1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn hợp

27 503 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn hợp
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, Hàn Quốc được các nhà phân tích kinh tế trên thế giới thừa nhận là một điển hình của một nền kinh tế phát triển thành công, đặc biệt là từ khi xuất phát từ đặc thù địa lý, Hàn Quốc là một quốc gia không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên. Từ một nước công nghiệp nghèo, Hàn Quốc mau chóng trở thành một nước công nghiệp mới (NICs/NIEs). Đến tháng 10/1996, Hàn quốc được chính thức kết nạp làm thành viên thứ 25 của OECD. Trở thành một nước công nghiệp mới và là một trong 4 con rồng Châu Á, rồi tham gia vào OECD, Hàn quốc có một quá trình công nghiệp hóa được rút ngắn một cách tối đa (chỉ còn 30 năm) so với Mỹ, các nước EU và Nhật Bản do có được chiến lược công nghiệp hóa đúng đắn, tận dụng được lợi thế của “người đi sau”, tiếp thu được kinh nghiệm của cả ba nhóm nước phát triển trên. Trong 30 năm công nghiệp hóa của Hàn Quốc, giai đoạn 1980-1990 giữ một vai trò nổi bật, được các nhà kinh tế coi là giai đoạn “cất cánh lần thứ hai” của nền công nghiệp Hàn Quốc, giúp Hàn Quốc nhanh chóng hoàn thành quá trình công nghiệp hóa. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc được coi là cao nhất thế giới, bình quân từ 8%-10%/ năm. Đặc biệt là năm 1988 là năm có Thế Vận Hội Olympic lần thứ 24 tổ chức tại Seoul, tốc độ tăng trưởng của GDP đã lên tới mức kỷ lục, hơn 40% so với năm trước. Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước Châu Á có nhiều nét tương đồng về lịch sử, địa lý và văn hóa, cơ sở kinh tế xã hội. Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới (từ 1986) Việt Nam đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên nếu xét theo các tiêu chuẩn quốc tế thì Việt Nam vẫn là một quốc gia kém phát triển.

Trang 1

Phần II:Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn hợp.

1.Nội dung của chiến lược CNH hỗn hợp.

2.Quá trình thực hiện.

2.1.Phát triển công nghệ.

2.2.Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của những ngành CNcó kỹ thuật cao.

2.3.Khắc phục tình trạng tụt hậu của CN vừa và nhỏ.

2.4.Tự do hóa có điều tiết.

3 Những vấn đề đặt ra sau giai đoạn 1980-1990.

3.1.Khủng hoảng mô hình công nghiệp hóa.

3.2.Khủng hoảng mô hình phân phối thu nhập.

3.3.Sự suy thoái môi trường sinh thái.

3.4.Quá trình CNH của Hàn Quốc gắn liền với mức tiết kiệm thấp

và nợ nước ngoài cao.

Phần III:Một số kinh nghiệm với Việt Nam.

1.Hàn Quốc-Việt Nam những nét tương đồng.

2.Một số kinh nghiệm từ chiến lược CNH của Hàn Quốc với Việt Nam.

2.1.Liên tục nâng cấp cơ cấu công nghiệp theo các ngành có lợi thế so sánh hoặc có cơ hội phát triển.

2.2.Sử dụng các quan hệ kinh tế đối ngoại, trọng tâm là XK làm đòn bẩy cho quá trình CNH.

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, Hàn Quốc được các nhà phân tích kinh tế trên thếgiới thừa nhận là một điển hình của một nền kinh tế phát triển thành công, đặcbiệt là từ khi xuất phát từ đặc thù địa lý, Hàn Quốc là một quốc gia không được

ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên Từ một nước công nghiệp nghèo, Hàn Quốcmau chóng trở thành một nước công nghiệp mới (NICs/NIEs) Đến tháng10/1996, Hàn quốc được chính thức kết nạp làm thành viên thứ 25 của OECD

Trở thành một nước công nghiệp mới và là một trong 4 con rồng Châu Á,rồi tham gia vào OECD, Hàn quốc có một quá trình công nghiệp hóa được rútngắn một cách tối đa (chỉ còn 30 năm) so với Mỹ, các nước EU và Nhật Bản do

có được chiến lược công nghiệp hóa đúng đắn, tận dụng được lợi thế của

“người đi sau”, tiếp thu được kinh nghiệm của cả ba nhóm nước phát triển trên

Trong 30 năm công nghiệp hóa của Hàn Quốc, giai đoạn 1980-1990 giữmột vai trò nổi bật, được các nhà kinh tế coi là giai đoạn “cất cánh lần thứ hai”của nền công nghiệp Hàn Quốc, giúp Hàn Quốc nhanh chóng hoàn thành quátrình công nghiệp hóa Trong giai đoạn này, tốc độ tăng GDP của Hàn Quốcđược coi là cao nhất thế giới, bình quân từ 8%-10%/ năm Đặc biệt là năm 1988

là năm có Thế Vận Hội Olympic lần thứ 24 tổ chức tại Seoul, tốc độ tăngtrưởng của GDP đã lên tới mức kỷ lục, hơn 40% so với năm trước

Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước Châu Á có nhiều nét tương đồng vềlịch sử, địa lý và văn hóa, cơ sở kinh tế xã hội Sau khi thực hiện công cuộc đổimới (từ 1986) Việt Nam đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên nếu xét theocác tiêu chuẩn quốc tế thì Việt Nam vẫn là một quốc gia kém phát triển Để cóthể vươn lên đạt trình độ ngang hàng với các quốc gia trong khu vực, Việt Namtất yếu phải lựa chọn con đường CNH-HĐH Đây thực sự là một thách thức đối

với chúng ta Vì thế, người viết muốn tìm hiểu về “CNH ở Hàn Quốc giai đoạn 1980-1990” từ đó rút ra “Một số kinh nghiệm với Việt Nam”.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; bài tiểuluận được chia thành ba phần:

*Phần I:Tình hình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc

trước năm 1980

*Phần II:Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn

hợp

*Phần III:Một số kinh nghiệm từ chiến lược công

nghiệp hóa của Hàn Quốc đối với Việt Nam

Trang 3

Do trình độ có hạn, em mong nhận được sự chỉ bảo của cô giáo để bài tiểu luậnđược hoàn chỉnh hơn.Em xin chân thành cảm ơn.

PHẦN I: TÌNH HÌNH CNH Ở HÀN QUỐC TRƯỚC NĂM 1980:

1 CHIẾN LƯỢC CNH:

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình khác nhau

về chiến lược CNH, trong đó rõ nét nhất là các mô hình: Thay thế nhập khẩu(hướng nội); Xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế; Công nghiệp hóa hướng vềxuất khẩu (hướng ngoại) Ngoài ra còn có chiến lược phát triển hỗn hợp màthực chất là sự kết hợp (trung hòa) của cả hai hay cả ba loại chiến lược trên

Xét từ góc độ tăng trưởng kinh tế cơ sở lý luận của các loại chiến lượcphát triển trên đây đều dựa vào sự vận dụng ở các mức độ khác nhau “Quy luậtlợi thế so sánh” (Law of comparative advantage) do David Ricardo (1772-1823)-nhà kinh tế học người Anh đề xuất năm 1817 trong công trình nghiên cứunổi tiếng “Những nguyên tắc kinh tế chính trị và thuế” (Principles of PoliticalEconomy and Taxation) Sau đó trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, bằng thuyết

“Nguồn lực sản xuất vốn có” (Factor Endowments), hai nhà kinh tế học ThụyĐiển: Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã tiếp tục phát triển quy luật này bằngcách giải thích đầy đủ hơn về nguyên nhân và lợi ích của thương mại quốc tế.Theo quy luật này, các nước khác nhau đều có các lợi thế tương đối hay lợi thế

so sánh khác nhau về lao động, tài nguyên, vị trí địa lý và các nguồn lực tựnhiên-xã hội khác

Trong hai giai đoạn đầu của quá trình CNH (1950-1960 và 1970-1980),Hàn Quốc đã gặt hái được những thành công to lớn trong việc thực hiện chiếnlược CNH hướng về xuất khẩu (hướng ngoại) Chiến lược này, ngược hẳn vớichiến lược thay thế nhập khẩu, đã thể hiện được sự vận dụng quy luật lợi thế sosánh ở mức độ cao nhất và đặc biệt đề cao việc mở cửa nền kinh tế Nội dung

cơ bản của chiến lược này khẳng định những nước khác nhau có những lợi thế

so sánh khác nhau vì thế các nước cần “phụ thuộc” lẫn nhau trong quá trìnhphát triển để có thể trao đổi cho nhau các lợi thế so sánh đó thông qua các hoạtđộng Ngoại Thương, liên doanh liên kết cùng nhau đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh về một loại sản phẩm nào đó Thực tiễn quá trình CNH của HànQuốc đã chứng tỏ được tính đúng đắn của chiến lược này cũng như sự phù hợpcủa nó với xu thế phát triển của thời đại là quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới

và hợp tác vì sự phát triển chung của toàn nhân loại

Về thực chất, chiến lược này là quá trình điều chỉnh cơ cấu công nghiệp

từ chỗ chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo và hướng về xuấtkhẩu, mà cụ thể đó là việc áp dụng chính sách tỷ giá duy nhất tài trợ xuất khẩu,đơn giản hóa các thủ tục hải quan, tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà xuất khẩutrong việc nhập khẩu nhiên liệu thô cần thiết cho sản xuất công nghiệp, khuyếnkhích mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 4

2.THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ :

2.1.Thành tựu:

Nhờ việc áp dụng chiến lược này rất phù hợp với tiến trình tự do hóathương mại và đầu tư quốc tế nên ngay trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất(1962-1966) Hàn Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế

Thành tựu lớn nhất phải kể đến là trong giai đoạn này, nền móng cho sựthành công của CNH đã được tạo dựng

