1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trong Hàu

53 268 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo nghiên cứu độc chất thuốc bảo vệ thực vật trong hàu, tác hại của adrin, HCN, DDT, kết quả phân tích được thực hiện tại Đại Học công nghiệp tp.hcm, từ đó đề xuất các giải pháp để giảm thiểu bớt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

- -

TP.HCM, tháng 10 năm 2017

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4

1 Nguyễn Trung Thanh 14102631 DHQLMT10A

Trang 3

Đặc biệt chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Xuân Tòng đã hướng dẫn

và giúp đỡ chúng em hoàn thành tốt báo cáo này

Sau khoảng hơn một tháng thực hiện, chúng em đã cố gắng hoàn thành tốt nhất những công việc đã đề ra, từ việc tìm hiểu, nghiên cứu cho đến việc viết hoàn chỉnh bài báo cáo Hơn thế nữa, trong quá trình làm việc nhóm chúng em đã có thêm cơ hội đã trao đổi thêm những kiến thức mới, hữu ích mà trước giờ nhóm chúng em chưa biết đến

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và viết báo cáo sẽ không tránh khỏi sai sót trong khi thực hiện Chúng em kính mong thầy chỉ dẫn, giúp đỡ chúng em để ngày càng hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình và thực hiện các báo cáo sau tốt hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ngày tháng năm

(GV ký và ghi rõ họ tên)

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH ẢNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3

1.1 Giới thiệu sơ lược về hàu 3

1.1.1 Đặc điểm, cấu tạo 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Tập tính sinh học 4

1.1.4 Thành phần hóa học trong thịt hàu 5

1.2 Hiện trạng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tại Long Sơn, Vũng Tàu 7

1.3 Sự tích tụ các chất ô nhiễm trong hàu 8

1.4 Ảnh hưởng của độc tố tích lũy trong hàu đến sức khỏe con người 8

1.4.1 Kim loại nặng 8

1.4.2 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật 11

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Nội dung nghiên cứu 16

2.4 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu 16

2.4.1 Mục đích và yêu cầu lấy mẫu phân tích 16

2.4.2 Các điều kiện cần của công việc lấy mẫu 17

2.4.3 Quá trình lấy mẫu 17

2.5 Quản lý và bảo quản mẫu phân tích 18

2.5.1 Các yêu cầu của quản lý mẫu 18

2.5.2 Các phương pháp bảo quản mẫu 18

Trang 6

2.6 Phương pháp bảo quản mẫu 19

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20

3.1 Giới thiệu các loại độc chất có trong hàu 20

3.1.1 Hexachlorocyclohexane (HCH) 20

3.1.2 Dichlorodiphenyltrichlorothane (DDT) và các chất chuyển hóa từ DDT (DDE, DDD) 22

3.1.3 Heptachlor 24

3.1.4 Aldrin (C12H8Cl6 ) 25

3.1.5 Dieldrin 25

3.1.6 Endrin 26

3.1.7 Endo – Sunfat (α- và β-endosulfan) 26

3.2 Kết quả phân tích 28

3.2 Thảo luận 34

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

4.1 Kết luận 35

4.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ LỤC 37

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Thành phần hoá học của thịt hàu theo kích cỡ nguyên liệu 6

Bảng 1 2 Một số kim loại nặng thường thấy trong hàu và những ảnh hưởng của chúng 9

Kết quả phân tích độc chất có trong hàu 29

Kết quả phân tích hàm lượng 𝛂 − 𝐇𝐂𝐇 30

Kết quả phân tích hàm lượng 𝛄 − 𝐇𝐂𝐇 31

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 1 Hàu Crassostrea iredalei 4

