chẽ với nhau Sự điều tiết của thị trường là cơ sở phân phối các nguồn lực, còn kế hoạch khắc phục tính tự phát của thị trường, làm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng của kế hoạch Kế hoạch nói ở đây được hoạch định trên cơ sở thị trường, bao quát tất cả các thành phần kinh tế, tất
cả các quan hệ kinh tế, kể cả quan hệ thị trường
Nhà nước ta còn điều tiết kinh tế bằng các chính sách tài
chính và tiền tệ Chính sách tài chính, đặc biệt là ngân sách nhà nước
có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và
xã hội Thông qua việc hình thành và sử dụng ngân sách nhà nước, Nhà nước điều chỉnh phân bố các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu
hạ tầng, bảo đảm công bằng trong phân phối và thực hiện các chức
năng của mình Chính sách tiền tệ, là một công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu, vai trò của nó trong điều tiết kinh tế vĩ mô ngày càng tăng
cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chính sách tiền tệ phải khống chế được lượng tiền phát hành
và tổng quy mô cho tín dụng Trong chính sách tiền tệ, lãi suất là
công cụ quan trọng, là phương tiện điều tiết cung, cầu tiền tệ Việc
thắt chặt hay nới lỏng cung ứng tiền tệ, kìm chế lạm phát thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế
Kết luận: Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; song vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay.
Câu 4: Các loại hình và hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đang có trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay Sự khác biệt giữa
sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân?
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề sở hữu, trước hết là sở hữu về tư liệu sản xuất luôn luôn giữ vị trí trung tâm Mỗi phương thức sản xuất đều được xây dựng trên cơ sở một loại hình sở hữu đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo, chi phối cả hệ 3
Trang 4thống kết cấu kinh tế - xã hội Ở nước ta hiện nay, để xây dựng và
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề sở
hữu cần phải được giải quyết sao cho vừa phù hợp với kinh tế thị
trường, thúc đẩy tăng năng suất lao động, phát huy được mọi nguồn
lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế; vừa phải giữ vững được
định hướng xã hội chủ nghĩa
Sở hữu hiểu theo cách chung nhất là một hình thức chiếm
hữu nhất định về của cải vật chất, trước hết là về tư liệu sản xuất,
được hình thành trong lịch sử, là quan hệ giữa người với người về
chiếm hữu của cải trong xã hội Khi nói đến sở hữu, cần phải xác định
được 03 tiêu chí cơ bản là: Chủ sở hữu là ai? Đối tượng của sở hữu
là cái gì? Quyền sở hữu gồm những quyền nào?
Hiện nay chúng ta có 03 loại hình sở hữu đó là: Sở hữu
công cộng (công hữu); sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp
- Loại hình sở hữu công cộng (công hữu) bao gồm các hình
thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể
+ Sở hữu toàn dân: bao gồm đất đai, rừng, biển, vùng trời,
tài nguyên trong lòng đất, các công trình công cộng… của quốc
gia Nhà nước đóng vai trò người đại diện chủ sở hữu những đối
tượng thuộc sở hữu toàn dân, có quyền và trách nhiệm tổ chức
quản lý tài sản quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn
và phát triển các nguồn tài sản đó Nhà nước giao quyền sử dụng
cho các cá nhân và tập thể người lao động thông qua các chính
sách và pháp luật Đối với những tài sản thuộc sở hữu toàn dân
không thể giao quyền sử dụng cho người khác, thì được Nhà nước
quản lý chủ yếu bằng pháp luật và những quy định chặt chẽ
+ Sở hữu nhà nước: bao gồm những tư liệu sản xuất, vốn
trong các doanh nghiệp nhà nước, ngân sách, dự trữ quốc gia do
Nhà nước nắm giữ Để bảo tồn và phát triển tài sản nhà nước, Nhà
nước có thể giao quyền sử dụng và quyền quản lý cho các cá nhân,
đơn vị tiến hành sản xuất - kinh doanh theo chế độ tự chủ, nhưng
vẫn nắm quyền chi phối, điều tiết các hoạt động của các đơn vị
kinh tế cơ sở (doanh nghiệp nhà nước)
+ Sở hữu tập thể: bao gồm các tài sản do quá trình tích lũy
chung tạo nên, hoặc phần tài sản được cho, biếu, tặng hoặc được
Nhà nước hỗ trợ Những đối tượng này có thể tồn tại dưới hình
thức hiện vật hoặc hình thức giá trị Điểm cần lưu ý là phần vốn mà
các thành viên đóng góp vào tập thể không thuộc sở hữu tập thể, nó
thuộc sở hữu tư nhân mà thành viên trong tập thể đó trao quyền
quản lý, sử dụng cho tập thể
- Loại hình sở hữu tư nhân (tư hữu) về tư liệu sản xuất bao
gồm các hình thức: sở hữu của người sản xuất cá thể, sở hữu của các
chủ thể tư nhân có quy mô sản xuất kinh doanh khác nhau (việc xác
định quy mô sản xuất - kinh doanh là lớn hay nhỏ và vừa tùy thuộc
vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể) Trong những hình thức sở hữu này, các
quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản… về cơ bản có
thể thuộc về một cá nhân hoặc một nhóm các chủ thể
- Loại hình sở hữu hỗn hợp có thể tồn tại dưới nhiều hình
thức: sở hữu của các chủ thể trong các doanh nghiệp cổ phần, các