Tỷ trọng công nghiệp khai thác trong toàn bộ cơ cấu công nghiệp giảm từ34,8% năm 1956 xuống còn 23,9% năm 1966 Cũng tương tự như vậy, tỷ trọngngành dịch vụ đã tăng tư 44,7% lên 64,7% cùng thời gian đó Cơ cấu côngnghiệp chế tạo của Hàn Quốc đã thể hiện rõ sự tiến bộ đáng kể Phần của khuvực nông nghiệp trong nền kinh tế giảm xuống khá nhanh từ 37% GDP năm

1962 xuống còn 25% vào năm 1965

Hàn Quốc trong giai đoạn này bắt đầu tiến tới một nền kinh tế hiệu suấtbăng việc áp dụng ngày càng nhiều các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và trí thứckinh doanh: sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vật chất (tư bản và tài nguyên)

và vốn nhân lực Điều đó có nghĩa là tổng hiệu quả đầu ra đã tăng nhiều hơntổng hiệu quả phần tăng của đầu vào Nền kinh tế bắt đầu có tích lũy Chính yếu

tố hiệu suất của nền kinh tế cùng với sự tích lũy đã góp phần vào tăng trưởngđích thực của nền kinh tế hay còn gọi là tăng trưởng của kỹ thuật và công nghệ

2.2.Những hạn chế:

Tuy nhiên, tới nửa sau 1979, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu lộ ra một sốdấu hiệu trì trệ Ví dụ như năm 1979, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu quá trìnhCNH nhanh, XK giảm 4%, tốc độ tăng trưởng giảm 6,5% Đây là mức tăngtrưởng thấp nhất kể từ 1972

Chính sách phát triển công nghiệp bằng cách đẩy nhanh sự phát triển củacác tổ hợp lớn (conglomerates) làm cho phân phối kinh doanh trong giai cấp tưsản không đều Các doanh nghiệp lớn được lợi từ chính sách này nhiều hơn cácnhà kinh doanh vừa và nhỏ

Bên cạnh đó, do tốc độ lạm phát cao, các công ty và một số chủ hộ có lợilớn trong việc đầu cơ một số mặt hàng đặc biệt là bất động sản

Đi cùng với sự suy giảm về phát triển kinh tế, xã hội bắt đầu có nhữngcăng thẳng Sự phê phán các chính sách và cách điều hành kinh tế ngày một

Trang 5

tăng Kết cục là chính phủ Park Chung Hee sụp đổ và bản thân ông ta bị ám sát.Đây có thể coi là hậu quả tất yếu của những “điểm yếu” trong cơ cấu kinh tế và

sự can thiệp quá mức của bộ máy Nhà nước, không tôn trọng những quy luậtkinh tế khách quan Đồng thời đó cũng là hậu quả của những biến động kháchquan trong đời sống kinh tế thế giới như: buôn bán của thế giới vào thời điểmnày chậm, xu hướng bảo hộ mậu dịch ở các nước tư bản phát triển-thị trườngtiêu thụ chủ yếu sản phẩm của Hàn Quốc tăng, khủng hoảng dầu mỏ, giá dầutăng ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp sử dụng dầu mỏ làm nguyên liệu tất cả làm cho những vấn đề riêng của nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu lộ ra vàbuộc chính phủ mới của Tổng thống Chung Do Huan phải có những điều chỉnhtrong chiến lược CNH cho phù hợp với tình hình mới

PHẦN II: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CNH HỖN HỢP:

1) NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC CNH CỦA HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1990:

1980-Có thể gọi chiến lược CNH của Hàn Quốc trong thời kỳ này là chiến lược

“hỗn hợp” trong đó kết hợp một cách khéo léo quá trình CNH hướng nội vàhướng ngoại

Hàn Quốc chỉ cho phép NK những sản phẩm nếu sản xuất trong nướckhông mang lại hiệu quả kinh tế cao do không đủ sức cạnh tranh trên thị trườngthế giới hoặc là những sản phẩm thực sự cần thiết cho yêu cầu phát triển kinh tếđất nước và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân mà trong nước chưa sản xuất được,hoặc sản xuất được nhưng với chi phí cao hơn nhập từ bên ngoài Trường hợpngược lại đối với những sản phẩm mà các hãng trong nước có đủ khả năng đápứng được với chi phí thấp hơn so với nhập từ bên ngoài vào thì chính phủ kiênquyết đóng chặt cánh cửa biên giới, nhằm dành thị trường trong nước cho sảnxuất bản địa Chiến lược CNH hỗn hợp của chính phủ Hàn Quốc kể từ đầu thập

kỷ 80 đã cho phép khắc phục những nhược điểm của quá trình CNH hướng về

XK một cách thuần túy Đó là, việc xuất khẩu hàng nguyên vật liệu công nghiệpthường không có nhu cầu cao trên thế giới và giá hàng đó thấp, tăng ít hơn giáhàng công nghiệp chế tạo do đó tốc độ tăng trưởng của khu vực này không cao,ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế Hơnnữa sự phát triển của các ngàng Công nghiệp XK lại phụ thuộc quá lớn vào vốn

và công nghệ nước ngoài, sự lệ thuộc vào thị trường quốc tế có thể tăng mỗi khithị trường quốc tế xảy ra những biến động lớn Khi thực hiện chiến lược tăngtrưởng hướng về XK, Hàn Quốc có thể thu được những khoản thặng dư thươngmại lớn đối với các thị trường XK nhưng đồng thời lại phải chịu những thâmthủng khổng lồ kinh niên với những đối tác chính cung cấp công nghệ và vốn