Hình 1 2 Nuôi hàu bè 7

Hình 1 3 Nuôi hàu bằng tấm phibro ximăng 8

Hình 3 1 Biểu đồ hàm lượng α-HCH có trong hào (ng/g) 31

Hình 3 2 Biểu đồ hàm lượng 𝛄 -HCH có trong hào(ng/g) 32

Hình 3 3 So sánh kết quả phân tích Heptaclor với TT 33/2015/BNNPTNN 32

Hình 3 4 So sánh kết quả phân tích Dieldrin với TT 33/2015/BNNPTNT 33

Hình 3 5 So sánh kết quả phân tích Aldrin với TT 33/2015/BNNPTNN 33

Hình 3 6 So sánh kết quả phân tích Endrin với TT 33/2015/BNNPTNN 34

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hàu là loài động vật nhuyễn thể thuộc nhóm thân mềm hai mảnh vỏ trong họ hàng nghêu, sò nhỏ sống ở bờ biển, ở các ghềnh đá ven bờ biển hay các cửa sông giàu chất dinh dưỡng, có chứa protein, glucid, chất béo, kẽm, magiê, canxi,… Chúng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái vì chúng lọc tạp chất từ nước và là nguồn thực phẩm cho cộng đồng dân cư ven biển và là một trong những thực phẩm bổ dưỡng cung cấp nhiều chất thiết yếu cho cơ thể và tốt cho sức khỏe

Ngành nuôi trồng hàu ở huyện Long Sơn, Vũng Tàu phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, những năm gần đây, do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp ở Vũng Tàu Tình trạng xả thải nước thải vượt quá QCVN ra các con sông, cùng với hoạt động phát triển nông nghiệp góp phần gia tăng

ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến hoạt động nuôi hàu ở đây Mặt khác, các chất ô nhiễm công nghiệp, sự tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong nước cùng với đặc tính sinh học khả năng hấp thu các chất ô nhiễm, kim loại nặng của hàu Sự tích tụ độc chất trong hàu sẽ gây ảnh hưởng xấu sức khỏe người tiêu dùng

Xuất phát từ những lý do trên, nhóm đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là Nghiên cứu sự tích tụ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong hàu và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người

2 Mục tiêu nghiên cứun

- Nghiên cứu sự tích tụ của độc tố trong hàu (cụ thể là các chất từ thuốc bảo vệ

thực vật)

- Đề xuất các biện pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu tác động của dư lượng thuốc

BVTV khi sử dụng thực phẩm hàu

3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: cũng cố thêm kiến thức về phưong pháp lấy mẫu, phân tích và

hiểu rõ thêm về tác hại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường nói

chung và trong con hàu nói riêng

Trang 11

- Ý nghĩa thực tiễn: dựa trên cơ sở khoa học nghiên cứu giúp chúng ta nhận thức rõ

hơn về tác hại của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường cũng như sức

khỏe con người

Trang 12

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu sơ lược về hàu

1.1.1 Đặc điểm, cấu tạo

Hàu có vỏ lớn, nặng, cá thể lớn vỏ dài trên 200mm, cao 120mm, nhưng tỷ lệ này không ổn định, vì hình dạng vỏ thay đổi rất lớn, thường vỏ có hình bầu dục hay hình tam giác

Hàu phân bố ở 107-124 độ kinh đông và trong phạm vi 15 - 40 độ, ở độ sâu từ tuyến hạ triều đến 7 m nước, độ muối từ 10 - 25 Hàu là loài có hai vỏ phát triển không đều, một vỏ chứa toàn bộ cơ thể, một vỏ còn lại biến thành nắp đậy Hàu có khả năng

tự bảo vệ nhờ vào vỏ, khi gặp kẻ thù chúng khép vỏ lại Kẻ thù chính của hàu là một

số loài sao biển và thân mềm chân bụng Đặc biệt, chúng còn có khả năng chống lại các dị vật (cát, sỏi…), khi dị vật rơi vào cơ thể màng áo sẽ tiết ra chất xà cừ bao quanh lấy dị vật

- Giống hàu Crassostrea

- Loài hàu: Crassostrea iredalei

- Tên tiếng Anh: Oyster

Trang 13

Hình 1 1 Hàu Crassostrea iredalei

1.1.3 Tập tính sinh học

a Giai đoạn ấu trùng

Thức ăn của ấu trùng bao gồm vi khuẩn, sinh vật nhỏ, tảo Silic (Criptomonas, Platymonas,) hoặc trùng roi có kích thước 10µm hoặc nhỏ hơn Ấu trùng cũng có thể