công ty liên doanh, liên kết gồm vốn góp của Nhà nước, tư nhân,
tập thể
Trong sự nghiệp đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay,
chúng ta đã có những nhận thức mới về sở hữu được thể hiện
bởi các nội dung sau:
- Phân biệt giữa hai phạm trù: Sở hữu và chiếm hữu: Sở
hữu là quan hệ giữa người với người về chiếm hữu tư liệu sản xuất và
của cải được làm ra, sở hữu là hình thức xã hội của hành vi chiếm
hữu trong các hình thái kinh tế - xã hội nhất định Còn chiếm hữu là
quan hệ giữa người với giới tự nhiên, con người chiếm hữu những vật
thể của tự nhiên để tồn tại
giai cấp tư sản cố tình đồng nhất hai khái niệm này nhằm
biện minh rằng sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là tồn tại vĩnh viễn và
phù hợp với tự nhiên
- Các góc độ nhận thức và vận dụng khác nhau về quan hệ
sở hữu: (1) Ở góc độ chủ thể sở hữu: sở hữu chỉ ra rằng, của cải
trong xã hội thuộc về của ai? (2) Ở góc độ pháp lý: sở hữu phải
được thể chế hóa về mặt pháp lý, nó liên quan đến những vấn đề
thuộc kiến trúc thượng tầng (3) Ở góc độ kinh tế: sở hữu phải đạt
đến nội dung kinh tế, phải xác định được hệ thống lợi ích kinh tế gắn
liền với các chủ thể sở hữu Quyền sở hữu của các chủ thể phải được
thực hiện về mặt lợi ích kinh tế, nghĩa là chủ sở hữu phải nhận được lợi
ích kinh tế, nhận được thu nhập từ tài sản thuộc sở hữu của mình để
không ngừng tái sản xuất ra quan hệ sở hữu
- Nhận thức được sự biến đổi của đối tượng sở hữu:
Quan hệ sở hữu luôn luôn ở trạng thái vận động; đối tượng của sở
hữu cũng luôn luôn biến đổi, thích ứng và ngày càng được mở rộng, không chỉ sở hữu tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng, mà còn sở hữu vốn, tư bản Trong điều kiện nước ta hiện nay, đối tượng chủ yếu của sở hữu vẫn là những tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, tài nguyên, hầm mỏ, nhà máy, các kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, tiền vốn, các phương tiện kỹ thuật hiện đại… Vì thế, cần nắm vững những đối tượng sở hữu chủ yếu này để có phương thức quản lý, sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhằm tác động, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo những định hướng xã hội nhất định
- Có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh (quyền sử dụng) Chế độ sở hữu bao gồm các
quyền như quyền sở hữu, quyền quản lý kinh doanh, quyền điều
tiết, quyền thực hiện lợi ích kinh tế, v.v… Trong tập hợp các quyền
đó, có thể chia ra thành hai nhóm quyền quan trọng là quyền sở hữu và quản lý sản xuất - kinh doanh (quyền sử dụng là phần quan trọng nhất nằm trong quyền quản lý sản xuất - kinh doanh) Hai nhóm quyền này có thể thống nhất ở một chủ thể, cũng
có thể được phân chia, tách biệt một cách tương đối ở những chủ thể khác nhau Người có quyền sở hữu nhưng không trực tiếp quản
lý sử dụng, mà lại ủy quyền cho người khác quản lý, sử dụng theo mục đích, yêu cầu của mình
- Đa dạng hóa loại hình và hình thức sở hữu: Trong mỗi
phương thức sản xuất bao giờ cũng có một loại hình sở hữu đặc trưng giữ vai trò chủ đạo, đồng thời cũng còn nhiều hình thức sở hữu khác cùng tồn tại Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần vận dụng đa dạng loại hình, hình thức sở hữu, làm cho các hình thức sở hữu cụ thể phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất, nhờ đó mà khai thác được mọi tiềm năng của lực lượng sản
xuất trong nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp.
Sự khác nhau giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân:
* Về chủ sở hữu:
- Đối với sở hữu nhà nước: Dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về TLSX (vốn, ngân sách, dự trữ quốc gia…) mà nhà nước đại diện quản lý, nắm giữ
- Đối với sở hữu tư nhân: Thuộc về một cá nhân hoặc nhóm các chủ thể (chủ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất)
* Về đối tượng sở hữu:
- Đối với sở hữu nhà nước: là những tư liệu sản xuất quan trọng, thiết yếu liên quan đến an ninh quốc phòng, kinh tế trọng điểm
- Đối với sở hữu tư nhân: Thường là các TLSX nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế cá thể , tư bản tư nhân
* Về quy mô sở hữu: - Đối với sở hữu nhà nước: Đây là
loại hình sở hữu có quy mô rất lớn
- Đối với sở hữu tư nhân: Quy mô vừa và nhỏ
* cá nhân tổ chức thụ hưởng lợi ích: - Đối với sở hữu
nhà nước: Nhà nước
- Đối với sở hữu tư nhân: Chủ doanh nghiệp
* Biểu hiện bên ngoài:
- Đối với sở hữu nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia…
- Đối với sở hữu tư nhân: gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (các loại công ty: hữu hạn, cổ phần…)
* Vai trò trong nền kinh tế: - Đối với sở hữu nhà nước: Vai
trò chủ đạo
- Đối với sở hữu tư nhân: Giữ vai trò quan trọng, là động lực của nền kinh tế
4
Trang 5Câu 5: Đặc điểm của thành phần kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế Việt Nam Hãy cho biết việc khuyến khích phát triển
kinh tế tư nhân có dẫn đến nguy cơ tư bản chủ nghĩa hóa nền
kinh tế được không? Tại sao?