Trang 6

Như vậy chiến lược CNH của Hàn Quốc trong thập kỷ 80 (hiểu theonghĩa rộng cũng chính là chiến lược hiện đại hóa) là một chiến lược phát triểnhỗn hợp có sự kết hợp đồng bộ cả chiến lược phát triển hướng nội và chiến lượcphát triển hướng ngoại theo mọi trình độ từ thấp đến cao, từ tuần tự đến nhảyvọt, trong đó ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp hướng ngoại để tranh thủđón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, đưa Hàn Quốc gia nhậpvào hàng ngũ các nước CN phát triển trên thế giới.

Với chiến lược CNH đúng đắn và phù hợp với tình hình mới này, HànQuốc đã thành công trong quá trình CNH, trở thành một nước CN mới ở Châu

Á Trong thập niên 80, kinh tế phương Tây vẫn tăng với tốc độ chậm hơn so vớithập niên 70 trong khi đó kinh tế của Hàn Quốc tuy đã phát triển chậm lại, songvẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao là 7,5%/ năm (so với 9,1% trong thập

kỷ 70) Những năm 70, Hàn Quốc vẫn còn ở vị trí 20-30 trong Bảng xếp hạngcác nước XK trên thế giới nhưng đến năm 1991, chỉ tính riêng kim ngạch xuấtkhẩu của Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan (trong đó Hàn Quốc là lớn nhất) đãđạt tới vị trí thứ hai trên thế giới (sau Nhật Bản) Đây là một thành tích đángkinh ngạc, chứng tỏ được tính đúng đắn của CNH của Hàn Quốc

MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CN CỦA HÀN QUỐC QUA TỪNG

Tỷ lệ CNchế tạotrong CN

Tỷ lệ CNN

và hóa chấttrong CNchế tạo

Tỷ lệ CN chế tạođóng góp vàotăng trưởng kinhtế

Sản phẩm chủyếu

-1981

máy móc,thiết bị CN,điện tử, tàubiển

Trang 7

Nguồn:Bộ Kế Hoạch Kinh Tế Hàn Quốc 1988.

2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CNH HỖN HỢP:

Những hoạt động nâng cấp CN thông qua phát triển các ngành có hàmlượng kỹ thuật cao, đặc biệt là các ngành vi điện tử của chính phủ Hàn Quốctrong giai đoạn 1980-1990 là những hoạt động góp phần đẩy xa hơn nữa, caohơn nữa sự phát triển của nền kinh tế Đây thực sự là những biện pháp làm chonền kinh tế Hàn Quốc “cất cánh lần thứ hai”

Việc Nhà Nước đẩy mạnh hoạt động của mình để tạo ra và mở rộng bộphận mới trong cơ cấu kinh tế là bước đi tất yếu nhằm đưa nền kinh tế tồn tạidựa vào xuất khẩu của Hàn Quốc thoát khỏi khó khăn do hầu hết các mặt hàngxuất khẩu của Hàn Quốc vào thời điểm này gặp phải chế độ bảo hộ mậu dịchgay gắt từ phía các nước tư bản phát triển và gặp phải sự cạnh tranh ngày càngtăng từ phía các nước NICs và các nước đang phát triển khác Mọi cố gắng củaHàn Quốc nhằm đa dạng hóa xuất khẩu đều gặp giới hạn và không có triểnvọng giải quyết vấn đề xuất khẩu lâu dài Để giải quyết căn bản vấn đề phức tạpnày và tạo tiềm năng xuất khẩu đáng kể cho tương lai, Hàn Quốc quyết định đivào các ngành CN có kỹ thuật cao

2.1 Phát triển công nghệ:

Muốn xây dựng các ngành CN có hàm lượng kỹ thuật cao, khâu then chốt

là phải có công nghệ tương ứng hiện đại Hàn Quốc đã sử dụng hai biện phápchủ yếu để giải quyết vấn đề vô cùng quan trọng này

Thứ nhất, Nhà Nước sử dụng biện pháp truyền thống, đó là nhập khẩu kỹ

thuật từ nước ngoài Song đặc trưng của hoạt động Nhà Nước vào thời kỳ nàytrong lĩnh vực nhập khẩu công nghệ là giảm bớt sự can thiệp của mình vào cáchoạt động dưới mọi hình thức Đối với loại hình nhập khẩu Licences, so với giaiđoạn trước, chính sách của Nhà Nước có nhiều thay đổi Giai đoạn đầu từ 1962-

1978, Nhà Nước đặt ra nhiều chuẩn mực, quy chế để hướng dẫn và giám sátnghiêm ngặt nội dung của việc đưa kỹ thuật nước ngoài vào sử dụng Ví dụ,trước đây các công ty chỉ có thể đưa kỹ thuật, công nghệ vào với điều kiện chiphí cho kỹ thuật thường xuyên dưới 3% tổng giá trị bán ra, chi phí cho mỗi

Trang 8

trường hợp phải dưới 10.000 USD và mọi đồ án đều phải xin phép chính phủ.