sử dụng vật chất hòa tan trong nước và những hạt vật chất hữu cơ (detritus) Giai đoạn trưởng thành thức ăn chủ yếu là thực vật phù du và mùn bã hữu cơ Các loài tảo thường gặp là các loài tảo Silic như: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula, Nitzschia, Thalassiothrix, Thalassionema…(Trương Quốc Phú, 1999)

b Giai đoạn trưởng thành

Thức ăn của hàu trưởng thành: ăn thực vật phù du, mùn bã hữu cơ, một số tảo như: Melosira, Coscinodiscus, Cyclotella, Skeletonema, Navicula, Nitzschia, Thalassiothrix, Thalassionema hàu là loài ăn lọc mạnh Trong mô hình nuôi tôm thân thiện với môi trường ở các nước Đông Nam Á, người ta sử dụng chúng là một trong những đối tượng chính trong vai trò lọc sinh học, giúp làm sạch môi trường trong ao lắng chứa nước

c Phương thức bắt mồi

Hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp nhờ vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp, nước có mang theo thức ăn đi qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ dính vào các tiêm mao trên bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao Hạt thức ăn kích cỡ thích hợp (nhỏ) sẽ bị dính vào các dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viên

Trang 14

sau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài

Mặc dù, hàu bắt mồi thụ động nhưng với cách bắt mồi này chúng có thể chọn lọc theo kích thước của hạt thức ăn Quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ 1 xảy ra trên bề mặt mang: lần thứ 2 xảy ra trên mương vận chuyển: lần thứ 3 xảy ra trên xúc biện: lần thứ 4 xảy ra tại mang nang chọn lọc thức ăn Thức

ăn sau khi được chọn lọc bởi mang nang chọn lọc được đưa trở lại dạ dày đề tiêu hóa Hạt thức ăn không thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hàu là thủy triều, lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối )

Khi triều lên cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao Khi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối ) trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao và khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp

d Phương thức sinh sản

Tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau Nhóm Crassostrea và Saccostrea thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra trong nước Đối với nhóm Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu trùng diễn ra bên trong xoang màng áo của cá thể mẹ đến giai đoạn diện bàn hoặc muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ) Hàu cong (huitre creuse) thuộc loại đẻ trứng và hàu phẳng (huitre plate) thuộc loại đẻ con Dưới mặt trời mùa hè, con hàu cong chứa đầy giao tử phun vào nước biển Sự kết hợp giữa giao tử đực và cái tạo thành những trứng cực bé trôi theo dòng nước Mỗi con hàu mẹ sinh sản được mỗi kỳ khoảng chừng một triệu trứng

1.1.4 Thành phần hóa học trong thịt hàu

Thành phần hoá học của thịt hàu bao gồm: acid béo, acid amin, protein, lipid, glucid, khoáng chất, vitamin, carotenoid…Thành phần hoá học của chúng thường khác nhau theo

Trang 15

giống loài hoặc trong cùng một loài, cùng môi trường sống nhưng kích cỡ và khối lượng

của hàu khác nhau thì thành phần hoá học cũng khác nhau

Bảng 1 1 Thành phần hoá học của thịt hàu theo kích cỡ nguyên liệu

Qua các bảng phân tích về thành phần hoá học của hàu cùng với một số nhuyễn thể khác cho thấy hàu là loại thực phẩm ngon, cao cấp ở biển với hương vị đặc biệt và

có giá trị dinh dưỡng cao, được coi là “thực phẩm - thuốc” bởi thịt hàu có tính biệt dược cường tráng, có tính phòng và chữa một số bệnh, có công dụng tư âm, dưỡng huyết, bổ ngũ tạng, các bệnh suy nhược, giải độc, đặc biệt tốt cho bệnh nhân bị ung thư

đã được hoá và xạ trị liệu Với thành phần giàu protein, acid amin và các acid béo

…Đặc biệt, các acid béo có vai trò quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa trong

cơ thể Nó là tiền các chất để phân giải và tổng hợp các chất cần thiết khác (Florkin $ Mason (1962), Davies D.D (1964), Doby (1965)) Nó tham gia vào việc hình thành một

số sắc tố, ổn định thành mạch, giảm được các triệu chứng bệnh tật Các acid béo oleic

và α-lioleic có thể giúp cơ thể chống lại di căn ung thư vú, nhất là acid béo một nối đôi Những nghiên cứu mới cho thấy vai trò cao của các acid béo không no, đặc biệt là w3

và w6 có khả năng điều trị bệnh tim mạch và cao huyết áp, kìm hãm cholesterol, chống đông làm tắc máu

