Hiện nay ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì yêu cầu về quản lý tài chính nói chung và yêu cầu về việc quản lý một cách chặt chẽ các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trì
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích của đề tài: 7
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 7
4 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CƠ SỞ ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI 9
1.1 Những vấn đề chung về đầu tư xây dựng 9
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Trình tự đầu tư xây dựng của một dự án: 17
1.1.3 Bản chất và nội dung kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản 19
1.1.4 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản 23
1.2 Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng 25
1.2.1 Kết quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản 25
1.2.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản 26
1.3 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và hiệu quả vốn đầu tư xây dựng 31
1.3.1 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng 31
1.3.2 Hiệu quả vốn đầu tư xây dựng 32
1.4 Kết luận chương 1: 38
CHƯƠNG 2 39
CHƯƠNG 2 39
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI TRONG THỜI GIAN QUA 39
2.1 Khái quát về quá trình chuyển biến cơ chế quản lý đầu tư xây dựng thời gian qua 39 2.1.1 Chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trong đầu tư và xây dựng sang “cơ chế quản lý theo dự án” 40
2.1.2 Phân loại theo quy mô và tính chất của các dự án theo hướng tăng cường trách nhiệm và quyền hạn cho các ngành địa phương và cơ sở cùng với việc phân chia các dự án Nhà nước theo các loại nguồn vốn 41
2.1.3 Những tiến bộ trong việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng 42
2.1.4 Những tiến bộ về lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng 43
2.1.5 Về lĩnh vực quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng 43
2.1.6 Quản lý vốn đầu tư bằng kế hoạch hoá của Nhà nước 45
2.2 Đánh giá về kết quả quá trình đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng trong quản lý và thực tế hoạt động đầu tư xây dựng đối với công trình thủy lợi 46
2.2.1 Trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 46
2.2.2 Thực tế hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình thuỷ lợi 50
2.3 Những vấn đề tồn tại trong cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và thực tế sử dụng vốn đầu tư xây dựng trong thời gian qua 54
2.3.1 Những vấn đề tồn tại trong cơ chế quản lý đầu tư xây dựng 54
Trang 22.3.2 Những vấn đề tồn tại trong thực tế sử dụng vốn đầu tư xây dựng thời gian qua
63
2.4 Kết luận chương 2 74
CHƯƠNG 3 76
NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 76
3.1 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng thuộc về Nhà nước 76
3.1.1 Một số thay đổi cơ bản của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng trong thời gian gần đây 77
3.1.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thuộc về Nhà nước 87
3.2 Một số giải pháp khác nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư 93
3.2.1 Về trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư 93
3.2.2 Về hệ thống quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng 93
3.2.3 Về công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng 94
3.2.4 Về phương thức đấu thầu 95
3.2.5 Về mô hình quản lý đầu tư xây dựng 96
3.2.6 Về mô hình thực hiện dự án 96
3.3 Ứng dụng cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 98
3.3.1 Giới thiệu về dự án ứng dụng cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 98
3.3.2 Cơ sở pháp lý cho việc quản lý đầu tư xây dựng 99
3.3.3 Một số giải pháp quản lý đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng dự án Hệ thống công trình phân ranh mặn ngọt tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu. 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình …… ………82 Hình 3.2 Quy trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình……… …83 Hình 3.3 Hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng ………83 Hình 3.4 Hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình ……… 87
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình chi đầu tư xây dựng từ NSNN cho ngành Thuỷ Lợi 53 Bảng 2.2 Tốc độ chi đầu tư xây dựng từ NSNN cho ngành Thuỷ Lợi ………….54 Bảng 2.3 Tổng hợp vốn đầu tư phát triển năm 2006-2010 ……… 70 Bảng 3.1 Phân chia gói thầu – Hệ thống công trình phân ranh mặn ngọt ……….102
Ban QLDA Ban Quản lý dự án
QHPT KT – XH Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
QHPT Quy hoạch phát triển
PTKTXH Phát triển kinh tế xã hội
Trang 4ĐTPT Đầu tư phát triển
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì yêu cầu về quản lý chi phí cho đầu tư xây dựng cơ bản cũng có sự thay đổi nhằm phù hợp với nền kinh tế mới Hiện nay ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì yêu cầu về quản lý tài chính nói chung và yêu cầu về việc quản lý một cách chặt chẽ các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình thuỷ lợi nói riêng phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch, đúng định mức, tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả là hết sức quan trọng Tuy nhiên việc quản lý các khoản chi không bị thất thoát
là một vấn đề hết sức nan giải bởi vì trong thực tế hiện tượng tham ô, tham nhũng thì vẫn không thể loại bỏ được hết Vì vậy việc tăng cường công tác quản lý cho đầu
tư xây dựng cơ bản cho ngành trình trình thuỷ lợi là hết sức quan trọng xuất phát từ những lý do sau:
- Từ thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản: cơ chế quản lý tài chính của nước ta hiện nay có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn khi mà đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường Vì vậy cơ chế quản lý vốn đầu
tư xây dựng cơ bản trước đây trở nên kém hiệu quả và không còn phù hợp với tình hình mới do vậy mà ảnh hưởng đến việc sử dụng kinh phí của ngân sách nhà nước Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 7/02/2005 và Nghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006 và nay đã được thay thế bởi Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 về Quy chế quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nhằm quản lý một cách chặt chẽ hơn các khoản chi của Nhà nước cho đầu tư
và xây dựng
Mặt khác, do cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý chồng chéo nhiều khi hiệu quả quản lý không cao Ngoài ra các cơ chế chính sách nhiều khi không chặt chẽ cũng tạo ra các kẽ hở trong quản lý vốn đầu tư, trong khi đó nguồn vốn dùng cho chi đầu
tư xây dựng cơ bản nhiều khi là nguồn vốn đi vay chính vì vậy mà yêu cầu sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả là rất cần thiết
Trang 6Đối với một số đơn vị quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản đôi khi còn chưa chủ động trong việc sử dụng kinh phí được cấp do chưa nắm sát được thực tế nhu cầu chi tiêu, nhiều đơn vị đã dùng mọi cách để sử dụng hết kinh phí được cấp và họ chưa quan tâm đến việc chi dùng định mức, đơn giá được duyệt
- Từ vai trò của công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với ngành thủy lợi: thực hiện tốt công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chng và đối với ngành thủy lợi nói riêng thì có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm
Để từ đó tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế, ổn định và lành mạnh nền kinh tế quốc gia, chống các hiện tượng tiêu cực, lãng phí
Ngoài ra thực hiện công tác này còn đảm bảo cho các công trình thủy lợi của nhà nước được đáp ứng đầy đủ nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả để hoàn thành tiến độ thi công công trình theo đúng kế hoạch, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tài chính, cơ quan cấp phát cũng như các chủ đầu tư trong quá trình xây dựng