Do thiếu ngoại tệ, Nhà nước chỉ cho phép nhập khẩu kỹ thuật thật cần thiết màtrong nước không có Tuy nhiên từ tháng 4-1978, đặc biệt là từ những năm 80,việc nhập kỹ thuật được tự do hóa Việc tự do hóa này được chia làm nhiều giaiđoạn, cứ một đến hai năm lại được mở rộng thêm Từ tháng 7-1984 trở đi, các

xí nghiệp muốn nhập kỹ thuật chỉ phải gửi đồ án tới Bộ Tài Chính, trong vòng

20 ngày nếu không có ý kiến phản đối thì xí nghiệp đó có thể tự động nhập kỹthuật nói trên Cùng với quá trình tự do nhập khẩu Licences, chính phủ HànQuốc tự do hóa đầu tư trực tiếp để tăng nhập khẩu công nghệ (cả vốn lẫn kỹthuật) Từ tháng 9-1980 chính phủ bỏ bớt hạn chế đối với đầu tư trực tiếp, nớilỏng hạn chế về tỷ lệ tư bản nước ngoài đối với các ngành có hàm lượng kỹthuật cao, mở rộng diện các ngành cho phép đầu tư, giảm bớt mức quy định đầu

tư thấp nhất Mục tiêu chủ yếu của những điều chỉnh này là nhập được những

kỹ thuật cao từ nước ngoài Tới tháng 7-1984, luật về đầu tư trực tiếp của tư bảnnước ngoài lại được sửa đổi và tự do hóa thêm một bước nữa Từ tháng 4-1987,Nhà nước đã thay việc công bố các ngành được đầu tư (Positive List) bằng việcđăng danh sách số ngành không được đầu tư (Negative List) để mở rộng giớihạn đầu tư

BẢNG SO SÁNH TỰ DO HÓA NHẬP KHẨU KỸ THUẬT CỦA HÀN

QUỐC TỪ CUỐI THẬP KỶ 70 ĐẾN GIỮA THẬP KỶ 80

Giai đoạn 1

(4-1978)

Điều kiện cho phép tự động:

*Thanh toán trước chiếm 3 vạn USD

*Chi phí kỹ thuật thường xuyên dưới3%

*Thời hạn hợp đồng dưới 3 năm

Máy móc, đóng tàu, điệnmáy, điện tử, hóa chất

Giai đoạn 2

(4-1979)

Điều kiện cho phép tự động:

*Tiền thanh toán dưới 50 vạn USD

*Chi phí cho kỹ thuật dưới 10%

*Thời hạn hợp đồng 10 năm

Giai đoạn 3

(7-1980)

Điều kiện cho phép tự động:

*Chi phí kỹ thuật thường xuyên dưới

Tất cả các ngành

Trang 9

Mỹ, 46 từ Tây Âu Nhập khẩu các nhà máy thiết bị toàn bộ có sử dụng robot và

kỹ thuật vi điện tử cũng tăng Năm 1988, Hàn Quốc đã nhập tới 36 xí nghiệploại này, nhiều gấp 3 lần so với năm trước Đồng thời với các biện pháp nhậpkhẩu kỹ thuật, Nhà Nước còn triển khai nhiều biện pháp để hấp thụ kỹ thuậtcông nghệ, đặc biệt là xây dựng nhiều viện kỹ thuật chuyên ngành để thông tinđầy đủ cho các công ty tư nhân lựa chọn và mở rộng hệ thống giáo dục đào tạosau đại học để sử dụng tốt kỹ thuật tiên tiến

Thứ hai, nhằm giải quyết những vấn đề công nghệ cao Hàn Quốc mở

rộng nghiên cứu để tự túc các công nghệ hiện đại, giảm bớt khoảng cách vềtrình độ công nghệ với các nước tiên tiến Bắt đầu vào giai đoạn này, Nhà Nước

đã đưa ra một chương trình nghiên cứu khoa học dài hạn Các mục tiêu nghiêncứu chủ yếu cho tới năm 2000 là làm chủ kỹ thuật vi điện tử, kỹ thuật thông tin,hóa chất Ngoài ra , chương trình còn nghiên cứu áp dụng các loại vật liệu mới

và chế phẩm sinh học, mở rộng nghiên cứu biển, khoảng không vũ trụ, sinh thái

và bảo vệ sức khỏe Đi đôi với việc kế hoạch hóa nghiên cứu, Nhà Nước vàonăm 1981 đã quyết định sáp nhập 16 viện có quy mô nhỏ do các tổ chức khácnhau của chính phủ tài trợ thành 9 viện lớn đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộkhoa học công nghệ, Viện khoa học công nghệ cao cấp của Hàn Quốc (KoreaAdvanced Institute of Science and Technology: KAIST) là viện đứng đầu vớinhiệm vụ nghiên cứu và phát triển các dự án quốc gia Ngoài việc lập các việntrực thuộc, Nhà Nước còn khuyến khích thành lập các Viện nghiên cứu và pháttriển các công ty tư nhân thông qua thuế khuyến khích và giúp đỡ về tài chính.Tới 1985, 183 Viện nghiên cứu tư nhân đã được thành lập Để có đội ngũ cán