Ngoài ra, trong hàu còn chứa các chất khác như: vitamin, các nguyên tố vi lượng cần thiết: Cu, Zn, Fe, Mn, Se…đặc biệt là Zn (mỗi con hàu cỡ trung bình chứa 13mg Zn), carotenoid (tương đương với một củ cà rốt) và theo kết quả nghiên cứu thì hàm lượng iod trong hàu so với sữa bò và lòng trắng trứng cao gấp 200 lần, cùng với các thành phần sinh hoá khác Điều này cho thấy, hàu là loài hải sản quý cần được nhà nước quan tâm đầu tư từ khâu mở rộng vùng nuôi đến quá trình chế biến nhằm tạo ra

Trang 16

các sản phẩm từ hàu có giá trị dinh dưỡng cao góp phần giải quyết đầu ra cho ngư dân nuôi hàu và tăng thu nhập cho người dân

1.2 Hiện trạng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tại Long Sơn, Vũng Tàu

Hiện trạng nuôi trồng thủy sản Long Sơn có tiềm năng khá lớn Toàn xã có diện tích đất nuôi trồng thủy sản kể cả đất mặt nước là 2955 ha Hiện nay trên địa bàn xã có khoảng 1.365 hộ nuôi trồng thủy sản trong đó nuôi hàu là 714 hộ với diện tích là 7,73

ha

Nghề nuôi hàu của xã đã hình thành từ nhiều năm qua, hình thức nuôi chủ yếu là nuôi giàn, nuôi bè và nuôi lồng Trong đó, hình thức nuôi giàn có nhiều ưu thế do phù hợp với điều kiện của ngư dân do vốn đầu tư ít, kĩ thuật nuôi đơn giản mang lại hiệu quả kinh tế cao Nuôi bè dễ quản lý, dễ chăm sóc, cho hiệu quả kinh tế cao nhưng chi phí đầu tư cao hơn nuôi giàn Nuôi lồng tốc độ tăng trưởng của hàu nhanh, cho năng suất cao nhưng chi phí đầu tư cao nhất so với các hình thức khác

Được thả nuôi ở vùng bãi triều, cửa sông ven biển nơi có nguồn thức ăn phong phú, có dòng chảy nhẹ, ít sóng gió, ít thuyền bè qua lại Giống hàu được lấy từ tự nhiên dựa vào đặc tính sống bám của hàu Tiêu chuẩn của vật bám lấy giống là phải sạch, không mùi vị, không độc, có độ cứng và độ ráp nhất định để hàu dễ bám Vật bám có thể là vỏ hàu (kích cỡ 5 x 10 cm), tấm phibro ximăng (20 x 30 cm hoặc 20 x 40cm), vỏ lốp xe (15 x 25 cm), gạch ống, ngói

Hình 1 2 Nuôi hàu bè

Trang 17

Trong toàn xã các hộ dân chủ yếu dùng tấm phibro ximăng làm vật bám Mỗi năm

có 2 vụ lấy giống Vụ chính từ tháng 4 – 5 (tháng 3 – 4 âm lịch), vụ phụ từ tháng 9 –

10 (tháng 8 – 9 âm lịch) Thời gian thu hoạch hàu từ 12 – 15 tháng Diện tích nuôi hàu của các hộ dao động khá lớn, bình quân diện tích nuôi của mỗi hộ là từ 1000 – 5000 m2 Ngoài ra có những hộ nuôi hào với diện tích nhỏ hơn từ 200 – 700 m2 và cá

Hình 1 3 Nuôi hàu bằng tấm phibro ximăng 1.3 Sự tích tụ các chất ô nhiễm trong hàu

Do hàu sống ở bờ biển, ở các ghềnh đá ven bờ biển hay các cửa sông, sống bám vào một giá thể như bám vào đá thành tảng, các rạn đá, móng cầu, ăn sinh vật phù du

và các sinh vật trong bùn, cát, nước biển nên khó tránh khỏi tình trạng bị ô nhiễm Ngoài ra, việc sống trong môi trường xung quanh có tác động của con người lên lượng các chất có trong hàu cũng có những biến đổi lớn do ảnh hưởng từ môi trường sống, vật dụng bám vào, hoặc ảnh hưởng từ các hoạt động sinh hoạt của người dân

