MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI - Thu thập và hệ thống các chủ trương và văn bản của Đảng liên quan đến kiểm tra giám sát về đất đai và đầu tư xây dựng - Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư xây dự
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Toàn
Trang 2Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dậy trong thời gian học cao học tại Tr-ờng Đại học Thuỷ lợi, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Quản lý thuộc Tr-ờng Đại học Thuỷ lợi nơi tôi làm luận văn đã tận tình giúp
đỡ và truyền đạt kiến thức để tôi có thể hoàn thành đ-ợc luận văn này
Tác giả cũng xin bày đỏ lòng cảm ơn đến tập thể lãnh đạo, anh em trong cơ quan, anh em, bạn bè đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho tác giả trong quá trình làm luận văn
Lời cảm ơn sau cùng xin đ-ợc gửi tới mọi ng-ời trong gia đinh luôn quan tâm, động viên để tôi cố gắng hoàn thành luận văn
Hà nội, ngày 28 tháng 02 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thế Toàn
Trang 33 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4 Kết quả dự kiến đạt được
1.1.2 Nội dung quản lý giám sát nhà nước về đầu tư xây dựng
1.1.3 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng (thường gọi là bên B)
1.1.4 Các bước tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu
11
13
16
16
1.2 Các văn bản chính sách của nhà nước liên quan đến kiểm tra
giám sát về đất đai và đầu tư xây dựng
18
1.2.1 Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009
1.2.2 Chủ trương, nghị quyết của của Đảng và các văn bản có nội dung
liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát về đầu tư và xây dựng
1.2.3 Chương trình kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nội dung
kiểm tra về đầu tư xây dựng từ năm 2002 đến 2010
1.2.4 Pháp luật của Nhà nước điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng từ
18
24
27
27
Trang 4năm 2002 đến 2010
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát các dự án
1.3.1 Đặc điểm tình hình chung
1.3.2 Khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư
1.3.3 Công tác xây dựng kế hoạch thực hiện giám sát dự án
1.3.4 Công tác quản lý nhà nước về đầu tư giám sát xây dựng
1.3.5 Công tác quản lý dự án của chủ đầu tư
1.3.6 Nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
1.3.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác giám sát dự án
Chương 2 - Thực trạng đầu tư xây dựng, sử dụng đất đai và công
tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất đai bằng nguồn vốn
ngân sách nhà nước ở các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ
36
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế
Trang 52.4 Thực trạng công tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất
đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
49
2.4.1 Kết quả kiểm tra, thanh tra theo Chương trình của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và thực trạng sai phạm, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây
dựng ở khu vực trung du, miền núi Bắc bộ
2.4.2 Kết quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi
phạm của UBKT các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ từ năm 2002-2008
2.4.3 Kết quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi
phạm của Vụ Địa phương II Cơ quan UBKT Trung ương từ năm
2002-2008 ở khu vực trung du, miền núi Bắc bộ
2.4.4 Kết quả thanh tra ở một số tỉnh và một số vụ việc điển hình vi
phạm nghiêm trọng về đầu tư xây dựng ở khu vực trung du, miền núi
Chương 3 - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát,
hiệu quả đầu tư và sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà
nước ở các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ
64
3.1 Kinh nghiệm trong công tác kiểm tra giám sát đầu tư sử dụng
đất đai
64
3.1.1 Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
3.1.2 Trong giai đoạn thực hiện đầu tư
3.1.3 Giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa công trình vào khai thác sử dụng
65
66
72
3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát
dự án đầu tư đất đai ở các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ
72
Trang 63.2.1 Các yếu tố khách quan
3.2.2 Các yếu tố chủ quan
72
73
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát dự án đầu tư
sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách tại các tỉnh trung du và
miền núi Bắc Bộ
75
3.3.1 Công tác giám sát thường xuyên
3.3.2 Lựa chọn cán bộ kiểm tra
3.3.3 Nắm chắc địa bàn và đối tượng kiểm tra
3.3.4 Thẩm tra – xác minh
3.3.5 Báo cáo kết quả kiểm tra
3.3.6 Đối tượng kiểm tra
Trang 8MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đầu tư xây dựng có vị trí rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia Trong những năm qua Đảng và nhà nước
ta rất quan tâm đến công tác đầu tư xây dựng, hằng năm đã dành mức đầu tư tương đối lớn cho lĩnh vực này Các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ ngân sách nhà nước đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng văn hoá-xã hội, bình quân mỗi năm 1000 tỷ đồng Có thể nói, công tác đầu tư xây dựng trong những năm qua có những chuyển biến rõ nét, tạo ra cơ sở hạ tầng, một diện mạo mới cho đất nước, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác này còn bộc lộ nhiều tồn tại, sai phạm, thất thoát, lãng phí xảy ra ở tất cả các giai đoạn đầu tư xây dựng, ở các cấp quản
lý trên phạm vi toàn quốc, trong đó có 16 tỉnh trung du và miền núi Bắc bộ Nhiều cán bộ đảng vi phạm kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư, ảnh hưởng uy tín của Đảng, sự quản lý điều hành của nhà nước Nghiêm trọng hơn tình trạng
chạy dự án, chạy được làm chủ đầu tư, chạy được nhận thầu công trình, hành vi
có đi có lại, lại quả trong đầu tư xây dựng đã trở thành việc làm bình thường,
luật bất thành văn, tồn tại ngay trong ý thức và việc làm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư xây dựng Đầu tư xây dựng cơ bản đã và đang trở thành những vấn đề nhạy cảm, nhức nhối, thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, công luận và báo chí, các
tổ chức đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan chống tham nhũng, cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra, các tổ chức chống tội phạm quốc tế… Xuất
Trang 9phát từ yêu cầu bức bách hiện nay, nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, góp phần ngăn chặn đẩy lùi những sai phạm, thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 14-NQ/TW
ngày 30/7/2007 (Hội nghị Trung ương V, khoá X ) “về tăng cường kiểm tra, giám sát của đảng” là phải tập chung kiểm tra, giám sát những nơi thường dễ xảy ra vi phạm như lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, tài
chính, ngân hàng, thương mại, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; những nơi
có dấu hiệu ban hành chủ chương, chính sách trái với nghị quyết, chỉ thị của đảng, pháp luật của nhà nước Kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan nhà nước ở các cấp về năng lực lãnh đạo, quản lý, phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách và tính tiền phong, gương mẫu trong việc thực hiện nhiệm vụ