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất và lao động của chính người sản xuất hoặc sử
dụng lao động làm thuê Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu
chủ và kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể, tiểu chủ là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức
sử hữu nhỏ về tư liệu sản xuất Trong đó, kinh tế cá thể người sử hữu
TLSX đồng thời cũng là người lao động, với kinh tế tiể chủ người sử
hữu tuy vẫn là lao động chủ yếu nhưng có sử dụng lao động làm
thuê
Kinh tế tư bản tư nhân là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức
sử hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX và sử dụng sức lao động
làm thuê; tồn tại chủ yếu dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, kinh tế tư nhân là
lực lượng kinh tế quan trọng trong phát triển LLSX, thu hút được
nhiều vốn và lao động, tạo nhiều công ăn việc làm, phát triển ngành
nghề, ứng dụng công nghệ mới; có quy mô hợp lý, thích nghi, nhạy
bén với tình hình thị trường, có nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý
Kinh tế tư nhân là một trong những động lực phát triển của nền kinh tế
Trong nền kinh tế Việt Nam, kinh tế tư nhân có những đặc điểm
sau:
Thứ nhất, kinh tế tư nhân ở nước ta là một bộ phận của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, vì thế nó phát triển theo định hướng
XHCN Kinh tế tư nhân chịu sự tác động của các thành phần kinh tế nhà
nước, và sự điều tiết của chính sách kinh tế nhà nước nên nó phát triển
trong định hướng chiến lược của các chính sách kinh tế của Nhà nước và
của Đảng Tính chất thuần túy của kinh tế tư nhân không còn bởi nhiều
yếu tố của sản xuất của kinh tế tư nhân do khu vực kinh tế nhà nước cung
cấp hay giao quyền sử dụng, như: đất đai, năng lượng, giao thông vận tải
và các loại nguyên vất liệu chiến lược khác
Thứ hai, kinh tế tư nhân nước ta đại bộ phận mới được tái lập và
xây dựng từ sau đổi mới của Đảng, do sự hạn hẹp về vốn và khả năng
tích lữu tư bản, trình độ công nghệ lạc hậu nên phần lớn quy mô nhỏ và
vừa Các doanh nghiệp khu vực tư nhân nước ta chỉ ở trình độ kém hoạc
trung bình so với thế giới Nhiều doanh nghiệp vẫn áp dụng kỹ thuật
công nghệ sử dụng nhiều lao động Do mới được tạo lập và có thời gian
ngắn về tích lũy tư bản nên kinh tế tư nhân Việt Nam mới bước đầu tạo
lập cho riêng mình chỗ đứng, bản lĩnh, kinh nghiệm kinh doanh trong
nền kinh tế, tính cạnh tranh quốc tế chưa cao
Thứ ba, phạm vi ngành hoạt động của kinh tế tư nhân nước ta
rộng, có mặt hầu hết ở các ngành kinh tế, song tập trung chủ yếu ở ngành
thương mại, dịch vụ và ở các thành phố lớn Các doanh nghiệp trong khu
vực kinh tế tư nhân có sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng so với các
khu vực kinh tế khác, đặc biệt từ sau khi luật doanh nghiệp ra đời năm
2000
Việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân không có dẫn
đến nguy cơ tư bản chủ nghĩa hóa nền kinh tế vì những lý do sau
đây:
Thứ nhất, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội việc tồn
tại nhiều thành phần kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng là
một tất yếu khách quan Do lực lượng sản xuất phát triển không đồng
đều giữa các vùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng, từng ngành
nên tương ứng với những trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất
ấy, tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, dẫn đến tồn
tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau Đồng thời, xã hội cũ để lại
nhiều thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân dưới nhiều hình thức tổ
chức sản xuất – kinh doanh khác nhau, kinh tế cá thể của nông dân, thợ
thủ công và người làm thương nghiệp, dịch vụ nhỏ Không thể “xóa bỏ’
hay “chuyển đổi” các thành phần kinh tế một cách chủ quan duy ý
chí, mà phải căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
tính chất của từng ngành nghề và tùy thuộc vào khả năng tổ chức và
quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà từng bước hình thành
quan hệ sản xuất mới từ thấp đến cao, với sự đa dạng về các hình
thức sở hữu
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể được xây dựng dựa trên
một LLSX ở trình độ phát triển cao LLSX trong CNXH ở mức độ phát
triển cao hơn LLSX trong CNTB Trong khi, trình độ phát triển của LLSX của nước ta hiện nay ở mức tương đối thấp Khôi phục và khuyến khích sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân sẽ huy động huy động được một nguồn vốn lớn trong xã hội, tạo việc làm, tăng tổng sản phẩm
xã hội; tăng thu cho ngân sách nhà nước Kinh tế tư nhân là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, vừa thống nhất, vừa hợp tác vừa cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác, cùng phát triển,
có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau và cùng nằm trong một hệ thống phân công lao động xã hội
Từ khi đổi mới (1986) đến nay, sự đóng góp của khu vực kinh tế
tư nhân vào kinh tế là không nhỏ, góp phần xây dựng tiền đề về cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Khi LLSX xã hội thay đổi, phát triển đạt đến một trình độ cao sẽ kéo theo sự thay đổi của QHSX Điều này đã được thể hiện thông qua sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch
sử nhân loại Cùng với sự phát triển của LLSX, các hình thái kinh tế xã hội có sự phát triển từ thấp đến cao, từ cộng sản nguyên thủy – chiếm hữu nô lệ - phong kiến – tư bản chủ nghĩa – cộng sản chủ nghĩa Sự phát triển mạnh mẽ của LLSX trong HTKTXH TBCN đến một lúc nào đó tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi từ HTKTXH TBCN lên một HTKTXH mới là cộng sản chủy nghĩa mà giai đoạn đầu của HTKTXH CSCN là xã hội XHCN