1.4 Ảnh hưởng của độc tố tích lũy trong hàu đến sức khỏe con người

1.4.1 Kim loại nặng

Trang 18

Bảng 1 2 Một số kim loại nặng thường thấy trong hàu và những ảnh hưởng của

chúng

nặng

Nồng độ cho phép (*)(mg/l)

Tác động có hại

- Dư thừa kẽm: Ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, sự nhạy cảm, sự sinh sản, hệ thần kinh, gây ung thư

- Thiếu hụt kẽm gây ra các triệu chứng: mù màu, viêm da, bệnh gan, liệt dương, teo tinh hoàn,…

- Khi thiếu hụt hay dư thừa đồng đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe vì đồng cần thiết trong việc sử dụng sắt

- Nếu sử dụng 1gCu/1kg thể trọng sẽ gây

- Gây rối loạn chức năng thận nếu tập trung Cd trong thận lên trên 200mg/kg trọng lượng tươi

4 Thủy ngân (Hg) 0,001

Khi nhiễm độc Hg sẽ làm cho chân tay bị run, suy giảm trí nhớ, mất khả năng tập trung,

mờ mắt, mắc các chứng bênh về thận, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và thai nhi,…

Trang 19

5 Niken (Ni) 0,02

- Ngộ độc niken cũng như các hợp chất của

nó sẽ gây đau đầu tức ngực, ho, khó thở, cực kỳ mệt mỏi tổn thương tim mạch-hệ

hô hấp, suy thận,…

- Ngoài ra với người có da nhạy cảm có thể

bị dị ứng Ni làm cho da bị ngứa, đỏ, xuất hiện mụn nước rất khó điều trị

- Khi tiếp xúc với chì làm cho mắt, cổ họng, và mũi đau rát Nhiễm độc chì gây nhức đầu, cáu kỉnh, giảm trí nhớ, mất ngủ, ăn không ngon, sụt cân, buồn nôn, đau bụng, vận động khó khăn, bị chuột rút, tăng nguy cơ cao huyết áp, về lâu dài

sẽ gây các bệnh về thận, tổn hại não, thiếu máu, ảnh hưởng đến sinh sản và thai nhi,…

- Cr được xem là nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể nên nếu thiếu hụt Cr sẽ gây bệnh “thiếu hụt crom”

- Hợp chất Cr(VI) rất độc: nếu sử dụng một lượng khoảng nửa thìa trà thì sẽ gây tử vong ngay Khi nhiễm đôc Cr(VI) sẽ gây tổn thương mắt, ung thư, đột biến gen,…

Mn rất quan trọng đối với cơ thể, mỗi ngày mỗi người cần khoảng 2-5mg Mn Tuy nhiên ngộ độc Mn vẫn có thể xảy ra gây rối loạn hoạt động thần kinh với biểu hiện rung giật như bệnh Parkinson

Trang 20

1.4.2 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

1.4.2.1 Hexacloxyclohexan(HCH)

Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý, hóa học

HCH là sản phẩm của phản ứng clo hoá benzene dưới tác dụng của tia tử ngoại, bền với ánh sáng, nhiệt độ, không khí và với axit ma ̣nh, nhưng khi tác du ̣ng với kiềm hoă ̣c bi ̣ đun nóng với nước thì nó bi ̣ phân huỷ thành triclobenzen và giải phóng HCL

Công thức phân tử là C6H6Cl6 và có 8 đồng phân cấu hình Trong đó các đồng phân α-HCH, β-HCH, γ-HCH, δ-HCH có tỷ lê ̣ cao nhất trong hỗn hợp kĩ thuâ ̣t và tìm thấy nhiều trong môi trườ ng HCH là chất khó phân huỷ, thời gian bán phân huỷ trong môi trường là

2 năm

Tác hại

- γ - HCH làm thoái hoá chức năng gan, câ ̣t, gây ung thư

- Triệu chứng ngô ̣ đô ̣c bao gồm: đau đầu, choáng, sốt, buồn nôn, đau da ̣ dày, tiêu chảy, rối loa ̣n tâm thần, chuô ̣t rút, gây mu ̣n nho ̣t và phát ban

