1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo trình đại cương lịch sử việt nam toàn tập phần 2

20 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó trói buộc người nồng dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòí có lợi cho sự bdc ìột của nhà nước phong kiến và cản trà sự phát triển của nén kinh tế hàng hda.. Người nông dân sau mộ

Trang 1

LỊCH SỬ VIỆT NAM

(18S8-194S)

Trang 3

p hXn m ộ t

V IỆT NAM (1858-1896)

Chương /

VIỆT NAM ĐỐI DIỆN VỎI NGUY C ơ THựC DÂN P h Ắ p x â m LƯỌC

CUÔC KHÁNG CHIẾN BẮT ĐẦU

I - K H Ủ N G H O ẤN G S U Y V ON G

C Ủ A VƯO N G T R I Ề U N G U Y Ễ N

Tư bàn Phảp đã chọn đúng lúc đõi nổ súng xâm lược Việt Nam khi chế

độ (ihong kiến Việt Nam đang đi sáu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Chê clộ phong kiến Việt Nam đã khùng hoàng nậng từ cuối thế kỉ XVIII Nhiínt; tnám mống đầu tién cùa chũ nghía lư bản trong nước đã xuất hiện

và nKiiy cùng miìu thuàn đỗi kháng với quan hệ kinh lổ phong kiến bảo thủ iạc hậu bao đời thống trị xă hội Viộl Nam Nên kinh tế tiểu nông đang cẩn được phát triển, nhưng bị ch<? độ chiốm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiôm trọng Dây củng lã thời ki búng nô’ các cuộc khỏi nghĩa nông dân trên một quy mô rộng lứn trong phạm vi cả nưởc, đòi hỏi đất nước phải sớm thống nhất Cuộc khòi nghĩa cùa nông dân Tây Sơn tháng lợi đã mở

ra nhiêu Iriển vọng cho sự phát triền cùa lực lượng sàn xuăt theo hướng

tư bíin chù nghỉa Nhưng dựa vào thế lực tư bàn Pháp, Nguyễn Ảnh đã đánh tháng Tây Sơn Có thể khảng định rằng triổu Nguyền thành lập là sự tháng thế của tập đoàn phong kiến tối phân động trong nước có tư bản nưỏc ngoài ủng hô đối với triéu đại Tfiv Sdn tương đối tiến bộ hơn vé nhiẽu mặt Ngay sau khi iẻn ngôi (1802), Nguyền Ánh ỉẵv niên hiệu là Gia Long và các vua tiếp theo (Minh Mạng, 'rhiôu Trị, Tự Đức) ngày càng đi sâu vào

Trang 4

con đường phản động, vừa ra sức phục hổi và cung cỗ quíin hệ sản xuất cũ, vừa cố tinh bdp nghẹt lực ỉượng sản xuẩt mới đả manh nha phát triển hổi thế kỉ XVIII Mọi chính sách chính trị, kinh tế, vãn hóa, hội triểu Nguyễn ban hành đều nhằm mục đỉch duy nhát là bảo vệ đậc qviyr^n đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn

Bộ máy chính trị triểu Nguyễn ngay từ đáu đã mang nậng tính chril quan liêu, độc đoán và sâu mọt Đd là một nhà nước quân chù chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ vói một chẽ độ chính trị lạc hậu, phản động Mọi quyén hành đểu tập trung trong tay nhà vua Vua được coi là *’con trời", "thay trời" trị dân; quyển hành nhà vua được coi là "thấn khí” thiêng liẽng, vô hạn Nhà vua trong thực tế là đại địa chủ lớn nhát trong nưâc có toàn quyẽn phung phí tài sàn quốc gia trên xương rnáu của nhản dân Còn quan lại trong triéu và ở các địa phương hấu hết là bọn hủ bại; chinh trị thi bảo thù, cẫu an; kinh tế thỉ tham lam và cuổng bạo Từ vua đến quan đốu rát tự cao tự đại với mớ học thuyết Khổng, Mạnh lỗi thời, xem trậ t tư phong kiến

là bẩt di bất địch, mài đến lúc súng giặc nổ ầm bên tai mới bàng hoàng tỉnh giăc Trong hoàn cảnh đó, đời sống cùa người nông dán trong các thôn

xă vô cùng cơ cực Dưới triéu Nguyên, tổ c h ứ c xã th ô n đă h o à n toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thổn Nó trói buộc người nồng dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòí có lợi cho sự bdc ìột của nhà nước phong kiến và cản trà sự phát triển của nén kinh tế hàng hda Nén kinh tế tư hừu của nông dân bị xâm phạm nghiôni trọng Ruộng đất phán nhiéu tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ Công điển, công thổ chỏ nào mẩu mỡ béo tót đều bị bọn cường hào lủng đoạn, còn lại thì bọn