Thứ ba, việc phát triển kinh tế tư nhân không có nguy cơ chệch
hướng xã hội chủ nghĩa vì chúng ta có một điều kiện tiền đến rất quan trong đảm bảo cho thành công của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
là chúng ta có một chính đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng CSVN Sự phát triển mạnh mẽ của LLSX đến trình độ cao chỉ là điều kiện cần để đi lên CNXH, đây chỉ là sự phát triển về lượng Tuy nhiên, để có thể chuyển sang một HTKTXH mới, xã hội XHCN cần phải có một cuộc cách mạng
để thay đổi căn bản về chất của một xã hội Chúng ta đã có một chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo và đã thực hiện thành công cuộc cách mạng tháng 8 lật đổ ách thống chị của phong kiến và chủ nghĩa thực dân,
đế quốc Nhà nước Việt Nam XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo nắm trong tay các công cụ thực thi quyền lực của một nhà nước nói chung như công an, quan đội, hệ thống luật pháp, nhà tù…, cùng với sự chuyên chính của nhà nước vô sản sẽ là một tiền đề quan trọng đảm bảo sự không chệch hướng trong quá trình xây dựng và phát triển lên CNXH
5
Trang 6Câu 6: Trình bày và phân tích về thành phần KTNN theo
tinh thần Đại hội XI Hiện nay KTNN có thực hiện vai trò chủ
đạo không? Tại sao?
Nước ta bắt đầu đổi mới nền kinh tế từ những năm đầu của
thập kỷ 90 thế kỷ XX đến nay đã gần 30 năm Trong đó vai trò chủ đạo
dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của KTNN luôn
được Đảng quan tâm chú trọng Theo Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được thông qua tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, có các thành phần kinh tế:
KTNN, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài Thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo.
KTNN là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước về tư
liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và tài sản nhà nước có
thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế như ngân sách nhà nước, các quỹ
bảo hiểm nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, cơ sở vật chất của quốc phòng,
an ninh, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phần vốn nhà nước góp vào các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, các tài nguyên quốc gia
và tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu như
đất đai, tài nguyên, rừng, biển, hầm mỏ… KTNN thực hiện phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và phân phối qua phúc
lợi xã hội, phúc lợi tập thể và qua hệ thống an sinh xã hội
- Vai trò chủ đạo của KTNN thể hiện ở các mặt: là lực lượng
vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế; là đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư cho vùng sâu vùng xa ; tạo
điều kiện hỗ trợ và liên kết các thành phần kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; KTNN cùng với kinh tế tập thể dần dần trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân KTNN phải phấn
đấu trở thành nguồn đóng góp chủ yếu vào GDP, vào ngân sách nhà
nước, là chỗ dựa vững chắc cho chế độ mới Doanh nghiệp nhà nước
giữ những vị trí then chốt, phải đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ, phải là tấm gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả
kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật để có thể thực sự trở thành
nòng cốt của KTNN
- Để xây dựng KTNN thực sự giữ được vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế, tạo sức mạnh vật chất cần thiết để nhà nước có thực lực
làm chức năng định hướng một cách hữu hiệu, KTNN cần tập trung
phát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội; ngân sách nhà nước; tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm,
những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ then chốt; một số doanh
nghiệp nhà nước và những cơ sở có quan hệ đặc biệt đối với quốc
phòng - an ninh… có quy mô thuộc loại vừa và lớn, công nghệ hiện
đại, kinh doanh có hiệu quả
+ Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần đẩy mạnh tái cấu trúc
doanh nghiệp nhà nước theo hướng: Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước; chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; giao, bán, khoán kinh doanh, sáp
nhập những doanh nghiệp nhà nước yếu kém mà Nhà nước không cần
nắm quyền sở hữu Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của
các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế như lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư
liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực
công ích , từng bước xây dựng các doanh nghiệp mang tầm khu vực và
toàn cầu;
Nghiên cứu và ban hành kịp thời các quy định về thực hiện
quyền chủ sở hữu, tách chức năng đó với chức năng quản lý sản xuất –
kinh doanh để doanh nghiệp có quyền chủ động trong hoạt động kinh
doanh; Đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp
công phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với
chủ thể là các đơn vị sự nghiệp công thuộc KTNN hoạt động không vì
mục đích lợi nhuận là chính (trường học, bệnh viện, giao thông công
cộng…), cần có chính sách, cơ chế riêng sao cho vừa bảo đảm mục
tiêu xã hội, vừa sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực xã hội
+ Đối với tài sản nhà nước: tăng cường công tác quản lý, sử
dụng có hiệu quả tài sản của Nhà nước Nâng cao hiệu quả phân phối,
sử dụng ngân sách nhà nước Trong phân phối ngân sách nhà nước cần