1.4.2.2 Endo Sunfat

Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý, hóa học

Endo-sulfat là một loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm chất gốc clo hữu cơ gây độc thần kinh thuộc nhóm thuốc trừ sâu gốc clo hữu cơ Có dạng kem màu nâu đất, phản ứng dưới dạng tinh thể hoặc dạng “bông tuyết”, có mùi giống như mùi của nhựa thong nhưng không cháy

Endo-sunfat là một chất có độc tố cao, nhất là trong quá trình tích lũy sinh học, làm

Endo-sunfat được xếp vào mục I: “chất độc cực kỳ nguy hiểm” theo tổ chức EPA của

Mỹ dựa vào chỉ số LC50 ở chuột là 30 mg/kg Trong khi đó, tổ chức Y tế Thế giới WHO xếp chất này vào loại II: “chất nguy hiểm vừa phải” cũng dựa trên chỉ số LC50 ở chuột là

80 mg/kg Hiện nay, Endo-sunfat bị cấm sử dụng trong bất kỳ lĩnh vực nào

Trang 21

Tác hại

- Endo-sunfat là một chất ngăn chặn cổng vận chuyển chloride lên bộ não, đồng thời cũng là một chất ức chế Ca2+, Mg2+ và enzyme eATPase, tất cả những hoạt tính của enzyme này đều có lien quan mật thiết đến sự truyền tải các xung động thần kinh

- Triệu chứng của việc nhiễm độc thường bao gồm chấn động mạnh, co giật, thiếu

sự phối hợp (ở chân tay), chóng mặt, khó thở, buồn nôn và ói mửa, trong một vài trường hợp có thể bị ngất Nếu nồng độ vượt mức 35mg/kg thì có thể gây chết người hoặc bị tổn thương não vĩnh viễn

- Endo-sufat gây biến đổi hoặc ức chế hoạt tính estrogen gây hại đến quá trình phát triển và sinh sản

- Chưa có sự nghiên cứu nào chững minh được rằng endosunfat có khả năng gây ung thư ở người, nhưng các thí nghiệm ở điều kiện invitro đã nhận thấy rằng endo-sunfat thúc đẩy quá trình phân chia ở những tế bào ung thư bề mặt, ung thư vú ở người

1.4.2.3 DDT, DDD, DDE

Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý, hóa học

- DDT (DichloroDiphenylTrichloroethan) có công thức phân tử : C14H9Cl5 DDT là sản phẩm của phản ứng giữa Cloran (CCl3CHO) và clobenzen (C6H5Cl) trong môi trường H2SO4 đặc

- DDT bị chuyển hoá trong môi trường tạo ra hai sản phẩm chính có tính chất hoá học và vật lý tương tự DDT là DDD (Dichlorodiphenyldichloroethylene) và DDE (Dichlorrodiphenyldichloroethane), các sản phẩm này độc hơn và thường đi kèm DDT trong các thành môi trường

- DDT bị khử clo trong điều kiện yếm khí tạo thành DDD, đây cũng là một chất diệt côn trùng DDT bị khử clo và hydro trong điều kiện hiếu khí lại chuyển thành DDE

- DDE và DDD bền với sự phân huỷ sinh học trong cả điều kiện hiếu khí và yếm khí

- Hàng năm sự phân huỷ DDT thành DDD và DDE trong môi trường chỉ chiếm vài phần trăm Do sự khác nhau về vị trí của nguyên tử clo trong vòng benzene nên mỗi

Trang 22

chất DDT, DDD, DDE lại có nhiều đồng phân Trong các đồng phân đó, phổ biến

và độc nhất là p,p’-DDT, p,p-DDD, p,p’- DDE (4,4’-DDT, 4,4’-DDD, 4,4’-DDE)