Cho nên, nối chung nồng dân không cđ ruộng cày, đời sống vô cùng cực khổ Hiện tượng nông dân không ruộng đất cày cấy làm án phải bỏ làng

đi tha phương cấu thực là nét phổ biến dưới triéu Nguyễn Chi từ nồm 1802 đến nâm 1806, nông dân trên 370 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bác xiêu tán đi nơí khác Đến nám 1826, lại đến 108 xă thôn thuộc mười ba huyện của trán Hải Dương xiêu tán, cộng thêm vào đđ là tô thuế rẵt nặng nể, Dố

là chưa kể tớí tình trạng vờ đê, iụt lội, m ất mùa đdi kém thường xảy ra, hẩu như không nâm nào khỡng cd Dê Vủn Giang à Hưng Yên vờ 18 nám lién, biến cả một vùng đổng bằng phì nhiêu à Khoái Châu thành bãi đất hoang, nhân dân vùng này phài từng đoàn lang thang kéo nhau đi các nơi xin ản Tại các vùng ở Bắc Ninh, Sơn T ây lại có nạn chãu cháu phá hoại mùa màng, v ì vậy, nạn đói xảy ra thường xưyên Ngay trước khi tư bàn

Trang 5

Pháp sáp nổ súng đảnh vào Đà Nảng (1858), một trận đdi ghẽ gớm đà xấy

ra làm cho hàng chục vạn nhân dán các linh Trung Bác KI bị chết Đổng thời, cùng do sự bất lưc của bọn phong kiến thống trị hối đd, nạn dịch đâ hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người

Trước tình hlnh bi thảm đó, để xoa dịu và ngân ngừa dân chúng nổi dậy chông ]ại, phong kiến triéu Nguyễn đã có một số biện pháp Minh Mạng ra lệnh cho Nguyên Công Trứ chiêu dân tiến hành khai hoang mién ven biển lập ra hai huyện Tiển Hải (Thái Bỉnh), Kim Sơn (Ninh Bỉnh) trong hai năm

1828 - 1829; T ự Dức giao cho Nguyễn Tri Phương lo liệu việc mộ dân lập

ãp ở N a m Kỉ từ nám 1853 Nhiéu đân bị tù tội đâ được đưa vào đây khai khấn Nhưng tã t cả các biện pháp trên đéu không mang lại kết quả đáng

kể vỉ đéu xuất phát từ lợi ích cùa giai căp thống trị Người nông dân sau một thời gian đổ mổ hôi sôi nước mát lại thấy ruộng đẫt do tay mỉnh làm

ra bị bọn phong kiến cướp đoạt Vỉ vậy, nạn nông dân lưu tán, nhẵt là đến đời Tự Đức khi tư bản Pháp sắp nổ súng khởi hán, lại càng trở nẽn phổ biến kháp cà nưâc và ngày càng trầm trọng hơn lên Đđ ià một trong nhừng nét tiêu biểu của thời kỉ khủng hoàng suy vong của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triéu Nguyền

Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tỉnh trạng tiêu điéu xơ xác như vậy thì công nghiệp nằm trong tay bọn phong kiến triều Nguyền cùng ngày một

bế tác

Chính sách của triéu Nguyễn vể mặt cống nghiệp vỗ cùng phản động Phong kiến nhà Nguyễn nám trong tay những ngành kinh doanh lớn Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đức tiền; các xưởng nhò chuyên chế tạo

đó dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc; các công trường xây dựng cung điộn, thành quách, lăng tẩm đểu do bộ Công của triểu đỉnh quản lí Chế độ !àm việc trong các công xưởng này ià chế độ "công tượng" mang nặng tính chẩt cưỡng bức lao động, Những người thợ giỏi ở các địa phương

bị bát vé đây được phiên ch ế thành đội ngủ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt cùa quan lại nên rất bất măn, không phấn khởi với công việc