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm tra giám sát các dự
án đầu tư sử dụng đất đai bằng vốn ngân sách nhà nước ở các tỉnh Trung du, miền núi Bắc Bộ” có tính cấp thiết và mang tính thực tiễn
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Thu thập và hệ thống các chủ trương và văn bản của Đảng liên quan đến kiểm tra giám sát về đất đai và đầu tư xây dựng
- Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư xây dựng, sự dụng đất đai và thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, quản đầu tư và sử dụng đất
III CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, điều tra cơ bản thu thập và phân tích các số liệu
Trang 10IV KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC:
- Các chủ trương và văn bản của Đảng liên quan đến kiểm tra giám sát về đất đai
và đầu tư xây dựng
- Thực trạng đầu tư xây dựng, sự dụng đất đai và thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, quản lý đầu tư và sử dụng đất đai tại các tỉnh Trung Du, miền núi Bắc Bộ
Chương 3 - Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát, hiệu quả đầu tư
và sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ
Kết luận và Kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG 1 CĂN CỨ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ KIỂM TRA GIÁM SÁT CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
1.1 Nội dung công tác và quy trình kiểm tra giám sát các dự án đầu tư sử dụng đất đai
1.1.1 Tổng quan chung
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng chủ yếu (khoảng 90%) trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển, khoảng 3% trong tổng chi thường xuyên (để tu bổ sửa chữa lớn trụ sở làm việc…) của ngân sách nhà nước Ngoài ra còn
có nguồn vốn tín dụng của nhà nước, nguồn vốn vay do nhà nước bảo lãnh để đầu tư xây dựng cơ bản theo quy định việc quản lý sử dụng như vốn ngân sách nhà nước
Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình gắn liền với đất xây dựng công trình Mỗi công trình có một địa điểm xây dựng và chịu chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, môi trường, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư xây dựng công trình Sản phẩm xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc, mỗi hạng mục công trình, công trình có thiết kế dự toán riêng Mục đích đầu tư và các điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, môi trường, khí hậu, thời tiết… của nơi đầu tư sẽ quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô, kết cấu, khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ, thi công… và dự toán chi phí của từng hạng mục công trình, công trình Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng được tạo ra trong một thời gian dài, ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, thuỷ lợi, giao thông, xây dựng,
y tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh…mỗi loại có những đặc điểm kinh tế
kỹ thuật riêng Đầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn
Trang 12chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công phải thường xuyên di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu xây dựng công trình
Như vậy để có được sản phẩm xây dựng (hàng hoá đặc biệt), nhà nước ta đầu tư
lớn tiền vốn, công sức, nghiên cứu, ban hành các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức, các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ hoạt động đầu tư xây dựng với mục tiêu yêu cầu các chủ thể tham gia phải tuân thủ pháp luật, nhà nước mua được hàng hoá với giá trị phù hợp, chất lượng đảm bảo Hoạt động đầu tư xây dựng là lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cán bộ, đảng viên tham gia Cán bộ kiểm tra, giám sát về đầu tư xây dựng, ngoài những phẩm chất chung, còn phải hiểu biết được quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về đầu tư xây dựng và những vấn đề cốt yếu dưới đây:
Hoạt động xây dựng bao gồm việc lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, lập kế hoạch vốn đầu tư, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giải phóng mặt bằng (nếu có), thi công xây dựng công trình, quản lý
dự án, lựa chọn nhà thầu, giám sát thi công, thanh toán, quyết toán xây dựng công trình và các hoạt động khác có liên quan Chia theo giai đoạn, thì hoạt
động xây dựng gồm 03 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư (lập quy hoạch xây dựng, lập
dự án đầu tư xây dựng công trình, kế hoạch vốn đầu tư), giai đoạn thực hiện đầu
tư (khảo sát, thiết kế xây dựng công trình, giải phóng mặt bằng (nếu có), lựa
chọn nhà thầu, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công, quản lý dự
án…), và giai đoạn kết thúc đầu tư (nghiệm thu, thanh, quyết toán đưa dự án
vào khai thác sử dụng, bảo hành công trình…)
Trang 131.1.2 Nội dung quản lý giám sát nhà nước về đầu tư xây dựng
1) Nội dung quản lý nhà nước:
Nội dung quản lý nhà nước về giám sát đầu tư xây dựng bao gồm các công tác sau đây:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các hoạt động xây dựng;
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng; Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng;
Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng;
Cấp và thu hồi giấy phép trong hoạt động xây dựng;
Hướng dẫn kiểm tra, thanh tra, giải quyết tố táo, khiếu nại và xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng;
Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ;
Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động;
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng…
2) Các cơ quan quản lý nhà nước quản lý về giám sát đầu tư xây dựng:
+ Cấp Trung Ương: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây
dựng, Bộ Tài chính, Kho bạc, Thanh tra chính phủ Các bộ chuyên ngành như: giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, bưu chính viễn thông…
+ Cấp địa phương: Hội đồng nhân dân, UBND, các cơ quan liên quan: kế
hoạch đầu tư, tài chính, kho bạc, xây dựng, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp và PTNT…
- Cơ quan kế hoạch đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sở kế hoạch và đầu tư, phòng tài chính kế hoạch…), có chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp
Trang 14luật và cấp quyết định đầu tư giao: tham mưu, thẩm định danh mục đầu tư, bố trí vốn đầu tư; thẩm định dự án đầu tư; thẩm định kế hoạch đấu thầu, kết quả đâú thầu trình chủ quản đầu tư quyết định Giám định, thanh tra, kiểm tra dự án đầu
tư theo quy định
- Cơ quan tài chính (Bộ Tài chính, sở tài chính, phòng tài chính…): Phối hợp cơ quan kế hoạch đầu tư cân đối bố trí vốn cho dự án; xây dựng đơn giá vật tư, vật liệu… làm cơ sở lập dự toán công trình; tham mưu, thẩm định phương án, dự toán bồi thường giải phóng mặt bằng; thẩm định quyết toán dự án hoàn thành; thanh tra việc quản lý sử dụng sử dụng vốn đầu tư dự án theo quy định
- Cơ quan kho bạc (Kho bạc TW, kho bạc tỉnh, kho bạc huyện): kiểm soát tạm ứng, thanh toán vốn dự án đầu tư trên cơ sở đề nghị cuả chủ đầu tư theo quy định
3) Các cơ quan quản lý giám sát dự án
Các cơ quan quản lý dự án đầu tư đất đai bao gồm:
- Cấp quyết định đầu tư hay chủ quản đầu tư là tổ chức hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật
- Chủ đầu tư (thường gọi là bên A) là người chủ sở hữu vốn hoặc là người được
giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình
Chủ đầu tư có chức năng, nhiệm vụ: đàm phán ký kết, giám sát việc thực hiện
hợp đồng; đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công theo quy định của pháp luật; dừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu khắc phục hậu quả khi nhà thầu vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và
vệ sinh môi trường; yêu cầu tổ chức cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng; không thanh toán giá trị khối lượng không đảm bảo chất lượng hoặc khối lượng phat sinh không hợp lý; lựa
Trang 15chọn nhà thầu có đủ năng lực hoạt động thi công phù hợp để thi công xây dựng công trình; tham gia cùng với UBND cấp có thẩm quyền hoặc chủ trì phối hợp với UBND cấp có thẩm quyền giải phóng mặt bằng xây dựng để giao cho nhà thầu xây dựng công trình; tổ chức giám sát thi công; kiểm tra biện pháp đảm bảo
an toàn, vệ sing môi trường; tổ chức nghiệm thu thanh toán, quyết toán công trình; thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết; xem xét quyết định các đề xuất có liên quan đến thiết kế của nhà thầu thi công; tôn trọng quyền tác giả thiết kế; Mua bảo hiểm công trình; lưu chữ hồ sơ công trình; bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng làm thiệt hại cho nhà thầu thi công, nghiệm thu không đảm bảo chất lượng làm sai lệch kết quả nghiệm thu và các hành vi vi phạm khác khác do lỗi của mình gây ra; chịu trách nhiệm về các quyết định của mình, chịu trách nhiệm về đảm bảo công trình thi công đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả; các quyền và nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật
- Ban quản lý dự án (thường gọi là bên A): do chủ quản đầu tư hoặc các bộ,
UBND tỉnh, thành phố thành lập, có nhịêm vụ làm chủ đầu tư hoặc giúp chủ đầu
tư tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ của chủ đầu quản lý dự án theo quy định của pháp luật và quyết định của chủ quản đầu tư Có 3 loại hình ban quản lý dự án:
+ Ban quản lý dự án chuyên ngành: được cấp có thẩm quyền quyết định thành
lập và cho giao quản lý đầu tư xây dựng thuộc lĩnh vực, chuyên môn theo ngành
Từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh đều có các ban này, như các ban chuyên trách quản lý xây dựng các công trình thuỷ lợi, công trình giao thông, công trình điện lực, công trình công nghiệp và dân dụng…Các ban này do các Bộ, ngành TW và các sở chuyên ngành quản lý
Trang 16+ Ban quản lý của một dự án: do cấp quyết định đầu tư thành lập khi có quyết
định đầu tư dự án Sau khi công trình hoàn thành, ban này hết nhiệm vụ và giải thể
+ Ban quản lý dự án chuyên trách: được cấp có thẩm quyền quyết định thành
lập và giao quản lý tất cả các loại hình dự án được đầu tư xây dựng trên địa bàn Các ban này thường có ở cấp huyện và một số cấp tỉnh, thành
1.1.3 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng (thường gọi là bên B):
Là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia các quan hệ trong hoạt động xây dựng Nhà thầu trong hoạt động xây dựng, gồm có:
- Tư vấn quy hoạch, tư vấn lập dự án, khảo sát thiết kế, tư vấn giám sát, tư vấn xét thầu
- Nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung cấp thiết bị…
- Tổng thầu xây dựng, gồm chủ yếu có các hình thức sau: Tổng thầu toàn bộ dự án; tổng thầu thiết kế; tổng thầu thi công; tổng thầu cung cấp thiết bị…
1.1.4 Các bước tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu:
1) Lập kế hoạch đấu thầu: thường được lập đồng thời với việc lập dự án
hoặc lập, duyệt ngay sau khi hoàn thành việc khảo sát thiết kế do chủ quản đầu tư quyết định) Căn cứ dự án được duyệt, thiết kế dự toán, tổng
dự toán (nếu có), nguồn vốn của dự án; các văn bản pháp lý liên quan để lập kế hoạch đấu thầu
2) Nội dung kế hoạch đấu thầu, gồm: phân chia gói thầu, tên từng gói thầu,
giá gói thầu, nguồn vốn, hình thức lựa chọn nhà thầu (chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế, đấu thầu rộng rãi), thời gian lựa chọn nhà nhà, hình thức
Trang 17hợp đồng (hợp đồng khoán gọn; hợp đồng có điều chỉnh giá), thời gian thực hiện hợp đồng Kế hoạch đấu thầu do chủ đầu tư lập, cơ quan kế hoạch đầu tư thẩm định và cấp quyết định đầu tư phê duyệt
3) Lập hồ sơ mời thầu: do chủ đầu tư trực tiếp hoặc giao ban quản lý dự án
thực hiện, trình cấp quyết định đầu tư phê duyệt Căn cứ quyết định đầu
tư, kế hoạch đấu thầu, thiết kế, dự toán; pháp luật về đấu thầu, các chính sách của nhà nước về thuế, tiền lương, ưu đãi và các quy định khác có liên quan để lập hồ sơ mời thầu
4) Nội dung hồ sơ mời thầu, gồm: các yêu cầu về kiến thức kinh nghiệm
chuyên môn đối gói thầu tư vấn; yêu cầu về phạm vi cung cấp, số lượng, chất lượng hàng hoá, đặc tính, thông số kỹ thuật, tiêu chuân công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất, vệ môi trường, thời gian bảo hành… đối với gói thầu mua sắm hàng hoá; yêu cầu theo thiết kế được duyệt đối với gói thầu xây lắp Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá trong hồ sơ mời thầu, như: Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực kinh nghiệm của nhà thầu: năng lực kỹ thuật; kinh nghiệm thực hiện; năng lực tài chính, thương mại; Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật: đáp ứng hồ sơ thiết kế được duyệt và tiên lượng; giải pháp bảo đảm kỹ, mỹ thuật, chất lượng, tiến độ; Xác định giá đánh giá
5) Tổ chức đấu thầu: Phát hành hồ sơ mời thầu, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, mở
thầu do chủ đầu tư hoặc ban quản lý dự án thực hiện
6) Đánh giá hồ sơ dự thầu: Đánh giá sơ bộ, đánh giá chi tiết, xếp hạng hồ sơ
dự thầu theo giá đánh giá, chủ đầu tư có thể thuê tư vấn hoặc thành lập tổ xét thầu để tổ chức thực hiện Kết quả đấu thầu do cơ quan kế hoạch đầu
tư thẩm định, trình cấp quyết định đầu tư phê duyệt Chủ đầu tư thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng
Trang 187) Về phân loại dự án: Gồm dự án nhóm A là các dự án đặc biệt quan trọng,
dự án có quy mô, vốn đầu tư lớn, kỹ thuật, công nghệ cao (thường do Chính phủ quản lý hoặc uỷ quyền cho Bộ ngành TW quyết định đầu tư)
Dự án nhóm B và nhóm C (thường do các địa phương, bộ ngành TW quyết định đầu tư)
Như vậy đối tượng kiểm tra giám sát sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng của Uỷ ban Kiểm tra (UBKT) các cấp vừa là cấp uỷ lãnh đạo, vừa người người đứng đầu (hoặc người được giao) cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng, đồng thời là người (hoặc cấp) quyết định đầu tư và là chủ đầu tư Căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của UBKT các cấp thì việc
kiểm tra về đầu tư XDCB nếu làm tốt sẽ được đánh giá toàn diện, cả người lẫn việc, cả bề rộng và chiều sâu của toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư xây dựng
Quan trọng hơn là được kiểm tra giám sát đúng người, đúng nơi là nguồn gốc, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân phát sinh sai phạm, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư và xây dựng, sử dụng đất đai