Tác hại

Các con đường nhiễm độc: Con người bị nhiễm DDT chủ yếu thông qua 2 cách đó

là phơi nhiễm trực tiếp và gián tiếp

- Phơi nhiễm trực tiếp có thể xảy ra qua phổi hoặc da

- Nhiễm độc gián tiếp xảy ra qua đường tiêu hoá và tích tụ theo thời gian trong các

mô mỡ và gan của con người

- Tác động cấp tính: DDT có tác động lên hệ thống thần kinh ngoại biên, gây sự rối loạn hệ thống thần kinh, ức chế các enzyme chức năng đòi hỏi sự dịch chuyển các ion dẫn đến tê liệt;

- Người bị nhiễm độc sẽ bị run rẩy, co giật mạnh kéo tình trạng ói mửa, đổ mồ hôi, nhức đầu, chóng mặt;

- Tác động mãn tính: khi bị nhiễm độc với liều lượng nhỏ trong một thời gian dài, chức năng của gan bị thay đổi: to gan, viêm gan, lượng độc tố của gan trong máu có thể bị tang lên và DDT tích tụ trong các mô mỡ, sữa mẹ, có khả năng gây vô sinh

- Gây tổn thương thận vì thiếu máu;

- Nếu nhiễm độc vào khoảng 20– 50mg/ngày/kg cơ thể, dẫn đến ảnh hưởng đến việc sinh sản, đến các tuyến nội tiết như tuyến giáp trạng, nang thượng thận Nếu bị nhiễm lâu hơn nữa có thể dẫn đến bệnh ung thư;

- DDT được bài tiết ra ngoài không chỉ qua đường nước tiểu và phân mà còn qua sữa

mẹ

1.4.2.4 Aldrin, Dieldrin, Endrin

Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý, hóa học

- Aldrin có công thức hoá học là C12H8Cl6, sôi ở 1450C, nóng chảy ở 1040C

- Aldrin được sử dụng như một loại hoá chất bảo vệ thực vật dung để diệt côn trùng,

bị cấm sử dụng rộng rãi trên thế giới

- Dieldrin có công thức hoá học là C12H8Cl6O, sôi ở 385°C

Trang 23

- Dieldrin được sử dụng chủ yếu để diệt mối và các loại sâu hại cây họ vải, kiểm soát các dịch bệnh lây lan do côn trùng và các loại côn trùng sống trong đất nông nghiệp và bị hạn chế sử dụng

- Eldrin có công thức hóa học là C₁₂H₈Cl₆O, nóng chảy ở 200°C

- Endrin: là loại hoá chất bảo vệ thực vật sử dụng để diệt côn trùng và bị cấm sử dụng rọng rãi

- Aldrin, Dieldrin và Endrin cũng là các hợp chất clo khó phân huỷ được dung làm thuốc trừ sâu Dưới tác dụng của ánh sang và vi khuẩn, aldrin rất dễ dàng biến đổi thành dieldrin, vì vậy mà trong môi trường tồn tại chủ yếu là dieldrin có tính độc cao hơn aldrin

Tác hại

Gây hại đến hệ thống thần kinh, hạn chế vận chuyển chloride lên não;

- Triệu chứng khi bị nhiễm độc là chóng mặt, nôn mửa, run rẩy, đổ mò hôi, khó thở,

Tác hại

- Tác đô ̣ng đến hê ̣ thần kinh của con người Làm ảnh hưởng đến gan, thâ ̣n, lá lách

- Gây ung thư, vô sinh ở người

Trang 24

Vibrio parahaemolyticus., virus Norwark, virus gây bệnh viêm gan Nếu nấu không kỹ,

chưa chín có thể gây chứng rối loạn tiêu hóa

Nếu hàu có chứa cadmium cao thì rất nguy hiểm, nó là thủ phạm gây nhiều bệnh nan

y, nhất là bệnh thận Có bốn dạng ngộ độc do hàu, gồm:

- Chứng ngộ độc gây bại liệt (PSP);

- Nhiễm độc axít Domaic: Độc tố gây mất trí nhớ (ASP);

- Ngộ độc brevotoxic: Độc tố gây ngộ độc thần kinh (NSP);

- Nhiễm độc tiêu chảy (DSP)

Trang 25

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là sự tồn dư của dư lượng thuốc bảo

vệ thực vật và kim loại nặng bên trong loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ cụ thể ở đây là con hàu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: 26/08/2017 – 08/11/2017