Thông qua công tác quản lý một cách chặt chẽ thì cũng hạn chế được những tiêu cực trong quá trình thi công công trình Từ đó cũng thấy được những mặt còn yếu kém trong công tác quản lý để từ đó có những biện pháp hoặc những chính sách để
bổ sung kịp thời nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý
- Từ đặc điểm của các công trình ngành thủy lợi: nhằm đảm bảo cho chất lượng của công trình thủy lợi thì cần phải tăng cường công tác quản lý bởi vì ngành thủy lợi có ý nghĩa rất quan trọng cho sản xuất như tưới, tiêu, hệ thống thoát nước, thoát lũ… Vì vậy mà cần phải tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với những công trình thủy lợi, việc tăng cường công tác quản lý này vừa nhằm đảm bảo đồng vốn được sử dụng đúng mục đích lại vừa đảm bảo được chất lượng công trình như thiết kế đã duyệt
Xuất phát từ những lý do trên mà việc hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho công trình thủy lợi là hết sức cần thiết Cũng chính vì thế mà tác giả đã chọn đề tài luận văn là “Nghiên cứu cơ chế quản lý đầu tư xây
Trang 7dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình thủy lợi”
2 Mục đích của đề tài:
Đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình thủy lợi
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và tình hình sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc các Dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn cũng giới hạn nghiên cứu những cơ chế quản
lý đầu tư xây dựng và tình hình sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các Dự án đầu tư xây dựng thuộc công trình thuỷ lợi
* Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu nghiên cứu các nội dung của luận văn thì tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
4 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Luận văn được kết cầu gồm 3
Trang 8Chương 3: Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đối với công trình thủy lợi
Tài liệu tham khảo
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ CƠ
SỞ ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHI PHÍ ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI
1.1 Những vấn đề chung về đầu tư xây dựng
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư xây dựng:
a Khái niệm
Đầu tư Xây dựng trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế
Do vậy đầu tư Xây dựng là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu
tư Xây dựng là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu
tư Xây dựng trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế Đầu tư xây dựng là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư phát triển nói riêng Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng (từ việc khảo sát, quy hoạch đầu tư, thiết kế và xây dựng cho đến khi lắp đặt thiết bị để hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế
Như vậy, đầu tư xây dựng không phải là hoạt động sản xuất vật chất mà là phạm trù kinh tế tài chính xuất hiện trong quá trình tái sản xuất các tài sản cố định Nhưng, xây dựng là một ngành sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho
Trang 10xã hội, nó quyết định đến sự phát triển đất nước và quy mô sản xuất của các ngành
có liên quan
b Đặc điểm chung của đầu tư xây dựng:
Hoạt động đầu tư xây dựng là một bộ phận của đầu tư phát triển do vậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển
- Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: hoạt động đầu tư xây dựng đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật tư lớn Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong quá trình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và
sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực
- Thời gian dài với nhiều biến động: thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra
- Có giá trị sử dụng lâu dài: các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do
ở Mỹ, kim tụ tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, …
- Cố định: các thành quả của hoạt động đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư Vì vậy cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ
- Liên quan đến nhiều ngành: hoạt động đầu tư xây dựng rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương
Trang 11mà còn nhiều địa phương với nhau Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có
sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh
đó phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đựơc tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư
c Vai trò: Đối với bất kỳ một phương thức sản xuất xã hội nào, ở mọi thời
kỳ phát triển đều tương ứng với một cơ sở vật chất-kỹ thuật nhất định và dựa trên
cơ sở vật chất-kỹ thuật ấy Sự hiện đại hoá liên tục cơ sở vật chất-kỹ thuật là điều kiện ban đầu, là cơ sở của mọi biến chuyển kinh tế-xã hội Quá trình hiện đại hoá cơ
sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất xã hội có được nhờ việc tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng
Quá trình đầu tư xây dựng vô cùng phức tạp, liên ngành, do đó đòi hỏi phải
có sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan chức năng, ban ngành và của nhiều lĩnh vực
Sản phẩm đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư, do bản chất là hoạt động đầu
tư phát triển nên có tác dụng làm thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường đổi mới công nghệ, tạo ra và liên tục hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Những thành quả của đầu tư xây dựng làm tăng năng lực sản xuất, tạo điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật và công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo công ăn việc làm, đáp ứng các yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước; tạo điều kiện tăng cường hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đầu tư xây dựng còn là điều kiện để tạo ra một sự đổi mới trong cơ chế quản
lý nền kinh tế-xã hội thích hợp với từng giai đoạn phát triển, và nói chung, đầu tư xây dựng còn là một trong những nhân tố quan trọng nhất của quá trình chuyển biến phương thức sản xuất cũng như hình thái kinh tế-xã hội của xã hội
Trang 121.1.1.2 Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng:
a Khái niệm: Vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường là việc tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi chủ thể kinh tế, để thực hiện được điều này, các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội
Vốn đầu tư xây dựng là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán Vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước) để cấp phát cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng
Vốn đầu tư xây dựng được vật hoá để hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, là điều kiện của tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế, có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội Nhưng cần lưu ý rằng, có một số công tác mà xét về tính chất lẫn nội dung kinh tế thì thuộc về hoạt động xây dựng cơ bản, nhưng chi phí của chúng thì lại không được tính vào vốn đầu tư xây dựng Đó là các hoạt động sau đây:
- Hoạt động sửa chữa lớn nhà cửa, vật chất kiến trúc
- Các chi phí khảo sát thăm dò tài nguyên, địa chất nói chung trong nền kinh tế mà không liên quan trực tiếp đến việc xây dựng công trình cụ thể nào cả
Mặt khác có một số khoản mục, tuy không làm tăng giá trị tài sản cố định nhưng chi phí của chúng vẫn được tính vào vốn đầu tư xây dựng:
Trang 13- Chi phí cho việc mua sắm công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định
- Chi phí đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân
b Nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Vốn đầu tư xây dựng
thuộc ngân sách Nhà nước được hình thành từ các nguồn sau:
- Vốn ngân sách Nhà nước được hình thành từ một phần tích luỹ trong nước, một phần vốn khấu hao cơ bản do các đơn vị nộp Nhà nước, một phần vốn vay trong nước thông qua việc phát hành tín phiếu Nhà nước, một phần vốn vay nợ và viện trợ không hoàn lại của nước ngoài bao gồm cả phần vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Vốn ngân sách Nhà nước được cấp theo kế hoạch Nhà nước đã giao
- Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách Nhà nước: hình thành từ ngân sách Nhà nước, vốn thu nợ các năm trước, vốn chính phủ vay nợ nước ngoài theo mục tiêu dự
án phải thoả thuận với nước ngoài Việc bố trí đầu tư cho các dự án này do chính phủ quyết định cụ thể cho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch Vốn vay này được hưởng lãi suất ưu đãi hoặc không tuỳ theo dự án, công trình do chính phủ quyết định
- Vốn tín dụng thương mại áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả, và thực hiện đầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay trả vốn Vốn tín dụng thương mại được ngân hàng Nhà nước cho vay trực tiếp các chủ đầu tư theo các hình thức vay ngắn hạn, dài hạn với lãi suất bình thường
- Vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nước: vốn này hình thành từ lợi nhuận
để lại, sau khi đã nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước, tiền từ thanh lý tài sản, từ vốn khấu hao được Nhà nước cho để lại, từ vốn cổ phần, vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác và từ các quỹ của doanh nghiệp có thể huy động được, cũng như các khoản tự vay khác mà doanh nghiệp tự có
- Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Vốn này là của các tổ chức cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bằng tài sản thiết bị máy móc, nguyên liệu được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên
Trang 14cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Vốn góp của nhân dân: là vốn huy động nhân dân đóng góp bằng tiền, hiện vật hoặc bằng công lao động cho các dự án đầu tư, chủ yếu sử dụng vào việc xây các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn theo điều kiện cam kết khi huy động vốn
- Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: là vốn đầu tư của các chủ đầu
tư là các đơn vị tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổ phần dùng vào đầu tư xây dựng cơ bản, vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay
- Những nguồn vốn khác: ngoài những nguồn vốn nói trên, còn có vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên nước ta
1.1.1.3 Khái niệm chi đầu tư xây dựng của Ngân sách Nhà nước
Chi phí đầu tư xây dựng của Ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào Ngân sách nhà nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, từng bước tăng cường hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
a Phân loại chi phí đầu tư xây dựng cơ bản:
* Dựa theo tính chất tái sản xuất tài sản cố định, chi đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành thuỷ lợi được phân thành:
- Chi đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi mới: Đây là khoản chi để xây dựng mới các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học mới Khoản chi này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng kéo dài Do đó Nhà nước phải xem xét đầu tư vào những công trình, dự án mang tính chất cấp bách, trọng điểm, chấm dứt tình trạng đầu tư phân tán dàn trải Khoản chi này cần được quan tâm hơn
cả trong chi phí đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành thuỷ lợi
Trang 15- Chi đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, trạm bơm: Do thời gian sử dụng lâu dài nên các công trình thuỷ lợi thường là đã xuống cấp do thiên tai, địch hoạ gây ra, trong khi đó nhu cầu sử dụng lại không ngừng tăng lên Đòi hỏi đầu tư để nâng cấp, mở rộng và cải tạo lại Hiện nay các khoản chi này vẫn giữ một
vị trí quan trọng, đảm bảo tiết kiệm mà đáp ứng được một số nhu cầu đáng kể
* Dựa vào cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành thuỷ lợi được phân thành:
- Chi phí xây lắp: là các khoản chi để xây dựng, lắp đặt các thiết bị vào vị trí như trong thiết kế Tuy nhiên, ngành thuỷ lợi là ngành phi sản xuất nên chi phí lắp đặt chiếm tỷ lệ ít Do vậy chi về xây lắp của ngành thuỷ lợi chủ yếu là chi phí về xây dựng
- Chi phí về máy móc thiết bị: là khoản chi để mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho ngành thuỷ lợi như máy bơm, máy tính, dụng cụ sửa chữa Đối với công trình thủy lợi thì khoản chi này chiếm một phần nhỏ trong tổng chi đầu tư xây dựng
- Chi phí về xây dựng cơ bản khác: là các khoản chi có liên quan đến tất cả quá trình xây dựng như việc kiểm tra, kiểm soát để làm luận chứng kinh tế kỹ thuật và các chi phí có liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng thi công, chi phí tháo dỡ vật kiến trúc, chi phí đền bù hoa màu đất đai di chuyển nhà cửa khoản chi này thường là nhỏ nhưng rất cần thiết
* Ví dụ cơ cấu vốn đầu tư một số công trình thủy lợi:
+ Công trình Hồ chứa nước Iaring – tỉnh Gia Lai
Trang 16+ Công trình thủy lợi hồ chứa nước Iamơ – tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk
- Xây lắp: 971.275.768.000 đ chiếm 76,9%
- Thiết bị: 12.979.000.000 đ chiếm 1%
- Đền bù, di dân, tái định cư: 32.120.833.000 đ 2,5chiếm
- Chi phí quản lý và chi khác: 86.586.807.000 đ chiếm 6,9%
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng cho phép
Trang 17- Các doanh nghiệp Nhà nước được sử dụng vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại để đầu tư (đầu tư mở rộng, trang bị lại kỹ thuật)
Tóm lại, chi đầu tư xây dựng cơ bản của Ngân sách Nhà nước là những khoản chi lớn của Nhà nước đầu tư vào việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và nó được thực hiện bằng chế độ cấp phát không hoàn trả từ Ngân sách Nhà nước Chi đầu tư xây dựng
cơ bản là một khoản chi trong chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 20% trong chi Ngân sách nhà nước (6-7% GDP) Hiện nay quan điểm của Đảng là không sử dụng tiền đi vay cho tiêu dùng mà chỉ dùng vào mục đích đầu tư phát triển và phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và chủ động trả nợ khi đến hạn, đồng thời trước khi đầu tư cần phải nghiên cứu kỹ nhằm đẳm bảo mỗi đồng vốn đầu tư bỏ ra đều mang lại hiệu quả cao
1.1.2 Trình tự đầu tư xây dựng của một dự án:
* Khái niệm:
Trình tự đầu tư và xây dựng là thứ tự theo thời gian tiến hành những công việc của quá trình đầu tư để nhằm đạt được mục tiêu đầu tư
* Các giai đoạn của trình tự đầu tư và xây dựng:
Theo chế độ hiện hành thì trình tự đầu tư và xây dựng được chia làm 3giai đoạn:
- Chuẩn bị đầu tư
- Thực hiện đầu tư
- Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng
1.1.2.1.Giai đoạn chuẩn bị đầu tư :
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi nghiên cứu sự cần thiết đầu tư cho đến khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
Trang 18- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và qui mô đầu tư
- Tiến hành tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn các hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết đinh đầu
tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư Như vậy giai đoạn chuẩn bị đầu tư là là cơ sở để thực hiện các nội dung tiếp theo của quá trình thực hiện đầu tư, và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng, đây cũng là giai đoạn quyết định sự thành công hay thất bại của công cuộc đầu tư trong tương lai
1.1.2.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định đầu tư, công trình được ghi vào trong kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư cho đến khi xây dựng xong toàn bộ công trình
Nội dung của giai đoạn này:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
- Xin giấy phép xây dựng: Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo sửa
Trang 19chữa, thay đổi chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây dựng
- Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án
- Thi công xây lắp công trình
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án vào khai thác sử dụng: Việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng được tiến hành hàng năm trong thời gian xây dựng Khi dự án hoàn thành thì chủ đầu tư phải báo cáo quyết toán vốn đầu tư cho cơ quan cấp phát hoặc cho vay vốn và cơ quan quyết định đầu tư Khi quyết toán phải qui đổi vốn đầu tư ( đối với những công trình có thời gian xây dựng lớn hơn 3 năm) đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa công trình vào vận hành và sử dụng