1.2 Các văn bản chính sách của nhà nước liên quan đến kiểm tra giám sát
về đất đai và đầu tư xây dựng
1.2.1 Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009
Nhằm hạn chế tình trạng các dự án đầu tư, đặc biệt là từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước bị sử dụng không hiệu quá, lãng phí, gây thất thoát, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 về giám sát và đánh giá đầu tư, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2010
Trang 19Việc giám sát, đánh giá đầu tư sẽ áp dụng đối với các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên và cả các dự án sử dụng nguồn vốn khác; bao gồm 3 nội dung:
Theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án
Nghị định quy định về nội dung giám sát, đánh giá cũng như việc tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư và hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng tất cả các nguồn vốn
Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, các nội dung theo dõi sẽ được chia thành 3 cấp: Chủ đầu tư, người có thẩm quyền quyết định đầu tư và
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư Về chế độ kiểm tra, chủ đầu tư tự tổ chức kiểm tra thường xuyên; người có thẩm quyền quyết định đầu tư sẽ tổ chức kiểm tra ít nhất 1 lần đối với các dự án có thời gian thực hiện dài hơn 12 tháng còn
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất
Ngoài ra, sẽ thực hiện đánh giá đầu tư đối với các dự án: Các dự án nhóm B trở lên phải thực hiện đánh giá ban đầu và đánh giá kết thúc dự án; các dự án có phân kỳ đầu tư theo giai đoạn phải thực hiện đánh giá giữa kỳ khi kết thúc từng giai đoạn thực hiện
Đối với các dự án sử dụng nguốn vốn khác, các nội dung theo dõi được chia thành 2 cấp là chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư Về nội dung kiểm tra, người có thẩm quyền cấp đầu tư sẽ kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai còn cơ quan quản lý nhà nước, ngoài các nội dung trên sẽ kiểm tra sự phù hợp của dự án với các quy hoạch liên quan
Trang 20Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn khác, đánh giá dự án không phải nội dung bắt buộc mà chỉ khuyến khích chủ đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác thực hiện các đánh giá đầu tư Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư chỉ quyết định việc tổ chức đánh giá khi cần thiết và phù hợp với yêu cầu về quản lý hoạt động đầu tư
Một số ý kiến cho rằng Nghị định quy định phạm vi, đối tượng điều chỉnh như vậy là quá rộng Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Tự - Vụ phó Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với các dự án sử dụng nguồn vốn không phải vốn nhà nước thì Nhà nước chỉ theo dõi, đánh giá 4 nội dung chính
là quy hoạch, đất đai, ảnh hưởng môi trường và tiến độ thực hiện dự án Như vậy, đối với các dự án này, Nhà nước chỉ giám sát các nội dung mang tính chất
vĩ mô, còn việc huy động vốn ra sao, bán sản phẩm như thế nào là trách nhiệm của chủ đầu tư Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Nghị định này không quá rộng
Hơn nữa, hoạt động kiểm tra, đánh giá là định kỳ nhưng phải theo kế hoạch Có nghĩa là căn cứ vào nguồn lực, tài chính thì lên kế hoạch kiểm tra tính khả thi, không có nghĩa là tất cả các dự án trong một kỳ phải kiểm tra và đánh giá hết,
mà tuỳ theo nguồn lực tài chính, con người mà có kế hoạch cho phù hợp
Điều chỉnh các dự án có từ 30% vốn nhà nước
Nghị định quy định, việc giám sát, đánh giá đầu tư sẽ áp dụng đối với các
dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên và cả các dự án sử dụng nguồn vốn khác; bao gồm 3 nội dung là theo dõi, kiểm tra và đánh giá dự án Đồng thời quy định về nội dung giám sát, đánh giá cũng như việc tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư và hoạt động đầu tư trực tiếp sử dụng tất cả các nguồn
Trang 21vốn Đối với các dự án sử dụng trên 30% vốn nhà nước, các nội dung theo dõi sẽ
do 3 chủ thể đảm trách: chủ đầu tư (cập nhật tình hình thực hiện dự án đầu tư, tình hình quản lý thực hiện dự án, tình hình xử lý phản hồi thông tin), người có thẩm quyền quyết định đầu tư (theo dõi tình hình thực hiện chế độ báo cáo của chủ đầu tư, tổng hợp tình hình thực hiện dự án đầu tư, phản hồi và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền, theo dõi việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý của chủ đầu tư) và các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (tương tự nội dung theo dõi của người có thẩm quyền quyết định đầu tư) Cả 3 cấp này đều phải kịp thời báo cáo và đề xuất các phương án xử lý các khó khăn vướng mắc, các vấn đề vượt thẩm quyền
Về chế độ kiểm tra dự án đầu tư, chủ đầu tư tự tổ chức kiểm tra thường xuyên; người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ chức kiểm tra ít nhất 1 lần đối với các dự án có thời gian thực hiện dài hơn 12 tháng, kiểm tra khi điều chỉnh dự
án làm thay đổi địa điểm, quy mô, mục tiêu, vượt tổng mức đầu tư từ 30% trở lên và các trường hợp khác cần thiết kiểm tra; cơ quan quản lý nhà nước về đầu
tư tổ chức kiểm tra theo kế hoạch hoặc đột xuất
Bên cạnh đó, phải thực hiện đánh giá đầu tư đối với các dự án: Các dự án nhóm B trở lên phải thực hiện đánh giá ban đầu và đánh giá kết thúc dự án; các
dự án có phân kỳ đầu tư theo giai đoạn phải thực hiện đánh giá giữa kỳ khi kết thúc từng giai đoạn thực hiện Người có thẩm quyền quyết định đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư quyết định thực hiện các loại đánh giá khác khi cần thiết, phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng dự án
Đối với các dự án sử dụng nguốn vốn khác, các nội dung theo dõi chỉ được chia thành 2 cấp là chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư Về nội
Trang 22dung kiểm tra, người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận (GCN) đầu tư sẽ kiểm tra tiến độ thực hiện dự án; việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai, sử dụng tài nguyên khoáng sản; việc thực hiện các nội dung quy định tại GCN đầu tư; phát hiện và kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc và sai phạm trong quá trình thực hiện dự án, giám sát việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý các vấn đề đã phát hiện Còn cơ quan quản lý nhà nước, ngoài các nội dung trên sẽ kiểm tra sự phù hợp của dự án với các quy hoạch liên quan; việc chấp hành các chính sách, chế độ quy định của nhà nước, của ngành và địa phương áp dụng cho dự án Về đánh giá dự án, đây không phải là nội dung bắt buộc mà chỉ khuyến khích chủ đầu tư
sử dụng các nguồn vốn khác thực hiện các đánh giá đầu tư Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư chỉ quyết định việc tổ chức đánh giá khi cần thiết và phù hợp với yêu cầu về quản lý hoạt động đầu tư
Không thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo sẽ bị xử lý