- Không gian nghiên cứu: Được thực hiện trong phạm vi khu vực nuôi trồng thủy sản thuộc huyện Long Sơn, Vũng Tàu

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để nhóm có thể hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra thì cần phải thực hiện các nội dung sau:

- Tìm hiểu các thành phần độc chất và kim loại năng tại vùng biển ven bờ trong các mẫu hàu thu thập được ở khu vực làng bè huyện Long sơn, tỉnh Vũng Tàu

- Gửi mẫu hàu đến trung tâm nguyên cứu để tiến hành phân tích các độc chất, kim loại nặng có trong mẫu

- Sau khi có kết quả phân tích, tiến hành xử lý số liệu, vẽ biểu đồ và so sánh, đối chiếu với các QCVN xem xét chỉ tiêu, kim loại nặng có trong hàu có vượt mức cho phép theo quy chuẩn hay không

- Đưa ra các đánh giá về môi trường nước xung quanh và ảnh hưởng của các độc chất trong hàu đến sức khỏe con người

- Đề xuất các biện pháp cải thiện môi trường sản xuất nuôi trồng hàu nhằm giảm bớt hàm lượng độc tố

2.4 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu

2.4.1 Mục đích và yêu cầu lấy mẫu phân tích

Mục đích của việc lấy mẫu phân tích là chọn một thể tích (hay khối lượng) nhỏ phù hợp và chỉ vừa đủ của đối tượng cần nghiên cứu phân tích để làm phân tích ngay tại hiện trường hay đóng gói để vận chuyển về phòng thí nghiệm để xử lý và xác định (định tính hay định lượng) các chất chúng ta mong muốn của đối tượng nghiên cứu nhưng lại phải bảo đảm giữ nguyên đúng thành phần của đối tượng thực tế lấy mẫu Do đó lấy mẫu là giai

Trang 26

đoạn đầu của công việc phân tích Nếu lấy mẫu sai thì kết quả phân tích khng phản ánh đúng thực tế

Vì thế để có kết quả phân tích phản ánh đúng thực tế, việc lấy mẫu phân tích phải đảm bảo được các yêu cầu sau:

- Đại diện đúng cho đối tượng cần nghiên cứu và phân tích;

- Đáp ứng đúng yêu cầu phân tích hay nghiên cứu xem xét;

- Lấy mẫu, không làm mất mẫu hay nhiễm bẩn mẫu;

- Phù hợp với phương pháp lựa chọn phân tích;

- Có khối lượng đủ để phân tích, không quá nhỏ và đúng yêu cầu;

- Mẫu phải có lý lịch, các điều kiện lấy mẫu rõ ràng;

- Đảm bảo đúng yếu tố của QA/QC

2.4.2 Các điều kiện cần của công việc lấy mẫu

Chúng ta biết rằng, mục tiêu của lấy mẫu là chọn một phần thể tích (hay khối lượng) mẫu đủ nhỏ của đối tượng nghiên cứu (hay phân tích) để vận chuyển được về phòng thì nghiệm để phân tích được các chỉ tiêu cần thiết mà vẫn đảm bảo thể hiện đúng được thành phần thực tế của đối tượng nghiên cứu Do đó việc lấy mẫu phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định:

- Theo một quy trình tiêu chuẩn nhất định cho mỗi loại và đã được chấp nhận;

- Theo từng đối tượng mẫu phân tích nhất định;

- Theo nguyên tố hay chất cần phân tích;

- Dụng cụ lấy mẫu đúng quy cách và phải đảm bảo QA/QC;

- Người lấy mẫu phải được huấn luyện và có tay nghề để thực hiện;

- Có sổ sách ghi chép và có hồ sơ mẫu rõ ràng

Chỉ khi thỏa mãn các điều kiện và yêu cầu trên thì kết quả phân tích mới nói lên được thành phẩn (hàm lượng) của chất trong mẫu phân tích Còn nếu không thỏa mãn các điều kiện đó thì dù phương pháp phân tích có chính xác đi nữa thì cũng không nói lên được đúng nồng độ (hàm lượng) của chất Hay nói một cách khác, chúng ta phải thực hiện QA/QC trong công tác lấy mẫu

2.4.3 Quá trình lấy mẫu

Ngày đăng: 22/11/2017, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w