bộ phù hợp với nhiệm vụ nặng nề mới-nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển (khácvới nhiệm vụ ứng dụng và địa phương hóa kỹ thuật nhập khẩu), Nhà nước cònđặc biệt chú ý phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu Nhiệm vụ này đặt lên vaiViện khoa học cao cấp Hàn Quốc Viện này được thành lập từ 1972 Viện đượctrang bị các phương tiện hiện đại và chế độ trả lương cao để lôi cuốn các nhàbác học và kỹ sư tài năng nhất của Hàn Quốc ở nước ngoài về góp sức giảiquyết vấn đề này

Trang 10

2.2 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành CN kỹ thuật cao:

Một loại hoạt động đặc biệt quan trọng khác đối với việc phát triển cácngành CN có kỹ thuật cao là đẩy mạnh hoạt động đối ngoại để tìm thị trườngtiêu thụ các sản phẩm của các ngành này-một loại sản phẩm mà Hàn Quốc chưa

hề có ưu thế Nhiệm vụ đối ngoại của Nhà Nước vào giai đoạn này thực sự nặng

nề hơn so với thời kỳ trước Công tác đối ngoại không được xem như một mảngtách rời đối với hoạt động kinh tế chỉ vì mục tiêu chính trị mà như một công cụ

hỗ trợ cho phát triển kinh tế, cụ thể là mở rộng thị trường

Chính phủ Hàn Quốc quyết định mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của cácngành CN kỹ thuật cao là do:

*Nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu ở giai đoạn nàycàng đòi hỏi một thị trường lớn hơn để xuất và nhập khẩu Các công ty HànQuốc không chỉ có nhu cầu xuất khẩu sản phẩm của các ngành dùng nhiều laođộng như trước đây, mà ngày càng có nhu cầu mở rông xuất khẩu hàng điện tử,ô-tô, máy móc, hóa chất cao cấp Nhiều công ty lớn của Hàn Quốc không chỉ

có nhu cầu xuất khẩu các sản phẩm có dung lượng khoa học cao, mà còn cả XKcông nghệ của mình ra thị trường nước ngoài

*Nhu cầu XK ngày một lớn, song hàng hóa kỹ thuậtcao của Hàn Quốc vấp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới Sựcạnh tranh này không chỉ với các nước NICs khác ở sản phẩm dùng nhiều laođộng và một số mặt hàng mà còn cả với các công ty đa quốc gia hùng mạnh ởcác mặt hàng có kỹ thuật cao

*Sự lớn nhanh của các công ty Hàn Quốc cùng vớichính sách xuất khẩu bằng mọi giá của Hàn Quốc đã làm cho các nước tư bảnphát triển dâng cao hàng rào bảo hộ mậu dịch đối với hàng hóa của Hàn Quốcđồng thời cũng buộc Hàn Quốc phải khai phá thêm thị trường mới

*Ưu thế về lao động rẻ của Hàn Quốc đã cạn, rấtnhiều công ty của Hàn Quốc có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài (ở các nước có laođộng rẻ hơn là chính) Công việc này trước hết đòi hỏi phải xử lý tốt quan hệngoại giao, thu thập thông tin nhiều mặt của nước định đầu tư

Tất cả những nguyên nhân trên mang tính phổ biến và vượt khả năng giảiquyết của từng công ty, bởi vậy Nhà Nước phải đứng ra gánh vác Để có chínhsách ngoại giao làm tốt chức năng hỗ trợ các vấn đề kinh tế nói chung và vấn đềthị trường cho các sản phẩm kỹ thuật cao nói riêng, Hàn Quốc đã thay đổi hoặc

bổ sung các quan niệm mới cho chính sách ngoại giao kể từ nửa sau thập kỷ 80.Đối với các nước XHCN và Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc chủ chương chuyển từđối đầu sang đối thoại trên cơ sở cùng tồn tại hòa bình và hợp tác cùng có lợi.Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn đẩy nhanh việc bình thường hóa quan hệ với tất cảcác dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, mở rộng tới mức có thểquan hệ với các nước XHCN, tăng cường quan hệ với các nước đang phát triển

Trang 11

Có thể nói, đây là một bước đi tiến bộ của chính phủ Hàn Quốc, nhất là trongthời kỳ hàng rào ngăn cách giữa hai hệ thống kinh tế XHCN và TBCN còn lớn.Sau khi thực hiện chính sách đa dạng hóa quan hệ, Hàn Quốc đã mở rộng đượcthị trường tiêu thụ sản phẩm CN của mình Tới 1990, Hàn Quốc đã được nhiềunước XHCN, kể cả Liên Xô công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệkinh tế trong một thời gian ngắn đã đạt được những tiến bộ vượt bậc Hàn Quốckhông những mở rộng nhanh buôn bán mà còn mở rộng cả về đầu tư vào hầuhết các nước XHCN cũ.