Nghị định quy định cụ thể chế độ báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư cũng như quy định chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về giám sát, đánh giá đầu tư Theo đó, các cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư báo cáo kịp thời các cấp có thẩm quyền những trường hợp vi phạm về quản lý đầu tư thuộc cấp mình quản lý để xử lý đúng quy định Các cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư cố tình che giấu các trường hợp vi phạm về quản lý đầu tư sẽ chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật về các sai phạm và hậu quả gây ra
Trong thời hạn quy định mà các Bộ, ngành, địa phương không gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ báo cáo Thủ tướng
Trang 23Chính phủ và kiến nghị các hình thức xử lý thích hợp Đối với các dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên, chủ đầu tư không thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thì cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư cần báo cáo cấp có thẩm quyền và kiến nghị các hình thức xử lý về hành chính (2 kỳ liền không có báo cáo hoặc 3 kỳ không báo cáo, đề nghị hình thức cảnh cáo; 3 kỳ liền không có báo cáo hoặc 6 kỳ không báo cáo, đề nghị chuyển công tác những người liên quan) Các dự án không thực hiện báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư 2 kỳ liền hoặc 3 kỳ trở lên trong năm trước sẽ không được ghi vốn kế hoạch năm sau Các cấp có thẩm quyền không được phép điều chỉnh dự án đầu tư/GCN đầu tư đối với các dự án không thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thường kỳ
Có thể nói, Nghị định 113 được ban hành sẽ khắc phục những tồn tại của công tác giám sát, đánh giá đầu tư và thống nhất cơ sở pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức giám sát, đánh giá toàn bộ hoạt động đầu tư thuộc phạm vi quản lý của mình Việc giám sát và đánh giá này có ý nghĩa rất quan trọng để đồng vốn, nhất là đồng vốn nhà nước, được sử dụng đúng mục tiêu và đảm bảo sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Đánh giá về hiệu quả của Nghị định, vấn đề chính là những đơn vị và cá nhân liên quan thực hiện như thế nào Việc thực hiện phải nghiêm túc mới đảm bảo việc tiền kiểm sang hậu kiểm hiệu quả Chủ đầu tư là tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước phải theo dõi dự án của họ và báo cáo lên cấp trên Qua
hệ thống đó, các cơ quan nhà nước biết được các dự án có sử dụng vốn nhà nước được triển khai, sử dụng như thế nào Mục đích của nghị định không phải là đợi làm sai để xử lý, mà là phát hiện các sai phạm trong quá trình thực hiện để kịp thời chấn chỉnh Tức là phòng bệnh hơn chữa bệnh
Trang 24Việc giám sát và đánh giá này có ý nghĩa rất quan trọng để đồng vốn, nhất là đồng vốn nhà nước, được sử dụng đúng mục tiêu và đảm bảo sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Chi phí giám sát, đánh giá đầu tư bao gồm các chi phí liên quan đến công tác
giám sát, đánh giá đầu tư ở các cấp Cụ thể là, chi phí cho công tác giám sát, đánh giá đầu tư do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước theo kế hoạch hàng năm của cơ quan thực hiện nhiệm vụ này Chi phí cho công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư do chủ đầu tư tự thực hiện hoặc thuê tư vấn thực hiện được tính trong tổng mức đầu tư của dự án Định mức chi phí giám sát, đánh giá đầu tư và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng chi phí giám sát, đánh giá đầu tư sẽ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính quy định
1.2.2 Chủ trương, nghị quyết của của Đảng và các văn bản có nội dung liên
quan đến công tác kiểm tra, giám sát về đầu tư và xây dựng
1) Nghị quyết đại hội X đã xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu phải phấn đấu thực hiện trong nhiệm kỳ này”; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, trang 258, nêu rõ: Thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp để phòng chống tham nhũng trong
bộ máy nhà nước…Tập trung chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra phòng chống tham nhũng trong một số lĩnh vực trọng điểm, như: quản lý đất đai, đầu tư XDCB, quản lý tài chính trong doanh nghiệp nhà nước; thu chi ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công; công tác quy hoạch, tuyển dụng, đề bạt, bố trí cán bộ
2) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá X; Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24/11/2006 của Bộ Chính trị ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về
Trang 25công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng, khoá X, tại Điều 33 có ghi: Việc thi hành kỷ luật trong Đảng cần tập trung vào những vi phạm về quan điểm, đường lối…Cụ thể:
Những hành vi tham nhũng, buôn lậu của cán bộ, đảng viên ở bất kỳ cấp nào, lĩnh vực nào; quan liêu, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để địa phương, đơn vị mình trực tiếp phụ trách xảy ra lãng phí, tham nhũng…gây hậu quả nghiêm trọng Bản thân gây thiệt hại về kinh tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không bồi hoàn
3) Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 (Hội nghị lần thứ III, khoá X) của BCH Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” Phần II, Mục 5, 6 chỉ rõ:
Chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và hoạt động mua sắm công Các cấp uỷ đảng lãnh đạo thực hiện nghiêm túc Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng Thực hiện công khai minh bạch trong quyết định, chủ trương đầu tư Nghiêm túc thực hiện quy định về đấu thầu xây dựng từ ngân sách nhà nước Ngăn chặn tình trạng người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà thầu cùng một cơ quan đơn vị Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất làm nhiệm
vụ quản lý dự án Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước…
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng Tập trung kiểm tra, thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm, như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, thu- chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngân hàng thương mại
Trang 264) Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 30/7/2007 (Hội nghị Trung ương V khoá X)
về tăng cường kiểm tra, giám sát của Đảng; Chương trình hành động số CTr/KTTW ngày 19/12/2007 của UBKT Trung ương Hướng dẫn số 08-HD/KTTW ngày 28/9/2007 của UBKT Trung ương thực hiện Nghị quyết Trung
72-ương V, khoá X về tăng cường kiểm tra, giám sát của Đảng, đã nêu rõ: Tập chung kiểm tra, giám sát những nơi thường dễ xảy ra vi phạm như lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, tài chính, ngân hàng, thương mại,
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; những nơi có dấu hiệu ban hành chủ chương, chính sách trái với nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật của nhà nước Kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan nhà nước ở các cấp về năng lực lãnh đạo, quản lý, phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách và tính tiền phong, gương mẫu trong việc thực hiện nhiệm vụ…
5) Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24/3/2008 của UBKTTW
6) Quy định số 115-QĐ/TW ngày 07/12/2007 về những điều đảng viên không được làm của Bộ Chính trị Hướng dẫn số 12-HD/UBKTTW ngày 07/4/2008 của UBKTTW thực hiện Quy định số 115-QĐ/TW, tại điều 9 quy định có ghi:
Làm trái các quy định của đảng, nhà nước trong những việc: thẩm định, phê duyệt, đấu thầu, giao nhận dự án…là những điều đảng viên không được làm
7) Các Quyết định số 122,123,124,126,127,128,129,130… ngày 24/01/2008 của Ban Bí thư ban hành quy chế phối hợp giữa UBKTTW với: Văn phòng TW Đảng, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban Tổ chức TW,
Trang 27Đảng uỷ Quân sự TW, BCS đảng Toà án ND Tối cao, Đảng uỷ Công an TW,…BCS đảng Viện KSND Tối cáo, Kiểm toán Nhà nước, trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật
1.2.3 Chương trình kiểm tra của Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nội dung kiểm tra về đầu tư xây dựng từ năm 2002 đến 2010
1) Chương trình kiểm tra 12/4/2002 của Bộ Chính trị; Thông báo số 108-TB/TW
của Bộ Chính trị ngày 14/5/2003
2) Chương trình kiểm tra số 90-CTr/TW ngày 15/5/2003: Cấp phát sử dụng
ngân sách; mua quản lý sử dụng xe ô tô; trang bị và sử dụng điện thoại; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc; tổ chức các cuộc họp, hội nghị tiếp khách;
3) Chương trình kiểm tra số 07-CTr/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị, thời điểm kiểm tra từ năm 2003-2005 với 3 nội dung: Quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước cho mua sắm vật tư trang thiết bị, tài sản; quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho XDCB và việc nợ đọng vốn trong XDCB; quản lý và sử dụng đất đã giao cho các dự án
4) Chương trình kiểm tra số 67-CTr/TW ngày 03-01-2008 của Bộ Chính trị về việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong các lĩnh vực: quản lý sử dụng đất đai đã giao cho các dự án; quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước trong chi tiêu, mua sắm tài sản, đầu tư XDCB; việc tổ chức các đoàn đi nước ngoài
1.2.4 Pháp luật của Nhà nước điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng từ năm
2002 đến 2010
1) Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000, Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 ban hành quy
Trang 28chế về đầu tư xây dựng; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999, Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000, Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của chính phủ ban hành quy chế đấu thầu; Nghi định số 88/1999/NĐ-
CP ngày 01/9/1999; Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05-5-2000 của Chính phủ ban hành quy chế đấu thầu và Thông tư số 04/2000/TT-BKH ngày 26/5/2000 của Bộ Kế hoạch-Đầu tư hướng dẫn thực hiện Quy chế đấu thầu
2) Luật đất đai năm 1993; Luật đất đai sửa đổi năm 1998, 2000 và năm 2001; Nghị định số 22/CP ngày 24/4/1988 của Chính phủ về đền bù giải phóng mặt bằng; Luật Đất đai ngày 26/11/2003; Nghị định181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007; Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đất đai và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài nguyên-Môi trường; Bộ Tài chính
3) Luật ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách và các thông tư hướng dẫn về thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng
4) Luật Xây dựng ngày 26/11/2003; Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005, Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/6/2005; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006, của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và các thông tư hướng dẫn; các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, quy trình, quy phạm của Bộ Xây dựng và các bộ xây dựng chuyên ngành ban hành
Trang 295) Luật Đấu thầu ngày 29/11/2005; Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu; các thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ xây dựng chuyên ngành ban hành
6) Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29/11/2005; Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 cua Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó Điều 3 chỉ rõ các hành vi
tham nhũng: đưa hối lộ, môi giới hối lộ để được giao, phê duyệt dự án cho các
cơ quan tổ chức đơn vị, địa phương; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để không bị kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán hoặc làm sai lệch kết quả nhằm che dấu hành vi vi phạm pháp luật
7) Luật Đầu tư ngày 29/11/2005 và Nghị định số 108/2006/2006, NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đầu tư và các thông tư hướng dẫn của
Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Bộ Xây dựng
8) Luật nhà ở ngày 29/11/2005; Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở và các thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên-Môi trường
Trang 301.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất đai
1.3.1 Đặc điểm tình hình chung
Các đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế, quy
hoạch vùng có ảnh hưởng lớn đến việc giám sát kiểm tra đầu tư sử dụng đất đai rất lớn
Các dự án đầu tư xây dựng thường trải dài, rộng trên phạm vi diện tích lớn do đó nó chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên: địa hình, địa chất, khí hậu Ở mỗi vùng, mỗi khu vực có điều kiện tự nhiên khác nhau do đó nó dẫn đến việc công tác kiểm tra và giám sát đối từng loại dự án với quy mô, tính chất, dạng kiến trúc khác nhau phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng dự án
1.3.2 Khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quan trọng trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP theo dự kiến thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn và các yếu tố khác Trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư là một hàng hoá “đặc biệt”, mà đã là hàng hoá thì tât yếu phải vận đọng theo một quy luật chung là lượng cầu vốn thường lớn hơn lượng cung về vốn Do đó, muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để thoả mãn như cầu về vốn trong nền kinh tế Huy động được nhưng cần xây dựng các phương án sử dụng vốn đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí
1.3.3 Công tác xây dựng kế hoạch thực hiện giám sát dự án
Công tác xây dựng kế hoạch thực hiện giám sát dự án vừa là nội dung vừa là công cụ để quản lý hoạt động đầu tư xây dựng Trong nền kinh tế thị
Trang 31trường công tác xây dựng kế hoạch có vai trò rất quan trọng, nếu buông lỏng công tác xây dựng kế hoạch thì thị thường sẽ phát triển tự do, thiếu định hướng gây ra những tác động tiêu cực, tác động xấu đến nền kinh tế
Xây dựng kế hoạch phải đảm bảo những nguyên tắc:
- Kế hoạch phải xuất phát từ nhu cầu của nền kinh tế
- Kế hoạch đầu tư phải dựa vào các định hướng phát triển lâu dài của đất nước, phù hợp với các quy định của pháp luật
- Kế hoạch phải dựa trên khả năng huy động các nguồn lực trong và ngoài nước
- Kế hoạch phải có mục tiêu rõ rệt
- Kế hoạch phải đảm bảo được tính khoa học và tính đồng bộ
- Kế hoạch phải có tính linh hoạt kịp thời
- Kế hoạch phải có tính linh hoạt gối đầu
- Kế hoạch phải kết hợp tốt kế hoạch năm và kế hoạch dài hạn
- Kế hoạch phái có độ tin cậy và tính tối ưu
- Kế hoạch đầu tư trực tiếp phải được xây dựng từ dưới lên
- Kế hoạch định hướng của nhà nước phải là kế hoạch chủ yếu
1.3.4 Công tác quản lý nhà nước về giám sát đầu tư xây dựng