1.1.2.3 Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận hành đạt thông số đề ra trong dự án đến khi thanh lý dự án
Nội dung của giai đoạn này bao gồm:
- Bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán
1.1.3 Bản chất và nội dung kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.3.1 Bản chất và vai trò của vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Tích luỹ là nguồn chủ yếu của tái sản xuất mở rộng Tích luỹ là sử dụng có
kế hoạch một phần thu nhập quốc dân để mở rộng sản xuất, để xây dựng xí nghiệp mới, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có, để tăng các tài sản cố định
Trang 20không sản xuất và tạo lập các dự trữ vật tư, tài chính Phần thu nhập quốc dân dùng
để tích luỹ được tạo nên bằng sản phẩm thặng dư, được hình thành một cách có kế hoạch và nhịp độ tăng của nó trước hết phụ thuộc vào nhịp độ tăng tuyệt đối khối lượng thu nhập quốc dân Trong những điều kiện như nhau, mức tích luỹ sản xuất phụ thuộc không chỉ vào khối lượng thu nhập quốc dân, mà còn phụ thuộc vào sự phân phối thu nhập quốc dân và tiêu dùng
Quá trình tích luỹ có tác dụng to lớn đến việc hình thành cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền kinh tế Để nâng cao không ngừng mức tiêu dùng của nhân dân, xã hội cần phải thường xuyên mở rộng sản xuất và do đó cần phải tăng tích luỹ Tích luỹ không chỉ kéo theo những sự thay đổi về số lượng trong các yếu tố vật chất của lực luợng sản xuất, mà còn có tác động đến tất cả moi lĩnh vực hoạt động của con người, tạo điều kiện để giảm nhẹ lao động, nâng cao nhận thức và trình độ nghề nghiệp của mọi người lao động
Tích luỹ trước hết được thực hiện thông qua đầu tư xây dựng cơ bản Theo nội dung kinh tế, đầu tư xây dựng cơ bản là sử dụng một phần tổng sản phẩm xã hội, mà trước hết là quỹ tích luỹ để tái sản xuất tài sản xuất tài sản cố định Vốn đầu
tư đầu tư xây dựng cơ bản như đã nói ở trên là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết
bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán Vốn đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản và vốn cố định là những khái niệm không giống nhau cả về nội dung kinh tế lẫn trong sự biểu hiện giá trị Sự khác nhau cơ bản giữa chúng thể hiện ở chỗ, vốn đầu
tư đầu tư xây dựng cơ bản là vốn cố định dưới dạng tiềm tàng, còn vốn cố định là vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được khai thác, sử dụng Biểu hiện vật chất của vốn
cố định là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, dụng cụ điều chỉnh, đo lường, dụng cụ sản xuất và kinh doanh có giá trị và thời gian sử dụng
ở mức quy định
Như vậy, ngoài phần vốn đầu tư xây dựng cơ bản huy động từ nước ngoài, thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở nước ta được hình thành từ việc phân phối tổng
Trang 21sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Phần lớn thu nhập quốc dân được sử dụng
để tích luỹ, điều đó làm tăng khả năng đầu tư xây dựng cơ bản vào nền kinh tế và tăng năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được huy động cả ở những khu vực không phải là kinh tế Nhà nước, đặc biệt là vốn đầu tư thu hút từ đầu tư nước ngoài đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta Đầu tư tập trung, đúng hướng
đã làm tăng năng lực sản xuất của nhiều ngành kinh tế quốc dân Đó là các cơ sở của ngành điện (thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, và hiện nay là nhà máy thuỷ điện có tầm cỡ thế giới-thuỷ điện Sơn La đang được xây dựng) sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước góp phần đẩy lùi khoảng cách trong phát triển kinh tế-xã hội của nước ta so với thế giới
1.1.3.2 Nội dung kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Như ta biết, để tiếp tục quá trình sản xuất, khi phân phối tổng sản phẩm xã hội, người sản xuất phải tính toán khôi phục các tư liệu sản xuất (bao gồm cả tư liệu lao động và đối tượng lao động) đã tiêu hao trong quá trình sản xuất Đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu) có đặc tính tham gia một lần, toàn bộ vào một chu kỳ sản xuất và sau quá trình sản xuất nó hoàn toàn thay đổi hình thái vật chất của mình
để trở thành sản phẩm, khi sản phẩm được tiêu thụ, toàn bộ giá trị của đối tượng lao động trở lại dưới hình thái tiền tệ Nhằm khôi phục đối tượng lao động, người ta phải tích và trích ra một lượng tiền từ doanh số bán hàng-ngang bằng với giá trị của đối tượng lao động đã di chuyển vào sản phẩm để mua sắm, dự trữ nguyên liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo Tư liệu lao động (chủ yếu là tài sản cố định),
có đặc tính tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và không thay đổi về mặt hình thái hiện vật ban đầu Cuối mỗi chu kỳ sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn và phần giá trị tương đương với mức hao mòn đó được chuyển vào giá trị sản phẩm sản xuất ra Khi sản phẩm được tiêu thụ, phần giá trị tài sản cố định hao mòn đó lại trở về hình thái tiền tệ, gọi là vốn khấu hao tài sản cố định Vốn khấu hao được tích luỹ theo thời gian sử dụng của tài sản cố định hình thành quỹ khâu hao Quỹ khấu hao được
Trang 22chia ra hai phần: Quỹ khâu hao cơ bản và quỹ khấu hao sửa chữa lớn Quỹ khấu hao sửa chữa lớn tài sản cố định được dùng sửa chữa lớn nhằm phục hồi và duy trì tính năng, công dụng của tài sản cố định Quỹ khấu hao cơ bản được dùng để tái tạo lại toàn bộ giá trị của tài sản cố định qua con đường đầu tư xây dựng cơ bản, có nghĩa
là tái sản xuất giản đơn tài sản cố định Quỹ khấu hao tài sản cố định chỉ ngang bằng giá trị tài sản cố định khi nào tài sản cố định đó hết thời hạn sử dụng Trong điều kiện tập trung quỹ khấu hao của nhiều tài sản cố định, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật và năng suất lao động xã hội ngày càng được nâng cao thì quỹ khấu hao cơ bản không những được dùng tái sản xuất giản đơn mà còn
có thể được dùng để tái sản xuất mở rộng tài sản cố định
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản hình thành từ quỹ khấu hao tài sản cố định có các tính chất sau:
- Hình thành dần dần, tương đối ổn định và được tích luỹ theo mức độ hao mòn TSCĐ
- Nguồn vốn này có giới hạn bởi giá trị ban đầu của tài sản cố định
- Chủ yếu được dùng để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định
Tống sản phẩm xã hội sau khi bù đắp các tư liệu sản xuất đã tiêu hao được gọi là thu nhập quốc dân Thu nhập quốc dân được chia ra thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng Quỹ tích luỹ là nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng, trong đó chủ yếu là tái sản xuất mở rộng tài sản cố định Ở các đơn vị, xí nghiệp thu nhập quốc được tạo
ra dưới hình thức quỹ tiền lương và thu nhập thuần tuý Một phần thu nhập thuần tuý được để lại xí nghiệp, một phần được tập trung vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế Một phần thu nhập thuần tuý của xí nghiệp và một phần trong số chi của ngân sách Nhà nước được dùng làm nguồn vốn đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản,
để tạo ra tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân Giữa tài sản cố định và thu nhập quốc dân có mối quan hệ biện chứng phụ thuộc lẫn nhau: Tăng tài sản cố định sản xuất sẽ dẫn tới tăng thu nhâp quốc dân Tăng thu nhập quốc dân sẽ có điều kiện
để tái sản xuất mở rộng tài sản cố định Tài sản cố định tăng thêm trên cơ sở tăng
Trang 23thêm vốn đầu tư xây dựng cơ bản Khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng lên khi thu nhập quốc dân tăng lên và tăng phần tích luỹ trong thu nhập quốc dân
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ quỹ tích luỹ có các tính chất cơ bản sau:
- Được hình thành từ việc phân phối kết quả của sản xuất kinh doanh
