Tiêu biểu là, đa hình xuất hiện khi có một cấu trúc cấp bậc của các lớp và chúng là liên quan với nhau bởi tính kế thừa.. Đa hình trong C++ nghĩa là một lời gọi tới một hàm thành viên s
Trang 1Đa hình trong C++
Đa hình (polymorphism) nghĩa là có nhiều hình thái khác nhau Tiêu biểu là, đa hình xuất hiện khi
có một cấu trúc cấp bậc của các lớp và chúng là liên quan với nhau bởi tính kế thừa
Đa hình trong C++ nghĩa là một lời gọi tới một hàm thành viên sẽ làm cho một hàm khác để được thực thi phụ thuộc vào kiểu của đối tượng mà triệu hồi hàm đó
Bạn xem xét ví dụ sau, ở đây lớp cơ sở đã được kế thừa bới hai lớp khác trong C++:
#include <iostream>
using namespace std;
class Shape
protected:
int width, height;
public:
Shape ( int a= , int b= )
{
width = a;
height = b;
}
int area()
{
cout << "Parent class area :" <<endl;
return ;
}
};
class Rectangle : public Shape {
public:
Rectangle ( int a= , int b= ): Shape ( , b) { }
int area ()
{
cout << "Rectangle class area :" <<endl;
return width * height);
Trang 2}
};
class Triangle : public Shape {
public:
Triangle ( int a= , int b= ): Shape ( , b) { }
int area ()
{
cout << "Triangle class area :" <<endl;
return width * height / 2 );
}
};
// Main function for the program
int main( )
{
Shape shape;
Rectangle rec( 10 , );
Triangle tri( 10 , );
// store the address of Rectangle
shape = &rec;
// call rectangle area
shape->area();
// store the address of Triangle
shape = &tri;
// call triangle area
shape->area();
return ;
}
Khi code trên được biên dịch và thực thi, nó cho kết quả sau:
Trang 3Parent class area
Lý do cho output không chính xác đó là vì: lời gọi của hàm area() đang được thiết lập một lần bởi
compiler như phiên bản được định nghĩa trong lớp cơ sở đó Điều này gọi là static resolution (sự phân giải tĩnh) của lời gọi hàm, hoặc static linkage (sự liên hợp tĩnh) – lời gọi hàm được sửa trước khi chương trình được thực thi Đôi khi nó cũng được gọi là early binding (hoặc static binding) bởi vì hàm area() được thiết lập trong khi biên dịch chương trình
Bây giờ, chúng ta sửa chương trình trên một chút và đặt trước khai báo của area() trong lớp Shape
với từ khóa virtual, khi đó nó trông như sau:
class Shape
protected:
int width, height;
public:
Shape ( int a= , int b= )
{
width = a;
height = b;
}
virtual int area()
{
cout << "Parent class area :" <<endl;
return ;
}
};
Sau khi sửa đổi, khi code của ví dụ trên được biên dịch và thực thi, nó sẽ cho kết quả sau:
Rectangle class area
Triangle class area
Lúc này, compiler nhìn vào các nội dung của con trỏ thay vì kiểu của nó Vì thế, khi địa chỉ của các đối tượng của lớp tri và rec được lưu giữ trong *shape, thì hàm area() tương ứng được gọi
Trang 4Như bạn có thể thấy, mỗi lớp con có một triển khai hàm area() riêng biệt Đây là cách chung mà Đa hình trong C++ được sử dụng Bạn có các lớp khác nhau với cùng một tên hàm, và có thể là cùng tham số, nhưng trình triển khai là khác nhau
Hàm virtual trong C++
Một hàm virtual là một hàm trong một lớp cơ sở mà được khai báo bởi sử dụng từ khóa virtual
trong C++ Việc định nghĩa trong một lớp cơ sở một hàm virtual, với phiên bản khác trong một lớp
kế thừa, báo cho compiler rằng: chúng ta không muốn Static Linkage cho hàm này
Những gì chúng ta làm là muốn việc lựa chon hàm để được gọi tại bất kỳ điểm nào đã cung cấp trong chương trình là dựa trên kiểu đối tượng, mà với đó nó được gọi Hoạt động này có thể gọi tắt
là dynamic linkage, hoặc late binding trong C++
Hàm pure virtual trong C++
Nó là có thể nếu bạn muốn bao một hàm virtual trong một lớp cơ sở, để mà nó có thể được tái định nghĩa trong một lớp kế thừa để phù hợp với các đối tượng của lớp đó, nhưng đó là định nghĩa không có ý nghĩa gì
Chúng ta có thể thay đổi hàm virtual là area() trong lớp cơ sở thành như sau:
class Shape
protected:
int width, height;
public:
Shape ( int a= , int b= )
{
width = a;
height = b;
}
// pure virtual function
virtual int area() ;
};
=0 nói cho compiler rằng hàm đó không có phần thân và hàm virtual trên sẽ được gọi là hàm pure