Triêu đình phong kiến còn giữ độc quyển ngành khai mỏ Số tnỏ được khai thác từ 1802 đến 1858 là 139 mỏ, bao gổm đù các loại Nhưng phấn lớn c á c mỏ đểu do bọn quan lại triéu đình đứng ra khai thác, chi một số ít

là đo chủ mỏ Hoa kiẽu hay Việt Nam chủ trl Phương thức sản xuát trong

cả ba loại mỏ cản bản vần là lối sản xuất thủ công cá thể với những hỉnh

31.Đ C LSV N T.tập

Trang 6

thức bdc lột phong kiến mang nặng tính chăt nô dịch Nâng suẫt trong các công trường mò vỉ vậy thường thấp Đả thế, triẽu Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ đo Hoa kiểu hay người Việt đứng ra khai ihác Nhiéu phép tác vô H làm hạn chế sự phát triển của ngành khai mỏ, như quy định những khu vực cám khai mỏ, giủ độc quyén thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định

Các nghé thủ công trong nhân dân không ctí điểu kiện phát triển Tại các công xưởng thủ công, mậc dù không có một chế độ phường hội chặi chẽ theo kiểu các nước phong kiến châu Âu, nhưng các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau và rất nhiéu luật lệ cẵm đoán của triéu đỉnh đà làm cho sáng tiến, tài náng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt Các nghé thủ công nhỏ và nghé phụ gia đinh ở nông thữn còn bị dinh đốn vi nông dân đói khổ, li tán Thù công nghiệp háu như bị tê liệt

Thuơng nghiệp dưới triẽu Nguyễn sút kém một cách rõ rệt Chính sách

"trọng nông ức thương" của triêu đình đà kỉm hâm thương nghiệp Ví nội thương, một mặt chúng nám độc quyén buôn bán nguyên liệu công nghiệp (như đổng, thiếc, chỉ, kẽm, nhất là lưu hoàng, diêm tiêu), vi 8Ợ nhãn dân chế vũ khỉ chống lại Mật khác, chúng đặt ra nhiéu luật !ệ chặt chẽ để liểm chế, như nám độc quyển buôn bán cà đỗi với một số lârn sản quý giá :ưãp đoạt của đổng bào miễn núi (quế, gạc hươu, sáp ong, ngà voi, gồ quý); dánh thuế nậng vào các mật hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như 1Ú£ gạo

đề hạn chế việc chuyôn chở trao đổi giữa các vùng trong nước; cám ihân dân họp chợ Việc giao lưu giữa các địa phương vỉ vậy gập rất nhiẽi trở ngại, thị trưòng trong nưốc không tập trung và thống nhất

Ngoại thương củng bị triéu đinh nám độc quyén Thực hiện chính ỉách

bế quan tỏa cảng, triẽu đinh chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu iước ngoài lui tới buôn bán Chl được nhập vào những hàng htía triéu đinh cần (như sất, chỉ, gang, lưu hoàng để iàm súng đạn); còn xuát cảng thi cấư tàu thuyén nước ngoài khống được mua tơ iụa, thđc gạo trong nhân dân Tàu buỗn nước ngoài tới buôn bán côn bị khám xét rất kĩ đế đánh thuế và lịnh giá hàng, lại còn cđ thể bị trưng dụng đi phục vụ cho các đợt cỗng tát đột xuất của triểu đinh (nhu chở gạo cho quân lính, hay chuyên chở nguyêr vật liệu xôy dựng lang tấm, cung điện) Chính sách bế quan tỏa cảng của iriéu đinh đă làm cho việc buồn bán với nước ngoài sa sút rỗ rệt Thuế cửa qian, trước cố 60 sà, đến năm 1851 chỉ còn 21 sô; một 9Ố cảng trước kia kuôn bán rẩt phổn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điểu váng vẻ

Trang 7

Ndi tóm lại, nẽn kinh tế tài chính nưỏc ta trong nửa đáu thẽ ki X IX đả su^ đốn trấm trọng vổ mọi mật nông, công thương nghiệp Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chù nghỉa mới này sinh trong các khu vực kinh tế, đang trên đà phát triển tự nhíftn và tiến bộ, phù hỢp với yêu cấu phát triển của xả hội hồi đó, đểu bị btíp nghẹt

Nẽn kÌTih tế hàng hda vl vậy đă bị co hẹp lại Trên cơ sở đó, nén tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ Mối mâu thuản giữa bọn phong kiến thống trị vúi nhân dân - chủ yếu là nông dân - đâ trở nên vô cùng gay gát và đă bộc lộ ra ngoài một cách sâu sác với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân suốt cả niây đời vua triéu Nguyền Trước khi tư bản Pháp nổ súng xâm lược, một sổ cuộc khởi nghỉa lớn đả bùng nổ: Phan Bá Vành ở Nam Định (1821); Duy Lương ở Ninh Binh (1833); Lẽ Vản Khôi ở Gia Định (1833); Nông Ván Vân ở Tuyôn Quang (1833) ; Cao Bá Quát ở Hà Nội và Bấc Ninh (1854) Đ ó là chưa kể tới nạn thổ phỉ Trung Quốc liôn tục quáy phá trên vùng biên giới phía bác, người