- Cơ chế quản lý dự án đầu tư xây dựng: Nếu cơ chế quản lý dự án đầu tư xây dựng phù hợp, tạo được động lực và sự ràng buộc về quyền lợi, trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo của chủ đầu tư thì sẽ phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư và ngược lại
- Quyết định đầu tư dự án phải đúng phù hợp với chủ trương đầu tư, phù hợp với quy hoạch chung của vùng, ngành và khu vực
1.3.5 Công tác quản lý dự án của chủ đầu tư
Quản lý dự án của chủ đầu tư chính là sự tác động liên tục, có định hướng
Trang 32quá trình đầu tư từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án trong những điều kiện cụ thể xác định
- Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, quản lý phải đảm bảo chất lượng và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu, dự đoán, tính toán
- Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư, quản lý phải đảm bảo tiến độ, chất lượng với chi phí thấp nhất
- Đối với giai đoạn vận hành, quản lý để đảm bảo nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra hoặc phát huy được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất
1.3.6 Nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
Ở bất kỳ hình thái KT-XH nào, con người vẫn là trung tâm của mọi sự phát triển, nhất là thời đại ngày nay, việc chăm lo đầy đủ cho con người là đảm bảo chắc chắn cho sự phồn vinh và thịnh vượng CNH-HĐH và cách mạng con người là hai mặt của quá trình thống nhất Đầu tư xây dựng là một lĩnh vực có vị trí quan trọng trong việc tạo đà phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng CNH-HĐH, theo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt quá trình đầu tư xây dựng sẽ đem lại được hiệu quả cao nhất
Con người là nhân tố tác động trực tiếp đến công tác đầu tư xây dựng, các dự án đầu tư rất phức tạp và đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực; vì vậy cán bộ, công nhân tham gia trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cần phải
có khả năng về chuyên môn, có đạo đức để đáp ứng yêu cầu về năng lực trình
độ, thích ứng với cơ chế thị trường là điều kiện thuận lợi phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại
1.3.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác giám sát dự án
Trang 33a) Các nhân tố bên trong:
Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án bao gồm :
- Trình độ của cán bộ tham gia quản lý dự án
- Thông tin truyền tải trong quá trình thực hiện dự án
- Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý
- Mô hình quản lý tại đơn vị
Trong đó trình độ của cán bộ quản lý là quan trọng nhất đối với công tác quản lý dự án bởi vì một dự án có thành công hay không là phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý và kinh nghiệm thực tế của cán bộ quản lý Các yếu tố thông tin cũng góp một phần không nhỏ vào quá trình quản lý Nếu thông tin sai lệch, thiếu chính xác, hay bị chậm trễ thì dự án sẽ không thể đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như tiến độ thời gian Dựa vào các thông tin nhận được từ các cán bộ tham gia dự án, các tổ chức tư vấn, nhà thầu hay thông tin từ bên ngoài, nhà quản lý sẽ nắm bắt được thực trạng của dự án từ đó có những điều chỉnh kịp thời các sai sót hoặc đưa ra các giải pháp khắc phục nhanh chóng nhất Bên cạnh đó cơ sở vật chất phục vụ quá trình quản lý dự án cũng là một nhân
tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý Nhà quản lý chỉ có thể thực hiện tốt công tác quản lý dự án khi có đủ các vật chất cần thiết bởi vì quá trình quản lý dự án là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài và đòi hỏi
sử dụng nhiều đến các phương tiện vật chất Tuy nhiên, một yếu tố không thể không kể đến đó là việc áp dụng mô hình tổ chức quản lý dự án Tuỳ thuộc vào quy mô dự án, thời gian thực hiện,công nghệ sử dụng, nguồn lực, chi phí dự án… mà lựa chọn mô hình quản lý cho phù hợp nhằm đảm
Trang 34bảo một mô hình quản lý năng động, hiệu quả, phù hợp với những thay đổi của môi trường cạnh tranh, công nghệ quản lý và yêu cầu quản lý b) Các nhân tố bên ngoài bao gồm:
- Môi trường luật pháp, chính sách
- Sự phối hợp của các cơ quan có liên quan
- Môi trường kinh tế; tự nhiên; xã hội
- Các ảnh hưởng khác
Có thể thấy rằng các nhân tố bên ngoài cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý dự án Môi trường luật pháp ổn định, không có sự chồng chéo của các văn bản, không có hiện tượng nhũng nhiễu, tiêu cực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý dự án Hơn nữa,các chính sách về tài chính tiền
tệ, về tiền lương… cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình quản lý Dự án có thể hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng hay không cũng phụ thuộc nhiều vào sự kết hợp của các cơ quan, các cấp ngành có liên quan, nếu sự phối hợp đó là chặt chẽ, có khoa học thì sẽ là cơ sở vững chắc góp phần tạo nên hiệu quả quản lý dự
án
Kết luận chương 1
Với những nội dung đã được nêu trong chương 1 tác giả muốn đưa ra một cách
cơ bản nhất khái niệm về nội dung công tác và quy trình kiểm tra giám sát các
dự án đầu tư xây dựng sử dụng đất đai Đồng thời tác giả cũng chỉ ra các văn bản chính sách của nhà nước liên quan đến kiểm tra giám sát về đất đai và đầu
tư xây dựng mà trong đó Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 là rất quan trọng cho công tác kiểm tra và giám sát các dự án
Trang 35Chương 1 cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất đai như: Đặc điểm tình hình chung; Khả năng huy động
và sử dụng vốn đầu tư; Công tác xây dựng kế hoạch thực hiện giám sát dự án; Công tác quản lý nhà nước về đầu tư giám sát xây dựng; Công tác quản lý dự án của chủ đầu tư; Nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng; và Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác giám sát dự án tác động bên trong và bên ngoài
Để đề xuất các các giải pháp kiểm tra giám sát các dự án đầu tư sử dụng đất đai bằng vốn ngân sách nhà nước ở các tỉnh Trung du, miền núi Bắc Bộ trong chương 2 của luận văn tác giả sẽ trình bày về thực trạng Thực trạng đầu tư xây dựng, sử dụng đất đai và công tác kiểm tra giám sát các dự án sử dụng đất đai bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước ở các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ trong những năm gần đây
Trang 36CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA GIÁM SÁT CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI BẮC BỘ
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích rộng lớn (102,9 nghìn km2), với vị trí địa lí đặc biệt, giáp với Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường ô tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai và Móng Cái
Trung du và miền núi phía Bắc kề liền với khu vực đồng bằng sông Hồng, giao lưu dễ dàng (nhất là vùng Đông Bắc) với khu vực kinh tế phát triển sôi động này của đất nước Phía Đông là vịnh Bắc Bộ, một vùng biển giàu tiềm năng
Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm vùng Tây Bắc núi non hiểm trở và vùng Đông Bắc với các núi thấp và đồi, các dãy núi hình cánh cung Đây là những vùng giàu tài nguyên để phát triển nông nghiệp (trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, chăn nuôi gia súc lớn), công nghiệp (tài nguyên năng lượng, kim loại và không kim loại), du lịch, kinh tế biển và phần nào là lâm nghiệp (vì tài nguyên rừng đã bị suy thoái nhiều)
Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông…) Nơi đây có Việt Bắc, cái nôi của cách
mạng, có Điện Biên Phủ lịch sử Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc
Trang 372.1.2 Điều kiện dân sinh kinh tế
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của cả nước; có vai trò lớn về môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ với nhiều tiềm năng lợi thế về nông-lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu và kinh tế trang trại
Vùng Trung du miền núi Bắc Bộ có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống gắn bó lâu đời, mang đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống và đa dạng cần bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị
Đây là vùng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống gắn bó lâu đời, mang đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống và đa dạng cần bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị Tuy nhiên, vùng này còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế phát triển
chậm, cơ sở hạ tầng thiếu và yếu kém Vùng vẫn là nơi nghèo nhất của cả nước, khoảng cách thu nhập với các vùng khác có xu hướng ngày càng lớn Trình độ dân trí còn thấp Tiềm năng trong vùng khai thác chưa hiệu quả, còn đơn lẻ và thiếu liên kết vùng
2.1.3 Định hướng phát triển vùng
Nghị quyết 37-NQ/TW ngày 1/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ giai đoạn 2006-2010 và Quyết định số 79/2005/QĐ-TTg ngày 15/4/2005 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW Khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế, địa chính trị, tài nguyên đất đai, khoáng sản nhằm xây dựng vùng TDMNBB có
Trang 38môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư trong và ngoài nước Ngoài ra, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội của vùng TDMNBB Tạo ra vùng không gian kinh tế liên tỉnh với các mối liên kết và ảnh hưởng tương hỗ tích cực và phát triển bền vững
Quy hoạch hệ thống đô thị và các điểm dân cư nông thôn phát triển đồng bộ với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả vùng Hình thành các trung tâm kinh tế lớn, cụm đô thị động lực mạnh, các điểm dân cư nông thôn – làm hạt nhân phát triển thực hiện CNH,HĐH và đô thị hóa trong toàn vùng Làm cơ sở cho công tác quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị và nông thôn; xây dựng các chương trình phát triển, các dự án đảm bảo phát triển vùng bền vững
Bộ Xây dựng vừa có văn bản phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng trung du và miền núi Bắc bộ đến năm 2030 nhằm cải thiện và phát triển nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH, khai thác hiệu quả các nguồn tài
nguyên, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa, gắn phát triển KT-XH với bảo đảm quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường
Vùng quy hoạch bao gồm 14 tỉnh trung du và miền núi Bắc bộ (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình) và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An (bao gồm các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Lang Chánh, Như Xuân, Như Thành, Thường Xuân, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát của Thanh Hoá và Thanh Chương, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn của Nghệ An) Diện tích toàn vùng là 117.186km2, dân số khoảng 13.303.000 người
Trang 39Việc quy hoạch mang tính khoa học, phù hợp và gắn kết hài hòa với chiến lược phát triển KT-XH của quốc gia và các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
2.2 Thực trạng đầu tư xây dựng khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ
16 tỉnh trung du và miền núi Bắc bộ bao gồm Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh Có 07 tỉnh thuộc
vùng đặc biệt khó khăn, 08 tỉnh có đường biên giới giáp với Lào và Trung Quốc
Có 45/149 huyện và 827/2.731 xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135-giai đoạn II của Chính phủ Dân số trên 13 triệu người (chiếm 13% dân số cả nước),
có 33 dân tộc anh em sinh sống; địa hình nhiều đồi núi, cơ sở hạ tầng tuy đã được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu cho phát triển; là khu vực thường xuyên xảy ra tình trạng sạc lở đất, lũ quét, ảnh hưởng đến lớn đến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Đời sống, thu nhập của đồng bào các dân tộc còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo bình quân chiếm gần 24% (cao nhất là Bắc Kạn 34,4%, thấp nhất là Vĩnh Phúc 12% - số liệu tháng 12/2008) Các tỉnh Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Thái Nguyên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là những địa bàn hấp dẫn đầu tư, có tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt cao, năm sau cao hơn năm trước Vĩnh Phúc và Quảng Ninh đã tự cân đối được ngân sách, còn lại 14 tỉnh trong khu vực hằng năm Trung ương hỗ trợ trên 70% ngân sách, gần 100% vốn cho đầu tư phát triển, trong đó đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng văn hoá-xã hội, bình quân (2005-2009) mỗi tỉnh 200 tỷ đồng/năm
Trang 40Các tỉnh trung du, miền núi Bắc bộ có tổng số 154 ban quản lý dự án chuyên trách, trong đó có 64 ban quản lý dự án (xây dựng, giao thông, thuỷ lợi…) do UBND tỉnh quyết định thành lập và 90 ban quản lý dự án do UBND cấp huyện thành lập Các ban quản lý dự án cấp tỉnh cơ bản đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn cán bộ quản lý dự án Ban quản lý dự án do cấp huyện quản lý đa số chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng cán bộ nên có khó khăn trong quá trình quản lý điều hành dự án
Địa bàn 16 tỉnh khu vực có trên 690.000 đảng viên, có 08 đồng chí bí thư tỉnh uỷ là Uỷ viên Trung ương Đảng; có 04 đồng chí Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng; có tổng số 57 đồng chí thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý
Bộ máy UBKT, cơ quan UBKT các cấp trong khu vực luôn được củng cố, kiện toàn nhất là sau Đại Hội lần thứ X của Đảng, Ngành kiểm tra được bổ sung thêm nhiệm vụ giám sát Tổng số cán bộ kiểm tra chuyên trách ở cấp tỉnh là 374 cán bộ, cấp huyện và tương đương 1.115 cán bộ; Vụ II Cơ quan UBKT Trung ương 17 cán bộ Có một đặc điểm khác với các ngành chuyên môn khối cơ quan nhà nước là cán bộ Ngành kiểm tra luôn biến động, việc lựa chọn, tuyển dụng cán bộ làm kiểm tra có năng lực chuyên môn về các lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật, như đầu tư XDCB… là khó khăn, hạn chế đến chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra
Để phân tích cụ thể và rõ hơn về thực trạng đầu tư của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, do số liệu thu thập tương đối lớn nên trong phạm vi luận văn cao học tác giả xin phép phân tích thực trạng đầu tư xây dựng, và giám sát việc sử dụng đất đai tại tỉnh Vĩnh Phúc, nơi có nhiều dự án đầu tư điển hình nhằm chỉ ra các tồn tại để nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm tra giám sát các dự án đầu tư sử