- Mức tăng của nguồn vốn này phụ thuộc mức tăng thu nhập quốc dân, chính sách đầu tư phát triển sản xuất của Đảng, Nhà nước và việc hiải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng
- Chủ yếu được dùng để tái sản xuất mở rộng tài sản cố định
Trong điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế một bộ phận thu nhập quốc dân nước ngoài được di chuyển vào nước ta dưới hình thức viện trợ, cho vay và trực tiếp đầu tư của chính phủ và các tổ chức, cá nhân nước ngoài Nguồn vốn đầu tư này có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế nước ta là không thể phủ nhận, tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn coi nguồn vốn đầu
tư trong nước (khấu hao cơ bản và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân) là nhân
tố chủ yếu, có tính chất quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mình
1.1.4 Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu được phân loại theo một số tiêu thức sau: theo nguồn hình thành, theo cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ và cơ cấu tái sản xuất
* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo nguồn hình thành: Bao gồm vốn ngân sách Nhà nước cấp, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (hai nguồn này đã bao gồm nguồn ODA), vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư của tư nhân và dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 24* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo cơ cấu ngành: Thể hiện sự phân phối vốn đầu tư xây dựng cơ bản giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân
* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo cơ cấu công nghệ: Cơ cấu công nghệ thể hiện mối tương quan của vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo công dụng Tức
là thể hiện mối tương quan giữa các phần chi phí cho các công tác xây dựng cơ bản,
đó là: vốn cho công tác xây dựng và lắp đặt, cho công tác mua sắm máy móc và thiết bị và vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các công tác kiến thiết cơ bản khác
Hoàn thiện cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư có nghĩa là tăng tương đối phần chi mua thiết bị, công cụ Sự thay đổi cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng tăng chi phí mua thiết bị phản ánh tiến bộ kỹ thuật của sản xuất và có ý nghĩa kinh tế quan trọng Việc hoàn thiện cơ cấu công nghệ vốn đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến cải tiến cơ cấu kỹ thuật của tài sản cố định, bằng việc tăng phần máy móc, thiết bị Hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng, chất lượng và trình độ sử dụng các máy móc thiết bị, cho nên nâng cao tỷ trọng chi phí thiết bị, tăng bộ phận tích cực của tài sản cố định là một trong những phương hướng quan trọng của hoàn thiện cơ cấu vốn đầu tư
* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo hình thức tái sản xuất: Có bốn hình thức tái sản xuất tài sản cố định: Xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các cơ sở hiện có
Trong những giai đoạn nhất định của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh
tế, việc xác định tỷ lệ tối ưu giữa các hình thức tái sản xuất tài sản cố định có ý nghĩa quan trọng Xây dựng mới cho phép áp dụng dễ dàng kỹ thuật mới và thay đổi sự phân bố các ngành bằng cách bố trí các công trình xây dựng mới tại những nơi hợp lý, bảo đảm khai thác đầy đủ hơn các tài nguyên thiên nhiên Khi nhấn mạnh các ưu điểm trên, từ góc độ hiệu quả toàn bộ nền sản xuất xã hội, xây dựng mới có những nhược điểm nhất định: Đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phần đáng kể vốn đầu
tư được hướng vào xây dựng nhà xưởng và các công trình phục vụ, xây dựng mới là
Trang 25yếu tố phát triển sản xuất theo chiều rộng, còn cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp hiện có là yếu tố phát triển sản xuất theo chiều sâu
Có thể đạt được hiệu quả đáng kể nhờ cải tạo và trang bị lại các xí nghiệp hiện có Điều đó gắn liền với hàng loạt các yếu tố, trước hết là nhờ sử dụng các tài sản cố định sẵn có, đặc biệt là bộ phận nhà xưởng, vật kiến trúc Những mối liên hệ sản xuất đã được xác lập, với cán bộ chuyên môn đã có và kinh nghiệm của họ sẽ góp phần tăng sản xuất sản phẩm với chi phí vốn đầu tư tương đối ít và trong một thời gian ngắn hơn so với xây dựng các xí nghiệp mới Nâng cao năng lực sản xuất bằng cách cải tạo và trang bị lại các xí nghiệp hiện có, áp dụng thiết bị kỹ thuật hiện đại hơn sẽ dẫn đến nâng cao tỷ trọng bộ phận tích cực của tài sản cố định (nâng tỷ trọng máy móc, thiết bị) và giảm thời hạn thu hồi vốn đầu tư Cải tạo và trang bị lại
kỹ thuật các xí nghiệp không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, có tác dụng giảm nhẹ điều kiện lao động và nâng cao trình độ công nhân
Đối với vấn đề cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư xây dựng cơ bản, cùng với việc xét chọn chặt chẽ các công trình xây dựng mới, đầu tư chiều sâu và đồng bộ hoá phải được coi là một vấn đề rất quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu đầu tư, trước hết nhằm vào những vào những khâu mấu chốt đem lại hiệu quả cao, tăng nhanh sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời việc sử dụng hợp lý,
có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, ổn định và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
1.2 Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng
1.2.1 Kết quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Kết quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện, ở các tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinh doanh phục vụ tăng thêm
Trang 261.2.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện:
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo qui định của thiết kế dự toán và được
ghi trong dự án đầu tư được duyệt
1.2.1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm:
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập khi kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được
ngay
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo qui định được ghi trong dự án đầu
tư
1.2.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội Điều cơ bản trước tiên của việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư là việc chọn phương án đầu tư có lợi nhất, đảm bảo tăng sản phẩm nhiều nhất trên một đồng vốn đầu tư, rút ngắn thời hạn thu hồi vốn cũng như đáp ứng các tiêu chí khác về kinh tế-tài chính cũng như kinh tế-xã hội mà một dự án đầu tư phải
có
Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cũng có nghĩa là tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm, giảm giá thành, cải tiến chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách cũng như đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước, nâng cao mức sống nhân dân,… tạo ra những điều kiện cho việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân trong cộng đồng
Trang 27Tái sản xuất mở rộng tài sản cố định là đòi hỏi chi phí lớn và chỉ mang lại kết quả trong một thời gian dài Vốn đầu tư bị khê đọng không vận động không sinh lời
do quá trình xây dựng kéo dài Do đó, điều quan trọng đối với xã hội cũng như mọi nhà đầu tư là phải biết tiền vốn phải bỏ ra lúc nào và trong khoảng thời gian bao lâu, khi nào vốn đầu tư sẽ được hoàn lại Vấn đề sử dụng hợp lý nhanh chóng hoàn lại vốn đầu tư được giải quyết trên cơ sở xem xét các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể đánh giá hiệu quả kinh tế vốn đầu tư xây dựng cơ bản Các chỉ tiêu đó rất cần thiết khi xem xét tính hợp lý của đầu tư xây dựng cơ bản ở các giai đoạn kế hoạch hoá, nghiên cứu xem xét các biện pháp hoàn thiện kỹ thuật, cảI tạo và trang bị lại kỹ thuật các cơ sở hiện có Nhiệm vụ tính toán ở giai đoạn thiết kế là chọn các phương