Đá Vách (Thạch Bích) ở Quàng Ngái không ngừng nổi dậy trong những nàni

1 8 57-1858,

Để duy trl chế độ xá hội thối nát nhầm bào vệ đậc quyển đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đă ra sức củng cố trật tự bàng mọi cách

Dối nội, chúng ra sức đàn áp khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động nhừng lực lượng quân sự to lớn vào vĩệc dập tát các cuộc khởi nghỉa nông dân trong biển máu Các cuộc hành quân liên miẽn một mặt đâ làm cho chính lực lượng quân sự của triẽu đinh bị suy yếu dấn, mặt khác củng ỉàm hủy hoại khả nâng khảng chiến lớn lao của đ&n tộc, càng tạo thêm

d iêu kiện thuận lợi chữ tư bản Pháp thữn tính nước ta Để biện minh cho thủ đoạn tàn bạo trẽn» chúng đã ban hành bộ luật Gia Long nâm 1815 Bộ ỉuột này được soạn ra phòng theo bộ luật phàn động của phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc), dưới ý niệm trấn áp nhân dân và giữ vững trật tự

phong kiến tuyệt đđi Chúng còn lợĩ đựTig cà văn học đế tuyên truyến cho

ch ế đô thống trị đẫm máu của chứngỉ như Mĩnh Mạng ra 10 điểu H u á n dụ,

Tự Đức diễn âm T h ậ p đ ièu diển ca để tniyển bá rộng râi học thuyết Nho giáo, trên cơ sở đó củng cổ ý thức hệ phong kiến đà bị rạn nứt

Đói ngoại, chúng ra sức đấy mạTih thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào ỉàm cho quân lực bị tổn thất, tài chỉnh quổc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt Còn đối với các nước t.ư bản phương Tây thl chúng thi hành ngày một thêm gát gao chỉnh sách bế quan tỏa cảng

và cấxn đạo, giết đạo Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn

tư bản nước ngoài - nhất là của tư bàn Pháp - phong kiến nhà Nguyễn tưởng ỉàm như vậy là tránh được nạn lớn Chúng khổng thấy được muỗn

Trang 8

484 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỪ VIỆT NAM

bào vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đát nước trong những điểu kiện quốc gia và quổc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mở rộng cửa biển giao thương đê’ duy tân xứ sở, đẩy mạnh phát triển nông cững thương trong nước, trên cơ sà đđ nhanh chdng bổi dưỡng sức dân, sức nước đê’ ctí thể đối phó kịp thời và hiệu quả với những âm mưu xâm lược ngày càng được đấy mạnh của

tư bản nước ngoài Trái lại, càng đổng chật cửa và càng cám đạo, giết đạo, lại càng tạo thêm lí do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn

Rõ ràng là vởi những chính sách phản động ndi trén, nước Việt Nam đă suy yếu vé mọi mặt và trở thành miếng mổi ngon đối vôi các nước tư bản phương Tây Đậc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đă cđ cơ sở bôn trong nước

ta nhờ sự hoạt động ngấm ngấm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo 8Ỉ Lịch sỏ lúc này đẫ đi tới một bước ngoặt Một là triểu Nguyễn bị đánh đố và thay th ế vào ỉà một triễu đại khác tiến theo hướng môi của tư bản chủ nghỉa khả năng duy tân đát nưốc và bào vệ nển độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị m át vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa Thực tế lịch sử đâ chứng minh ráng khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cẵp phong kiến Việt Nam đă phân htía

ra hai phái chủ chiến và chù hòa, phái chủ hòa góm phấn đông bọn đại phong kiến và quan lại lớn với Tự Đức đứng đấu sẽ nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước Đổ là tội lốn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch

aử T ấ t nhiẽn, khi khảng định "tội" của nhà Nguyễn trong việc đ ể mất nước

ta vào tay thực dân Pháp vào nửa sau th ế kỉ XIX, chúng ta không hể quên những đóng gứp của họ về các mặt phát triển giáo dục, vản htía, nghệ thuật