phải giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa chi thường xuyên
và chi đầu tư phát triển sao cho vừa thực hiện được nhiệm vụ trước
mắt, vừa đảm bảo giải quyết được những nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội lâu dài Triệt để thực hiện khoán chi ngân sách nhà nước theo
nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã
hội, tiến tới thực hiện quản lý chi ngân ngân sách theo kết quả đầu ra
Chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước phải theo quy hoạch, kế
hoạch, tránh đầu tư dàn trải, không có trọng tâm, trọng điểm, chậm đưa các công trình đã đầu tư vào sử dụng, đầu tư không đúng chỗ, gây lãng phí tiền của Nhà nước Thực hiện đấu thầu trong mua sắm tài sản công
Sử dụng một cách tiết kiệm tài sản công ở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội Quản lý và sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước…
- Hiện nay, KTNN vẫn thể hiện được vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bởi các lý do:
Thứ nhất, KTNN dựa trên chế độ công hữu (sở hữu nhà
nước) về tư liệu sản xuất, là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hoá của lực lượng sản xuất
Thứ hai, KTNN nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu,
xương sống của nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, bảo đảm cho nền kinh
tế phát triển theo hướng đã định
Thứ ba, KTNN là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn
định của nền kinh tế; là lựclượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển
Thứ tư, KTNN có thể tác động tới các thành phần kinh tế
khác không chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng con đường gián tiếp, thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa
Thứ năm, KTNN dẫn đầu trong việc ứng dụng khoa hoc –
công nghệ hiện đại, tiên tiến; do đó nó có nhịp độ phát triển nhanh, đóng góp phần lớn cho ngân sách nhà nước, và tự tích tụ để có thể không ngừng tái sản xuất mở rộng
Thứ sáu, KTNN là lực lượng nòng cốt hình thành các trung
tâm kinh tế, đô thị mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng sống còn, nhưng đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm…
6
Trang 7Câu 7: Các giải pháp thúc đẩy nền KTTT định hướng
XHCN ở nước ta theo tinh thần Đại hội XI của Đảng Hãy cho
biết giải pháp nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Trả lời:
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế tất yếu khách quan của
nền sản xuất lưu thông hàng hoá đã phát triển Nó ra đời trong tiến
trình phát triển của lịch sử, là sản phẩm của nhân loại Nền kinh tế
hàng hoá phát triển đến trình độ cao, thị trường được mở rộng, các
quan hệ thị trường tương đối hoàn thiện thì kinh tế thị trường xuất
hiện
Các giải pháp thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, như sau:
Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là
tiền đề quan trọng thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa phát triển Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là một hệ thống khung khổ pháp lý, các quy tắc; các chủ thể
tham gia và cơ chế vận hành Đây là một trong 3 khâu đột phá trong
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 của Đại
hội XI
Các nội dung cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa: Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi
luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các chủ thể
kinh tế; hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách (đặc biệt chính
sách đất đai, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ); hoàn thiện thể
chế về sở hữu, thể chế thị trường;ác lập cơ chế tham gia của doanh
nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức quốc tế trong quá trình
thực thi và điều chỉnh thể chế
Hai là, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình tổ
chức sản xuất kinh doanh
Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp nhà nước Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của
các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số
ngành và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Đổi mới tổ chức, cơ chế
hoạt động của các đơn vị dịch vụ công phù hợp kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà
nòng cốt là hợp tác xã “Tạo điều kiện phát triển các trang trại ở nông
thôn và hình thành hợp tác xã của các chủ trang trại”
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư
nhân ở hầu hết các ngành lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy
định của pháp luật Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang
trại, hộ sản xuất kinh doanh; đặc biệt trong nông nghiệp, nông thôn
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc
tế
Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài và các ngành
lĩnh vực kinh tế (nhất là lĩnh vực công nghệ cao) phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế đất nước
Ba là, hình thành và phát triển đồng bộ các yếu tố thị
trường và các loại thị trường
Tạo môi trường (môi trường pháp lý, môi trường kinh tế xã
hội) để các yếu tố của thị trường phát triển lành mạnh, hiệu quả Đổi
mới và hoàn thiện thể chế về giá, cạnh tranh, kiểm soát độc quyền,
giải quyết tranh chấp; xây dựng và thực hiện các quy định về trách
nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, đối với
bảo vệ môi trường
Phát triển đa dạng, đồng bộ và hiện đại các loại thị trường hàng
hóa, dịch vụ cả thị trường trong và ngoài nước (đặc biệt các thị trường
lớn như: thị trường Mỹ, thị trường Châu Âu, thị trường Đông Á và các
thị trường truyền thống-thị trường Nga) Từng bước mở cửa thị trường