2.3 Khắc phục tình trạng tụt hậu của CN vừa và nhỏ:

Trong hai giai đoạn đầu của quá trình CNH, Hàn Quốc chịu ảnh hưởngnhiều về phương pháp tổ chức quy mô xí nghiệp của Nhật Bản Đó là sự hìnhthahf và duy trì các tổ chức độc quyền hay còn gọi là các “chaebol” Cácchaebol của Hàn Quốc không chỉ là các công ty có quy mô lớn, kiểm soát nhiềungành kinh tế then chốt của Hàn Quốc, có tầm hoạt động khắp thế giới mà cònlàm chức năng phân phối, tái sử dụng năng lực sản xuất đối với hệ thống các xínghiệp nhỏ và vừa trong nước Vì thế, nền kinh tế của Hàn Quốc dược coi là

“nền kinh tế của các công ty lớn”.Có thể kể đến các công ty như SAMSUNG,LUCKY GOLDSTAR, LG, HUYNDAI, HYOSUNG Sự bành trướng của cáctập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc đã tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng giữacác ngành, các bộ phận công nghiệp có quy mô lớn và CN có quy mô vừa vànhỏ trong nước

Trước tình hình này, vào đầu thập kỷ 80, chính phủ đã tích cực triển khainhiều biện pháp để hỗ trợ công nghiệp vừa và nhỏ, góp phần cải thiện năngsuất, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý của bộ phận này Năm 1982 Nhà Nướcthông qua kế hoạch dài hạn 10 năm đẩy nhanh sự phát triển của CN vừa và nhỏ.Những mục tiêu cụ thể của kế hoạch 10 năm là đưa tổng giá trị của bộ phận CNvừa và nhỏ từ 33,4% vào năm 1982 lên 44,8% vào năm 1991, lao động trongkhu vực này tăng từ 47,7% lên 54,3%, phần đầu tư tăng từ 29,7% lên 43,7% Kếhoạch 10 năm đẩy nhanh phát triển công nghiệp vừa và nhỏ được thực hiện quacác biện pháp:

@Thứ nhất, năm 1982, Nhà Nước đưa ra các chương trình giúp đỡ về tài chính,

công nghệ và marketing cho các xí nghiệp được xem là có triển vọng (dù mộttriển vọng ở mức độ tối thiểu) Công việc hỗ trợ trên do các ngân hàng, các tổchức có chức năng đẩy nhanh kinh doanh nhỏ và các Viện nghiên cứu khácnhau đảm nhận

@Thứ hai, Nhà Nước hỗ trợ triển khai chương trình hiện đại hóa tập thể để

giúp cho các doanh nghiệp này vượt qua được hạn chế về quy mô và cùng triểnkhai nhiều hoạt động Chương trình này khuyến khích các doanh nghiệp cùng

Trang 12

sử dụng các loại phương tiện mới kể cả các phương tiện đắt tiền và thiết bịchống ô nhiễm Cách làm này không chỉ làm giảm giá thành sản phẩm mà cònnâng cao năng suất lao động Các công ty lựa chọn cách hoạt động chung đểnhận được nhiều sự giúp đỡ về tài chính từ các qũy đặc biệt.

@Thứ ba, Nhà nước kích thích phát triển công nghệ, đẩy nhanh hiện đại hóa

quản lý Hàng loạt dịch vụ mới đã được trao cho kinh doanh nhỏ Dịch vụ đẩynhanh kỹ thuật và hoàn thiện cũng như chương trình đào tạo kỹ thuật do Hiệphội đẩy nhanh phát triển CN vừa và nhỏ (SMIPE) đảm nhiệm Thông tin kỹthuật do Viện kinh tế công nghệ (KIET) đảm nhiệm Cả hai tổ chức này gánhvác việc giữ các doanh nghiệp CN vừa và nhỏ bắt kịp với tiến bộ kỹ thuật mới

và phát triển tiềm năng của họ

@Thứ tư, Nhà Nước đẩy mạnh sự hợp tác giữa các doanh nghiệp có quy mô

lớn và doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất phụkiện, các bộ phận chi tiết Chính phủ khuyến khích các công ty lớn ký hợp đồngdài hạn với các công ty nhỏ đang nhận được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật

và quản lý để cung cấp phụ kiện chi tiết có chất lượng cao Chính phủ tin tưởngrằng cách thiết lập mối quan hệ như vậy sẽ làm tăng nhanh hiệu quả của toànngành CN Thêm nữa, những lĩnh vực sản xuất nhất định giành cho kinh doanhnhỏ cũng được đặt trên cơ sở hiệu quả và ưu thế so sánh