mà một 8Ố thành tựu đến ngày nay vẫn là tài sản quý của dân tộc

II-ẢM MƯU XÁM L ư ọ c VIỆT NAM

CỦA THỰC DẢN PHÁP

Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đổi với Việt Nam lâu dài và liên tục, bát nguổn từ nhỡng nâm đáu thế kỉ XV II được cám mốc với việc kí kết hiệp ước Vecxai (Versailles) năm 1787, sau đó ngày càng đuợc xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỉ XIX Nâm 1847, hai tàu chiến Pháp Gơloarơ (Gloire) và Vichtoriơ (Victorieuse) đâ xâm phạm hải phận Đà Nảng, sau đd

nổ súng làm đấm 5 chiến thuyến bọc đổng của triéu đinh rổi rút đi Việc này đă cát đứt mổi quan hệ Việt - Pháp trong nhiẽu năm Nhưng một co hội mới đă đến ngày 2 - 1 2 -1 8 5 2 , Lui Bônapác (Louis Bonaparte) dựa vào sự ủng hộ của bọn đại tư sản phản động, giáo dân, và sức mạnh của lưỡi lê lôn ngôi hoàng đế Nén Đế chế thứ hai là một hình thái chuyên ch ế của giai cáp tư sản Pháp, bẽn trong ra sức đàn áp và bốc lột nhân dân, bên ngoài

Trang 9

ráo riết đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa Nhưng cũng phài đợi đến tháng

9 -1 8 5 6 , mâu thuẫn Anh - Pháp tạm thời hòa hoân, liên quân hai nước cùng nhau câu kết để uy hiếp Trung Quốc, cộng thêm các báo cáo cùa bọn con buôn và giáo sỉ vé tinh hình ngày thêm suy đốn cùa triểu đinh Huế, Napôlêông III mới dám ra mật hành động

Ngày 1 6 - 9 -1 8 5 6 , tàu chiến C a t i n a (Catinat) đến Dà Nẵng, cổ phái viên cẩm quốc thu sang Việt Nam, nhưng triểu đình Huế lo ngại không chịu tiếp Thât bại trong âm mưu điéu tra tỉnh hinh Việt Nam phục vụ âm mưu xâm lưạc, ngày 2 6 - 9 - 1 8 5 6 , tư bản Pháp đâ tráng trọn nổ súng bấn phá các đồn lũy rổi kéo lên khđa tất cả các đại bác bố trí ở trén bờ, sau đố tàu nhổ neo

bỏ đi Một tháng sau, ngày 24 tháng 10, tàu chiến Caprixiơ (Capricieuse) lại cập bến Đà Nâng xin được gặp các quan lại triéu đỉnh để thương lượng, nhưng cũ n g bị cự tuyệt Cuổi cùng, ngày 2 3 - 1 - 1 8 5 7 , phái viên của Napôlêông III là Môngtinhi (Montigny) cập bến Dà Nẫng yêu cắu được tự

do truyén đạo và buôn bán Thực ra đây chỉ là một chuyến đi dọn đường sản cho cuộc can thiệp vù trang khi đánh xong Trung Quốc Cho nên, ngay trước khi Môngtinhi đến Đà Nẵng một tháng, Bộ trưỏng Hải quân Pháp là Hamơlanh (Hamelin) đã tiếp viện thêm cho hạm đội Pháp ở Thái Bình Dương, và Bộ trưởng Ngoại giao nước Pháp là Oalépxki (Walewski) cũng đâ

ra lệnh cho Phó Đồ đốc Giơnuiy (Rigault de Genouilly), lúc đố đang chỉ huy hạm đội Pháp tham gia cuộc tấn công Trung Quổc, sau khi bán phá và

chiếm cứ xong Quảng Châu phải kéo ngay quân xuống đánh chiếm Việt

Nam Rõ ràng việc cử Môngtinhi sang triéu đinh Huế chỉ cđ giá trị ngoại giao hỉnh thức, còn mọi mưu mô kế hoạch đểu đã được bọn tư bản sáp đặt

từ trước, chỉ đợi thời cơ và kiếm cớ để nổ súng Vi thế, bản thân Môngtinhi

đã có những hành động vô cùng trống trợn Vấp phải thái độ của trỉêu đinh Huế cương quyết cự tuyệt không tiếp, trước khi rút lui vổ nước, y đa đe đọa

sẽ dùng vũ lực để trừng phạt nếu không đỉnh chỉ việc cấm đạo; đổng thời

y cũng cẵp báo vé nước yêu cẩu cử binh chiếm gấp Nam Kỉ Trước khi xuống tàu vể nưóc, y còn lén lút đưa tên gián điệp đội lổt giáo sĩ Penlơranh (Pellerin) vẽ Pháp yêu cẩu Napôlêông III cử binh sang Việt Nam bênh vực những người theo đạo