án tối ưu xây dựng các cơ sở, các công trình, đáp ứng được tốt nhất các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-tài chính Xác định hiệu quả ở giai đoạn lập kế hoạch đối với các bộ, ngành giúp cho việc lựa chọn đúng hướng đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, tăng phúc lợi vật chất tinh thần của nhân dân…tức là đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các chỉ tiêu hiệu quả trên phạm vi nền kinh tế-hiệu quả kinh tế-xã hội Như vậy, hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải được xem xét và tính toán đồng thời trên cả hai phạm vi: Ở khâu cơ sở, nơi
dự kiến thực hiện đầu tư vốn đầu tư và trên bình diện nền kinh tế và xã hội
Một số chỉ tiêu phân tích hiệu quả của hoạt động đầu tư, đó là:
* Thời hạn thu hồi vốn: đó là số thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi đủ vốn đầu tư đã bỏ ra bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần và khấu hao hàng năm
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư xác định khoảng thời gian số vốn đầu tư bỏ vào thu hồi lại được hoàn toàn
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư có thể xác định theo thời hạn thu hồi vốn đầu tư giản đơn (ký hiệu là T) và thời hạn thu hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố thời gian của tiền (thời hạn thu hồi vốn đầu tư có chiết khấu T )
Trang 28Thời hạn thu vốn đầu tư giản đơn
T: thời hạn thu hồi vốn giản đơn
CFi = lợi nhuận + khấu hao
K: tổng vốn đầu tư ban đầu
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư có chiết khấu:
+ Phương pháp trừ dần:
Ki: là số vốn đầu tư qui về năm i
CFi = lợi nhuận + khấu hao năm i
ΔI = Ki - CFi là số vốn đầu tư đã thu hồi một phần tại năm i sẽ chuyển sang năm i + 1 để thu hồi tiếp
C B
Quy đổi các giá trị CFi về năm 0 rồi cộng lại cho đến khi bằng với giá trị K khi đó ta sẽ xác định được thời hạn thu hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố thời gian của tiền
* Tỷ lệ thu hồi vốn nội tại (IRR)
Tỷ lệ huy động vốn nội tại IRR là tỷ lệ lãi do dự án đem lại
Nếu ta huy động vốn với lãi suất r để thực hiện một dự án đem lại lãi suất IRR thì :
Nếu IRR<r dự án sẽ lỗ tức NPV < 0
Trang 29Nếu IRR=r dự án sẽ hoà vốn NPV=0
Nếu IRR>r dự án sẽ lãi tức NPV>0
IRR là một tỷ lệ lãi rất quan trọng để xác định hiệu quả đầu tư của một dự án IRR là tỷ lệ lãi mà nếu thay nó để xác định NPV thì NPV = 0 tức là :
C B NPV
C B
)(
= 0
Giải phương trình này dùng hai phương pháp nội suy và ngoại suy
* Chỉ tiêu hiện giá thuần (NPV)
n
o i
i i
r
CF NPV
) 1 (
Trong đó: CFi = Bi - Ci
Bi - Thu nhập năm i
Ci - Chi phí năm i
n- khoảng thời gian hoạt động của dự án r- tỷ lệ chiết khấu
NPV > 0 thì dự án đầu tư có hiệu quả và chỉ tiêu này càng lớn hơn không, hiệu quả càng cao
i B C
B
)1(
)1(/
t =1 → n
Trong đó: Bt thu nhập năm t
Ct Chi phí năm t
Trang 30i: suất chiết khấu
n: Tuổi thọ kinh tế hoặc thời hạn của dự án đầu tư Nếu B/C >1 : Thu nhập > Chi phí, dự án có lãi (hiệu quả ) Nếu B/C = 1 :Thu nhập = Chi phí, dự án không có lãi
Nếu B/C < 1: Thu nhập < Chi phí , dự án bị lỗ
Ưu điểm của chỉ tiêu này cho thấy mức thu nhập của một đồng chi phí, nhưng nhược điểm là không cho biết tổng số lãi ròng thu được (có dự án B/C lớn, nhưng tổng lãi ròng vẫn nhỏ )
- Các chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án đầu tư xây dựng cơ
bản: Đây là các chỉ tiêu phản ánh quy mô lãi của dự án
- Chỉ tiêu: Hệ số hoàn vốn hay tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư: Chỉ tiêu này nói lên mức độ thu hồi vốn đầu tư ban đầu từ lợi nhuận thuần thu được hàng năm
- Chỉ tiêu: Tỷ số lợi ích trên chi phí: Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ tương đối giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra
- Chỉ tiêu: Thời hạn thu hồi vốn đầu tư: Chỉ tiêu này thể hiện số thời gian cần thiết để mà dự án phải hoạt động để thu hồi đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra
- Chỉ tiêu: Hệ số hoàn vốn nội bộ-còn gọi là suất thu lợi nội tại, tỷ suất nội hoàn vốn đầu tư: Hệ số hoàn vốn nội bộ chính là mức lãi suất nếu dùng nó làm hệ
số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu cân băng tổng chi Chỉ tiêu này là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích hiệu quả tài chính dự án Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được
Ngoài ra, ở phạm vi này, việc đánh giá hiệu quả vốn đầu tư còn được thực hiện qua nhiều công cụ, chỉ tiêu khác nữa, ví dụ như: Chỉ tiêu điểm hoà vốn, chỉ tiêu đánh giá độ an toàn của dự án…
Ở phạm vi nền kinh tế, hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản được đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau đây:
Trang 31- Nâng cao mức sống của nhân dân: Được thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện qua sự đóng gốp của công cuộc đầu tư và việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển và đẩy mạnh công băng xã hội
- Gia tăng số lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các nước thừa lao động, thiếu việc làm
- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉ nghèo mà còn là nước nhập siêu Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu qua việc đầu tư đúng hướng, hợp lý là những mục tiêu quan trọng nhằm tích luỹ và tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia
- Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội vốn đầu tư XDCB: Như tạo điều kiện khai thác tài nguyên hợp lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ lao động, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế-xã hội các địa phương nghèo, các vùng mà điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn…
1.3 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng và hiệu quả vốn đầu tư xây dựng
1.3.1 Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng
Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng là công cụ quản lý mà chủ thể quản lý hình thành và sử dụng nhằm tác động, điều chỉnh và định hướng đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (đối tượng quản lý) Cơ chế đó là sản phẩm chủ quan của chủ thể quản lý, nhưng được hình thành và vận dụng dựa trên các quy luật khách quan, chủ yếu là các quy luật kinh tế, phù hợp với bản chất, đặc điểm và những điều kiện cụ thể của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng được thể hiện ở các hình thức tổ chức quản lý và phương pháp quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 32Các bộ phận cấu thành chủ yếu của cơ chế này là hệ thống tổ chức bộ máy quản lý và quá trình điều hành quản lý, hệ thống kế hoạch hoá đầu tư, hệ thống quản lý tài sản của đầu tư xây dựng cơ bản, hệ thống chính sách và đòn bẩy kinh tế,
hệ thống pháp luật có liên quan đến đầu tư và xây dựng; các quy chế, thể lệ, các chế
độ, hệ thống chuẩn mực, định mức, đơn giá…và các thể lệ khác trong quản lý đầu
tư và xây dựng
1.3.2 Hiệu quả vốn đầu tư xây dựng
Như đã trình bày ở trên, đầu tư xây dựng là lĩnh vực hoạt động có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế-xã hội Là một dạng hoạt động đầu tư phát triển, đầu tư xây dựng cơ bản có chức năng tạo ra và không ngừng đổi mới, hoàn thiện cơ
sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, từ đó mà có tác động quyết định đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội Song, như trình bày ở trên ta đã thấy, quá trình hình thành một dự án đầu tư và xây dựng, tức là quá trình hình thành một công trình xây dựng
là hết sức phức tạp, mang tính chất liên ngành, có sự tham gia của rất nhiều chủ thể,
từ những chủ thể mang quyền lực Nhà nước đến các đơn vị cơ sở thực hiện đầu tư xây dựng cũng như các ngành, các lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật có liên quan Do đó, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản có thể nói là một lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cấp nhiều ngành và sự tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định, các trình tự, thủ tục, chế độ…của các lực lượng tham gia
Cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước, Nhà nước ta đã không ngừng tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, bằng một hệ thống đồng bộ các chính sách, chế độ của ngành xây dựng và liên ngành Đồng thời cũng thường xuyên sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ này cho ngày càng thêm hiệu quả và phù hợp Và thực tế, ở một mức độ nhất định, trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua đã hình thành một cơ chế quản lý có
hệ thống Và quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý này không ngoài mục đích là ngày càng tác động một cách tích cực, hiệu quả lên hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo cho lĩnh vực hoạt động này thực hiện được tốt nhất chức năng quan trọng của mình đối với quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-
Trang 33xã hội Song xuất phát từ đặc điểm, vai trò của lĩnh vực này, thì thực chất cơ chế quản lý đầu tư xây dựng được hình thành và hoàn thiện chính là nhằm vào mục đích ngày càng nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vì rằng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cũng chính là cách để tạo ra và hoàn thiện cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII đã ghi rõ: “ Đổi mới cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản để ngăn chặn tiêu cực, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư nhất là các khâu thiết kế, xác định đơn giá xây dựng, nghiệm thu công trình, sử dụng dịch vụ thẩm định chất lượng, giá cả thiết
bị vật tư nhập khẩu và kiểm toán của các công ty trong và ngoài nước có uy tín trong lĩnh vực này Mỗi công trình đều phải có người làm cụ thể; nếu là công trình phải thu hồi vốn thì phải thu hồi đủ và đúng hạn cho Nhà nước Khai thác mọi khả năng tiết kiệm và tự đầu tư phát triển của nhân dân, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bằng mọi hình thức sao cho mọi tiềm năng đều được huy động, mọi đồng vốn đều được sinh lời…” Qua đó ta có thể thấy tính chất phức tạp của hoạt động này, tính đa ngành, tính đa diện trong quản lý cũng như vấn đề hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản luôn có tính chất thời sự Điều này cũng thể hiện vai trò tác động quan trọng của cơ chế quản lý đối với việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả vốn đầu tư Các nhân tố ảnh hưởng này tác động đến cả hai thành phần của hiệu quả vốn đầu tư Lợi ích công dụng của các đối tượng do kết quả của quá trình đầu tư tạo nên khi được đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chỉ ra nhằm tạo nên các kết quả ấy Do đó các nhân tố này tồn tại dọc theo suốt thời gian của quá trình đầu tư khi có chủ trương đầu tư ngay trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư được hoàn thành như:
- Chiến lược công nghiệp hoá: công nghiệp hoá được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ từ nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên một nền sản xuất lớn, hiện đại Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá sẽ ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế
Trang 34khác Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá đúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các chiến lược, các chính sách đúng đắn Đó là điều kiện cực kỳ quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nền kinh
tế tăng trưởng lâu bền, tạo nhiều việc làm, ổn định giá cả, đảm bảo nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư và thiết lập một xã hội cộng đồng văn minh, biểu hiện của việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Các chiến lược công nghiệp hoá từ trước tới nay đã được các nhà kinh tế tổng kết thành 4 mô hình: công nghiệp hoá, hình thành trong những điều kiện lịch sử khác nhau Thực tế đã chứng minh, quốc gia nào lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng đắn thì sự nghiệp công nghiệp hoá sẽ thành công, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả Các nước công nghiệp mới là những đã thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá theo mô hình
“công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu” Ngay cả cộng hoà dân chủ nhân dân Triều tiên, đất nước được mệnh danh là “ Thiên lý mã” thành công nhất trong công nghiệp hoá theo mô hình này thì sau đó và cho đến nay đã gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, theo đó vốn đầu tư được sử dụng kém hiệu quả
- Các chính sách kinh tế: các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách làm công cụ điều tiết vĩ mô hoặc vi mô như: Chính sách tài khoá ( công cụ chủ yếu là chính sách thuế và chi tiêu của Chính Phủ), chính sách tiền tệ (công cụ là chính sách lãi suất và mức cung ứng tiền), chính sách tỷ gia hối đoái, chính sách khấu hao, Các chính sách kinh tế tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tạo điều kiện cho nến kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở
để hình thành một cơ cấu hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoặc tăng thât thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu
Trang 35cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành cơ cấu hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoăc tăng thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích cực hay tiêu cực
Đó là điều kiện làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp công nghiệp hoá
sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Nếu các chính sách kinh
tế phụ hợp với mô hình chiến lược công nghiệp hoá, tạo điều kiện cho sự thành công của công nghiệp hoá, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả
- Công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng:Tổ chức quản lý đầu tư xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều nội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh
tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư do nhà nước quản lý, chống thât thoát lãng phí Bảo đảm xây dựng dự án theo quy hoạch xây dựng yêu cầu bền vững mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý, bảo hành công trình xây dựng
Việc tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với các dự án thuộc nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước và vốn do doanh nghiệp Nhà nước Phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Theo đó, nội dung gồm:
Trang 36+ Phân loại dự án đầu tư theo tính chất, quy mô đầu tư để phân cấp quản lý + Công tác kế hoạch hoá đầu tư để tổng hợp cân đối vốn đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, dự báo các cân đối vĩ mô ở các doanh nghiệp cân đối và phản ánh đầy đủ các nguồn vốn khấu hao cơ bản, tích luỹ
từ lợi tức sau thuế, các nguồn huy động trong và ngoài nước
+ Công tác giám định đầu tư các dự án do cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu
tư
+ Công tác xây dựng cơ chế chính sách về quản lý quy hoạch quản lý đầu tư xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, hệ thống định mức chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí tư vấn, xây dựng đơn giá,
+ Công tác chuẩn bị đầu tư, thăm dò thị trường, thu thập tài liệu, môi trường sinh thái, điều tra khí tượng thuỷ văn, lập dự án đầu tư, điều tra, khảo sát thiết kế, + Công tác đấu thầu xây dựng theo quy chế
+ Công tác tổ chức chuẩn bị thực hiện dự án, quản lý thi công xây lắp, triển khai thực hiện dự án đầu tư
+ Công tác kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn đầu tư
+ Công tác tạm ứng, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành
Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản theo trình tự XDCB có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Nhóm nhân tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, trước hết là tác động đến việc tạo ra kết quả đầu tư (các đối tượng đầu tư hoàn thành) và tác động đến chi phí đầu tư
Chất lượng của công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng nói trên sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát lãng phí vốn đầu tư, cũng tạo điều kiện cho các kết quả đầu tư tăng hay giảm về mặt khối lượng và mang lại nhiều hay ít các lợi