dịch vụ ngân hàng theo cam kết quốc tế và yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động; tạo sự gắn kết cung cầu lao
động, đảm bảo lợi ích cho người lao động, đẩy manh xuất khẩu lao động
Phát triển thị trường bất động sản làm cho đất đai thực sự trở thành
nguồn vốn cho phát triển; thực hiện công khai minh bạch và tăng cường
tính pháp lý trên thị trường
Bốn là, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của Nhà
nước
- Cải cách bộ máy và cơ chế điều tiết nền kinh tế của NN
theo hướng tinh, gọn có hiệu quả
- Hoàn thiện và sử dụng có hiệu lực các công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước như: luật pháp; chính sách (tiền tệ, tài chính…); các công cụ khác (thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái…)
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát để điều chỉnh kịp thời sự vận hành của nền kinh tế khi cần thiết
“Nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị
-xã hội, các tổ chức -xã hội nghề nghiệp của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân và các tổ chức này tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát việc thực hiện luật pháp, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội, ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường”
Năm là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên môi trường
- Chuyển lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ, gắn với nền kinh tế tri thức ở các ngành các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Để thực hiện được cần: Phát triển mạnh khoa học, công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; có chính sách khuyến khích và
hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu và đổi mới công nghệ
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại
Cơ cấu kinh tế xây dựng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở khai thác lợi thế của các vùng miền, các ngành, các lĩnh vực đồng thời phải phù hợp với xu thế phát triển của thế giới Các cơ cấu kinh tế đó là: Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế để thúc đẩy phát triển nền KTTT định hướng
xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập KT quốc tế đó là: tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP Trong ngành công nghiệp tăng tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến; bố trí hợp lý phát triển công nghiệp trên các vùng, miền khai thác có hiệu quả các khu cụm công nghiệp hiện có; xây dựng các khu công nghệ cao; đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thứ cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy
mô lớn, hiệu quả cao
Trong nông nghiệp tăng tỷ trọng các hàng nông, lâm thuỷ sản
có giá trị gia tăng cao, khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi để hình thành các các vùng sản xuất hàng hoá tập trung (chuyên môn hóa cao), các khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn hình thành và phát triển các khu kinh tế tổng hợp ven biển, các khu kinh tế cửa khẩu và các khu kinh tế hợp tác biên giới
Sáu là, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề, điều kiện quan trọng để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung của biện pháp này là:
- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường (trong và ngoài nước)
- Khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực bên ngoài (như: vốn, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản lý,
tổ chức vận hành nền kinh tế thị trường hiện đại)
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Xây dựng và phát triển lợi thế quốc gia trong kinh tế đối ngoại thích nghi với sự thay đổi xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới
- Tìm kiếm và mở rộng các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác lớn
Như vậy, trong các giải pháp nêu trên, giải pháp: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính là một trong ba khâu đột phá chiến lược của giai đoạn này Bởi việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại được coi là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô./.
7
Trang 8Câu hỏi số 8: Phân tích những điều kiện cần thiết để đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
Từ Đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp
hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội Đảng ta xác định thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là
''Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện phân công mới
về lao động xã hội là quá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa để không
ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng'' Quan điểm này tiếp tục được
các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo củng cố và mở rộng
Vậy CNH là gì? CNH có thể được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế
nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp
làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu
giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn hơn
Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ xã hội
nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên
văn minh công nghiệp Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về
kinh tế mà bao gồm cả các biến đổi về văn hóa và xã hội từ trạng thái
nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức là trình độ văn minh cao
hơn
HĐH là quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội
mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT-XH, từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện
đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ KHCN, tạo ra
năng suất lao động xã hội cao.