Ngày 22 - 4 - 1857, Napôlêông III quyết định cử ra Hội đổng Nam Kì đê’ xét lại Hiệp ước Vécxai (Versailles) đă được kí kết nồm 1787 giữa B á Đa

L ộ c (É v êq u e d ’ A d ra n ), đại diện ch o N guyễn Ánh và M ôngm ôranh (Montmorin), đại diện cho Lui XVI Âm mưu của tư bàn Pháp lúc đtí ỉà muốn dựa vào ván kiện bán nước đầu tiên của Ngiiyễn Ánh để "hợp pháp htía" việc mang quân sang đánh chiếm Việt Nam Nhưng trong thực t ế thì hiệp ước đó đã bị thủ tiêu ngay sau khi kí kết, Chính phủ Pháp lúc đố khống

Trang 10

có điéu kiện thi hành vl còn lo đối phd với ngọn sóng cách mạng đang dâng cao trong nước Chúng không thể đựa vào cở thi hành hiệp ước để đưa quân chiếm đtíng Dà Nẫng, Cỗn Lôn, đòi độc quyên thương mại và tự do truyễn đạo ở Việt Nam như các điỗu khoản của hiệp ước đa ghi Mạc dù vậy, chúng vẫn quyết định cử quân sang đánh chiếm Việt Nam, lập luận một cách tráng trợn rằng việc đem quân đánh chiếm Nam Kỉ đà t.ừ lâu nàm trong dự kiến của nước Pháp, đến nay thi hành chảng qua chl là tiếp tục truyển thổng cũ, trung thành vớ! một "quổc sách" đă được các chinh phủ tiếp tục theo đuổi qua các thời kl mà thôi Tháng 7 - 1857, Napôlêông III quyết định vũ trang can thiệp vào Việt Nam Tư bản Pháp đă lấy cớ trả thù việc triểu đình Huế không tiếp nhận quổc thư của Pháp do tàu chiến C atina đem đến tháng 9 nam 1856, cho là "làm nhục quốc kl" Pháp M ật khác, chúng còn lấy cớ "bênh vực đạo", "truyển bá vân minh công giáo" để tranh thủ sự đổng tình ủng hộ của dư luận công giáo ở Pháp và Việt Nam Nhưng tấ t cả những

lí do đd đêu không che đậy nổi nguyên nhân sâu xa bên trong cùa âm mưu xâm lược Đtí là yêu cấu tỉm kiếm thị trường và căn cứ ở Viễn Đông, nhất

là ở mién Nam Trung Quổc, cùa chủ nghla tư bản Pháp đang chuyển mạnh

!ên con đường đế quổc chủ nghỉa; đó là cuộc chạy đua giành giật thị trường giữa Pháp với các nước tư bản khác ở khu vực Viễn Đông, đặc biệt với địch thủ cố truyên là tư bản Anh

Cuỗi cùng, sau khi liên quân Pháp - Anh đánh xong Qiiáng Chầu (5 - 1 - 1858)

và dùng áp lực quân sự buộc phong kiến Trung Quốc kí điều ước Thiên Tân (27 - 6 - 1858), Giơnuiy kéo ngay quân xuống hỢp với quân Tây B an Nha

do đại tá Palăngca (Palanca) chl huy, rói dong buổm kéo thảng tới Dá Nảng đàn trận từ chiểu ngày 31 - 8 - 1858 Pháp và Tây Ban Nha liẻn minh quân sự với nhau vl trong 8Ổ các giáo sl nước ngoài bị triéu đỉnh H uế giam giữ, giết hại hổi đtí cố một số người Tây Ban Nha Tư bản T ây B an Nha củng nhiổu lán dòm ngtí các vùng Đổ Sơn, Quảng Yên ngoài Bác, nên nữ hoàng Tay Ban Nha là ỉdaben II (Isabelle II) sản sàng câu kết với Pháp trong cuộc viễn chinh này để kiếm lợi

III-TH Ự C DÂN PHẤP PHẤT ĐỘNG CHIẾN TRANH XÀM Lưọc V IỆT NAM

ỉ Từ Đà Náng dến Gia Định

Từ chiểu ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp - Tây đa kéo tới

Ngày đăng: 31/08/2017, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w