Trang 37ích kinh tế - xã hội khi khai thác sử dụng các kết quả đầu tư này Do những thiếu sót trong công tác quản lý đầu tư xây dựng đã làm cho vốn đầu tư bị thất thoát lãng phí Một số đối tượng đầu tư hoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng không như mong muốn làm cho số vốn đầu tư sử dụng kém hiệu quả
- Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành: nhân tố này thuộc mắt xích cuối cùng của sợi dây chuyền hiệu quả Tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ mang lại một khối lượng cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hàng hoá dịch vụ này với nhu cầu hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế của vốn đầu tư Đây là một trong hai nhân tố cấu thành hiệu quả vốn đầu tư Tổ chức khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành
có kết quả tốt hay không lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố:
+ Do tác động của việc chọn mô hình chiến lược kinh tế và tác động của công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng các nhân tố này tuỳ theo mức độ đúng đắn, thích hợp của chúng mà tác động tích cực hay tiêu cực đến kết quả khai thác các đối tượng đầu tư hoàn thành
+ Các nhân tố thuộc bản thân tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành như công tác quản lý, tổ chức sản xuất, công tác nghiên cứu triển khai áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, công tác tiếp thị chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công tác cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm
Các nhân tố này, theo vị trí riêng của chúng, có thể tác động độc lập và theo mối liên hệ tác động lẫn nhau giữa chúng có thể tác động tổng hợp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Như vậy, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng hoạt động và đóng vai trò như một lực tác động tổng hợp lên quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, đảm bảo cho việc thực hiện đầu tư xây dựng diễn ra thuận lợi, nói cách khác một cơ chế quản lý phù hợp sẽ
là tác nhân hết sức quan trọng đối với quá trình thực hiện và vật chất hoá vốn đầu tư
Trang 38xây dựng cơ bản để trở thành cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế, tức là đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.4 Kết luận chương 1:
Trên đây là một số vấn đề lý luận chung về đầu tư xây dựng cơ bản và cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Trong chương này chủ yếu nêu rõ một số khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản và vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vai trò của nó Ngoài ra cũng nói rõ các nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản, bản chất và nội dung kinh tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản cũng như cách phân loại vốn đầu
tư xây dựng cơ bản Những vấn đề trong công tác quản lý đầu tư xây dựng các dự
án thuỷ lợi
Hiện nay công tác Quản lý đầu tư xây dựng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và Thuỷ lợi nói riêng đều phải tuân theo Luật xây dựng đã được ban hành Tuy nhiên hệ thống các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư hướng dẫn, ) còn chưa đáp ứng được yêu cầu trong thực tế, việc triển khai thực hiện Luật ở mỗi ngành, mỗi cấp còn những bất cập nhất định do còn có sự nhận thức khác nhau Nhìn lại quá trình thực hiện công tác đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi trong những năm qua, chúng ta nhận thấy nổi lên vấn đề thực hiện dự án chậm, khả năng giải ngân thấp so với yêu cầu, công tác thanh quyết toán kéo dài, công trình chậm được đưa vào sử dụng dẫn đến hiệu quả đầu tư hạn chế Với yêu cầu về quy mô đầu
tư lớn hơn trong vài năm tới nếu vẫn vận hành hệ thống như hiện nay thì chắc chắn không đạt yêu cầu
Một số dự án xây dựng chưa nhận được nhiều sự đồng thuận của người dân Vấn đề này có thể do thông tin dự án chưa đến hoặc thông tin chưa đầy đủ cho nhân dân, có thể do mẫu thuẫn giữa các nhóm lợi ích khác nhau nhưng cũng có thể có dự
án chưa thực sự khả thi và chưa hẳn đã thuyết phục về hiệu quả tổng hợp không chỉ Kinh tế mà còn là Mội trường và Xã hội
Trang 39Trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ 1990 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, ba cơ quan đầu ngành về quản lý đầu tư và xây dựng là: Bộ Xây dựng, Bộ Tài Chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã được thủ tướng Chính Phủ giao nhiệm vụ cùng với các bộ, ngành có liên quan, nghiên cứu đổi mới
cơ chế quản lý trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng Sự đổi mới này được thể hiện trong các nội dung của Điều lệ Quản lý đầu tư và xây dựng tại Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ, Điều lệ Quản lý đầu tư và xây dựng tại Nghị định
số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ, Nghị định 92-CP ngày 23/8/1997 và gần đây là quy chế Quản lý đầu tư và Xây dựng 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính Phủ và gần đây vào năm 2003 là Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của Chính Phủ Đến năm 2005 thì lại ra đời Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ thay thế 52/1999/NĐ-CP; 12/2000/NĐ-CP và 07/2003/NĐ-CP và vào năm 2006 Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 Gần đây nhất là Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ thay thế Nghị định 16/2005/NĐ-CP và Nghị định 112/2006/NĐ-CP Sau đó Nghị định 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về sửa đổi,bổ sung một số điều của Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 cùng với các văn bản hướng dẫn của các Bộ: Kế hoạch đầu tư, Tài Chính, Xây dựng, Quỹ hỗ trợ đầu tư Mục tiêu của quá trình hoàn thiện này không ngoài lý do là nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thông qua các biện pháp chống lãng phí, tiêu
Trang 40cực và đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng Có thể nói, quá trình này là sự vận dụng tích cực đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước và những phương pháp quản lý tiên tiến của khu vực và quốc tế trong lĩnh vực đầu tư
và xây dựng vào thực tế nước ta
Kết quả là, việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản cho đến nay đã hình thành một cơ chế rõ ràng và có hệ thống, tuy nó chưa đáp ứng được những yêu cầu kịp thời và cụ thể cho từng lĩnh vực, song nó có tác dụng tăng cường quản lý đầu tư, chống thất thoát, hạn chế lãng phí, thực hiện tiết kiệm, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản và càng đẩy nhanh tốc độ và quy mô đầu tư, đặc biệt là chiến lược đầu tư được tập trung cho những công trình trọng điểm, có tác dụng làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1 Chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trong đầu tư và xây dựng sang “cơ chế quản lý theo dự án”
Với cơ chế này đòi hỏi phải từng bước thay đổi cách quản lý từ khâu lập dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng, lãnh thổ; quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch xây dựng đô thị-nông thôn; quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị và quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai Các quy hoạch này đều có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, đó là những ràng buộc về không gian, thời gian, quy mô, địa điểm, môi trường, tài nguyên…
Trong 5 năm 1996-2000 Nhà nước đã tập trung chỉ đạo việc lập và phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội cho hầu hết các vùng, đồng thời với việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành, các khu công nghiệp tập trung…riêng đồ
án quy hoạch đô thị và các khu công nghiệp tập trung được duyệt là cơ sở pháp lý
để quản lý đô thị, tiến hành công tác đầu tư xây dựng; lập kế hoạch cải tạo, xây dựng đô thị hàng năm, ngắn hạn và dài hạn thuộc các ngành và địa phương Nếu như trước năm 1990, hầu như cả nước chưa có quy hoạch chung đô thị được duyệt, thì đến nay 86 thành phố, thị xã đã có quy hoạch chung được duyệt đến năm 2010
và hiện đang trong giai đoạn điều chỉnh đến năm 2020 Đối với 457 thị trấn và gần