@Thứ năm, Nhà Nước khuyến khích các đơn vị công nghiệp nhỏ tư nhân xây

dựng các hội hợp tác Các hội hợp tác này sẽ đảm bảo cho các thành viên cácloại dịch vụ khác nhau, kể cả marketing, mua bán và trong một số trường hợp

cả dịch vụ tiến hành các chương trình nghiên cứu và phát triển Nhà nước giànhtài trợ cho các Hiệp hội này Nhà nước còn ủng hộ những cố gắng kinh doanhtập thể của các hội bằng cách trao một phần quan trọng hợp đồng cung cấp chocác hội kinh doanh nhỏ

@Thứ sáu, nhiều biện pháp giúp đỡ khác cũng được bổ sung để đảm bảo phát

triển cân đối giữa thành thị và nông thôn Nhà nước còn định rõ các loại hình

CN ở nông thôn và các công ty tham gia vào các loại hình CN này sẽ nhận đượccác hình thức giúp đỡ khác nhau

Để đưa các chính sách vào đời sống dễ dàng hơn, Nhà nước còn cụ thểhóa chúng bằng cách công bố các Đạo luật sau:

*Luật cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ Luật này chỉ rõ mức độ kinh doanh như

thế nào gọi là kinh doanh vừa và nhỏ, khẳng định tinh thần ủng hộ tổ chức hoạtđộng kinh doanh vừa và nhỏ Luật này đồng thời khuyến khích đổi mới dâychuyền sản xuất sản phẩm

Trang 13

*Luật đẩy nhanh phát triển công nghiệp vừa và nhỏ (The Small and Medium

Industry Promotion Law) Luật này kích thích thành lập nhanh SMIPC (Hiệphội đẩy nhanh sự phát triển của CN vừa và nhỏ) Với mục đích ủng hộ việc hiệnđại hoá và các chương trình hợp tác cho khu vực CN vừa và nhỏ

*Luật đẩy nhanh sự phát triển có hệ thống của CN vừa và nhỏ Luật này

khuyến khích các đơn vị CN lớn ký nhiều hợp đồng phụ với các doanh nghiệpnhỏ, kích thích các hoạt động làm ăn trung thực giữa các công ty lớn và công tycung cấp phụ tùng linh kiện

*Luật thanh toán các sản phẩm do SMI cung cấp (The Law On Payment For

The Product Supplied From Small And Medium Industry) Luật này điều chỉnhcác hoạt động không đúng đắn khi có các hợp đồng thầu phụ, khuyến khíchđịnh kỳ thanh toán và thanh toán lãi suất mà các công ty lớn phải trả khi thanhtoán muộn cho các đơn vị công nghiệp vừa và nhỏ

Vậy là, cùng nhằm mục tiêu khắc phục những vấn để cản trở quá trìnhphát triển do quá khứ để lại cũng như xuất hiện trong hiện tại, Chính phủ HànQuốc đã triển khai tổng hợp các biện pháp kích thích sự phát triển của các đơn

vị CN vừa và nhỏ, chuẩn bị đón luồng gió mới của thị trường trong tương lai(thị trường mà nhiều nhà kinh tế dự đoán CN vừa và nhỏ dễ thích ứng hơn)

2.4.Tự do hóa có điều tiết:

Nếu như trong những năm 50, Hàn Quốc triệt để thực hiện chính sáchthay thế nhập khẩu mà thực chất là việc bảo hộ ở mức cao các ngành CN trongnước bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; đồng thời trợ cấp cho cácngành CN này với hy vọng phát triển chúng để thay thế cho hàng NK Tuynhiên chiến lược này đã tỏ ra không thích hợp vì nó đã không tận dụng đượcnhững lợi thế so sánh của đất nước mà còn tạo ra sự ỷ lại của các công ty và xínghiệp vào sự trợ cấp của Nhà Nước Chính phủ Hàn Quốc đã sớm nhận thứcđược điều này và đã chuyển dần từ chính sách thay thế NK sang chính sách tự

do hóa mậu dịch nhằm tạo động lực mới cho quá trình CNH

Về ngoại thương, trong giai đoạn 1980-1990, chính phủ Hàn Quốc đã đề

ra hai hoạt động cụ thể và rất có hiệu quả là tổ chức những “Hội nghị đẩy mạnhXK” được tổ chức hàng tháng và “ngày XK” được tổ chức mỗi năm một lần.Những hội nghị hàng tháng để đẩy mạnh XK có sự tham gia của các Bộ trưởngkinh tế, đại diện của ngành CN và thương mại Chính phủ cũng đồng thời thànhlập “Tổ chức xúc tiến thương mại Hàn Quốc” (Korean Trade PromotionCorporation) vào năm 1984 và cho phép Hiệp hội các nhà thương mại HànQuốc thu lệ phí 1% của tổng giá trị xuất khẩu để sử dụng vào các mục tiêu đẩymạnh XK hơn nữa Chính sách tự do hóa mậu dịch đã tạo điều kiện thuận lợi

Ngày đăng: 24/07/2013, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SO SÁNH TỰ DO HÓA NHẬP KHẨU KỸ THUẬT CỦA HÀN - Quá trình thực hiện chiến lược CNH hỗn hợp
BẢNG SO SÁNH TỰ DO HÓA NHẬP KHẨU KỸ THUẬT CỦA HÀN (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w