Những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh CNH-HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay:
Một là, bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội
Đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT là một quá
trình phát triển lâu dài, việc bảo đảm sự ổn định chính trị, KT và XH
là rất cần thiết và là điều kiện tiên quyết để phát triển Thực chất của
việc bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội chính là đảm bảo
sự ổn định về môi trường đầu tư Chỉ có sự ổn định về chính trị, KT
và XH thì người dân trong nước mới yên tâm đầu tư sản xuất kinh
doanh và mới thu hút được đầu tư nước ngoài cho phát triển
Ổn định chính trị: thể hiện qua việc tính nhất quán, đồng bộ và
ổn định của đường lối, chính sách; có cơ sở khoa học trong việc hoạch
định và triển khai đường lối, chính sách CNH, HĐH
Ổn định về kinh tế: trước hết là ổn định thị trường, ổn định
giá cả, kiểm soát được lạm phát, môi trường cạnh tranh phải lãnh
mạnh
Ổn định về xã hội: trật tự an toàn xã hội phải được giữ vững
Hai là, tạo lập nguồn vốn đầu tư:
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình
sản xuất xã hội Trong quá trình CNH-HĐH của nước ta hiện nay
vốn càng có vai trò quan trọng hơn lúc nào hết, trong đó nguồn vốn
trong nước là cơ bản; nguồn vốn từ bên ngoài rất quan trọng nhất là
trong thời kỳ đầu CNH-HĐH Tạo lập nguồn vốn đầu tư thông qua
một số giải pháp cụ thể:
Giải quyết tốt quan hệ giữa đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng.
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, tăng nhanh
và nhiều phần đầu tư từ tư nhân và từ các doanh nghiệp Giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng trong nhân dân trên quan điểm
tiết kiệm là quốc sách Khơi đọng mọi nguồn vốn trong nước, đồng
thời thu hút nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài thông qua các hình thức:
liên doanh, hợp tác kinh doanh, thành lập các đặc khu kinh tế…
Quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong tất cả các
khâu: bố trí cơ cấu đầu tư, cấp phát và cho vay vốn, xây dựng cơ bản,
sử dụng vốn và tài sản
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất, kinh doanh Thực
hiện tiết kiệm, coi tiết kiệm là quốc sách trong các hoạt động kinh tế
- xã hội
Ba là, phát triển khoa học và công nghệ
Khoa học công nghệ phải là động lực, quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của toàn bộ quá trình CNH-HĐH gắn với phát triển KTTT Thực chất của CNH-HĐH là phát triển khoa học công nghệ Các vấn đề cần giải quyết:
Xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối, chủ trương CNH, HĐH gắn với KTTT đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh
Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học
Mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình phương hướng, nội dung, bước đi, biện pháp ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất và đời sống
Phát triển sâu rộng quan hệ liên kết kinh tế giữa khoa học với sản xuất, đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất thông qua các hình thức đa dạng và hiệu quả
Tổ chức lại các viện nghiên cứu và các trường Đại học theo hướng tập trung và kết hợp có hiệu quả các nguồn lực, gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo
Bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển KH - CN với những bước đi phù hợp
Bốn là, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò quyết định tốc độ và chất lượng
của sự phát triển KT - XH Để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần phải có trình độ dân trí cao, người lao động
có khả năng sáng tạo cao, ham muốn học hỏi một cách tự giác, có khả năng thích ứng và tính linh hoạt cao Muốn vậy, phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, phải ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, thực sự coi đó là quốc sách hàng
đầu Phải tiến hành cải cách toàn diện giáo dục và đào tạo, coi đó là nhiệm vụ cấp bách Xây dựng xã hội học tập dưới nhiều hình thức và
biện pháp như trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa, đào tạo mở v.v…, tạo cơ hội và
khuyến khích mọi người dân tham gia học tập Nâng cao chất lượng toàn diện cho người lao động về trình độ chuyên môn, kỹ năng và văn hóa nghề nghiệp, lao động Coi đổi mới quản lý chất lượng giáo
dục và đào tạo là khâu đột phá
Năm là, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
NN với phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân:
Phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của NN Các chính sách của NN phải bảo đảm định hướng có hiệu quả toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, kích thích được động lực của người dân và các doanh nghiệp Phải đặt toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tri thức của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Để hoàn thành tốt vai trò này, Đảng phải đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, NN phải nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với toàn bộ tiến trình CNH, HĐH đất nước
Sáu là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế : là
một một đòi hỏi thiết yếu trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Thông qua việc mở rộng này mà chúng ta có thể phát huy lợi thế của đất nước và tranh thủ vốn, khoa học và công nghệ từ bên ngoài để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát trển kinh tế tri thức./
8
Trang 9Câu 9: Nội dung chủ yếu của đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam?
Vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn
với phát triển kinh tế tri thức lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Tuy nhiên quá trình CNH, HĐH cũng
đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để vừa có thể đi tắt,
đón đầu, vừa giữ được tính bền vững trong từng bước phát triển Nhận thức
sâu sắc vấn đề đó trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2011-2020 và Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X
được Ðại hội XI thông qua đều rút ra bài học trong quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức phải bảo đảm mục tiêu phát triển bền
vững nền kinh tế
“CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với
công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao”1
CNH, HĐH của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh xu hướng
trên thế giới đang chuyển mạnh lên nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu
hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc với tốc độ cao đến đời sống kinh tế
-xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tình trạng của một
nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triển thiếu bền vững
Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế
hiện đại, Việt Nam phải có những giải pháp bứt phá Sự lựa chọn giải pháp
đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cấp thiết, xuất phát
từ các yêu cầu: yêu cầu sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu; yêu cầu bắt buộc
tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn; do tác động nhiều mặt của quá trình này đối với
đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Với các nội dung chủ yếu sau:
- Lựa chọn việc trang bị công nghệ tiên tiến, hiện đại cho các
ngành kinh tế quốc dân, đây là một nội dung cơ bản của CNH, cần được kết
hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, kết hợp phát triển
công nghệ nội sinh với phát triển công nghệ ngoại sinh bằng nhiều con
đường
Phải kết hợp xây dựng cơ cấu kỹ thuật, công nghệ nhiều tầng, nhiều
quy mô, nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ
truyền thống, coi trọng loại công nghệ có vốn đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh,
tạo nhiều việc làm với mạnh dạn bỏ qua một số giai đoạn
Phải sử dụng tri thức mới để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
như công nghệ thông tin, khai khoáng, luyện kim, hóa chất, chế biến nông
sản, năng lượng và đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thông
qua việc đưa tri thức sản xuất, kinh doanh, tri thức khoa học và công nghệ đến
với người nông dân; sử dụng công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt
hàng nông-lâm-thủy sản
Phải “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm
năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH Phát triển mạnh các
ngành và sản phẩm có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức Kết hợp việc
sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của
nhân loại”2
Phải nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh
tế - xã hội Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo
chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng
quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững3
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các
ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao
+ Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành kinh tế của một cơ
sở, một ngành, một vùng hay nền kinh tế, các bộ phận này quan hệ chặt chẽ
với nhau có tính hệ thống, tác động lẫn nhau để có thể phát triển và được thể
hiện bằng tỷ trọng của mỗi bộ phận trong tổng thể
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cấu trúc của các
yếu tố cấu thành cơ cấu đó theo một chủ đích và phương hướng nhất định
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu khách quan, trước hết nó phụ thuộc vào
trình độ phát triển của khoa học và công nghệ mà nền kinh tế đó đã đạt được
trong mỗi thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, nước đi sau có thể sử dụng lợi thế của
nước phát triển muộn để chủ động trong việc lựa chọn hướng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế phù hợp với khả năng, dựa vào đó mà phát triển khoa học và công
nghệ để thực hiện được phát triển rút ngắn
+ Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và hiện
đại Chuyển dịch CCKT là quá trình thay đổi cấu trúc của các yếu tố cấu
thành cơ cấu đó theo một chủ đích và phương hướng nhất định
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Đây là nội dung cốt lõi của
chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Phải xác định định hướng của
việc chuyển dịch, trong đó xác định rõ đặc trưng phát triển và vị trí của mỗi
ngành trong tổng thể kinh tế, trên cơ sở đó xác định các chính sách phát triển
1
2
3
Hai nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức có quan hệ ràng buộc, hỗ trợ và thúc đẩy nhau
Theo hướng này, từ nay đến năm 2020, phải xây dựng cho được
cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả4 Cụ thể là:
Ngành công nghiệp, tập trung nâng cao chất lượng và sức cạnh
tranh của các sản phẩm; Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp theo hướng tăng nhanh công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại
Ngành nông nghiệp: Phát triển nông nghiệp toàn diện, nâng cao
chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm; phát huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên và sinh thái của mỗi vùng, mỗi địa phương; phát triển sản xuất gắn với bố trí, chuyển đổi hiệu quả cơ cấu lao động trong nông nghiệp; đổi mới đào tạo nhân lực, đưa tri thức sản xuất, kinh doanh, tri thức khoa học công nghệ đến với người nông dân; sử dụng công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt hàng nông-lâm-thủy sản
Ngành dịch vụ cần được đẩy mạnh phát triển, nhất là các dịch vụ
có giá trị, hàm lượng tri thức cao, tiềm năng lớn, có lợi thế và có sức cạnh tranh, như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế; hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc
tế HĐH và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, dịch vụ phát triển phần mềm công nghệ thông tin
và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác Đẩy mạnh tham gia mạng phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước; xây dựng thương hiệu hàng hóa và dịch vụ Việt Nam
Phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ: Vùng kinh tế được xác định
là một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước Hiện nay, có 6 vùng kinh tế lớn (vùng miền núi phía Bắc, vùng Bắc bộ và đồng bằng sông Hồng, vùng khu 4 cũ và ven biển miền Trung, vùng Tây nguyên, vùng phía Nam và Đông Nam bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long) và 3 vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam)
Việc phát triển kinh tế vùng lãnh thổ phải trên cơ sở bảo đảm phát huy có hiệu quả lợi thế và các nguồn lực hiện có của mỗi vùng, thúc đẩy tăng trưởng sản lượng và tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế ngành và
cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Tạo cơ chế chính sách phù hợp để các vùng đều phát triển; thực hiện liên kết giữa các vùng và nội vùng Đồng thời, thúc đẩy phát triển các vùng trọng điểm, tạo động lực, tác động lan tỏa đến các vùng khác Tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng kinh tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Nam và Tây Bắc Coi trọng phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, cần kết hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với chuyển dịch
cơ cấu vùng, cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy cao độ, có hiệu quả các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững
4
9