1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI SOẠN văn hóa các dân tộc VIỆT NAM nộp

47 204 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 405,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ) VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM (Dành cho sinh viện hệ đại học chính quy)

Tác giả: Trần Thị Tuyết Nhung

NĂM 2017

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Văn hóa các dân tộc Việt Nam là tài liệu được biên soạn để phục vụ cho việc học tập, giảng dạy của giảng viên và sinh viên đại học các ngành Địa lý Tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản về văn hóa các dân tộc Việt Nam như khái niệm, đối tượng nghiên cứu của văn hóa, đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt Nam…

Giáo trình được biên soạn dựa trên để cương chi tiết học phần Văn hóa các dân tộc Việt Nam đã được Hội đồng khoa học và Đào tạo nhà trường thông qua

Tài liệu không chỉ phục vụ cho việc học tập, giảng dạy học phầnVăn hóa các dân tộc Việt Nam mà còn là một tài liệu tham khảo trong quá trình kiến tập, thực tập và giảng dạy sau này của sinh viên

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do biên soạn lần đầu, giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong đồng nghiệp và bạn đọc đóng góp ý kiến để giáo trình được hoàn thiện hơn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ DÂN TỘC 1

1.1 Các khái niệm về văn hóa 1

1.1.1 Khái niệm bản sắc văn hóa, bản lĩnh dân tộc 2

1.1.2 Khái niệm sắc thái văn hóa dân tộc (tộc người) 6

1.1.3 Vùng văn hóa và phân vùng văn hóa Việt Nam 6

1.2 Các khái niệm về dân tộc, tộc người 7

1.2.1 Khái niệm dân tộc 7

1.2.2 Khái niệm tộc người 8

1.2.3 Nhóm địa phương 9

CHƯƠNG 2 MIỀN NÚI VIỆT NAM: THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI 11

2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên Việt Nam 11

2.2 Các dân tộc (tộc người) thiểu số ở Việt Nam 12

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

13 3.1 Qúa trình hình thành dân tộc (quốc gia) Việt Nam 13

3.2 Văn hóa việt Nam là một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất 13

3.3 Văn hóa các dân tộc Việt Nam có quá trình hình thanh và phát triển lâu đời 15 3.4 Văn hóa các dân tộc Việt Nam là nền văn hóa của cư dân nông nghiệp 24 3.5 Văn hóa các dân tộc Việt Nam là nền văn hóa với tư duy kỹ thuật thủ công mang phong cách tộc người đậm đà

26 3.6 Văn hóa các dân tộc Việt Nam là sự biểu hiện của nền văn hóa dân gian đa dạng phong phú và độc đáo

26 3.7 Văn hóa các dân tộc Việt Nam là sự phản ánh quá trình tiếp xúc và biến đổi văn hóa tộc người

26 CHƯƠNG 4 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM 28 4.1 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa Tây Bắc 28

4.2 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa Việt Bắc 30

4.3 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa châu thổ Bắc bộ 33

4.4 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa Trung bộ 39

4.5 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên 42

4.6 Khái quát những đặc trưng vùng văn hóa Nam bộ 44

Trang 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ DÂN TỘC

3 TIẾT

1.1 Các khái niệm về văn hóa

*Văn hóa: Văn hóa là một thực thể vận động theo không gian và thời gian

Văn hoá là một từ tiếng Hán, ban đầu được dùng với nghĩa “dùng văn để hoá”, tức là dùng hiểu biết để khai hoá, phát triển Đến thời cận đại, nghĩa của từ văn hoá dần dần có sự thay đổi và ngày nay, văn hoá được hiểu với nghĩa rộng là những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội loài người

Trong ngữ hệ Latinh, chữ “văn hoá” là “Cultura” được hiểu với nghĩa ban đầu là trồng trọt, cư trú, luyện tập, lưu tâm Đến giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của các ngành khoa học như nhân loại học, xã hội học, dân tộc học , khái niệm

văn hoá đã thay đổi Các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng văn hoá gồm tổng thể

những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử

(khái niệm này cũng được đưa ra trong Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội,

Hà Nội, 1994)

Theo GS Trần Ngọc Thêm thì “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Định nghĩa này được các nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả

Như vậy, văn hoá xuất hiện đồng thời với loài người, nghĩa là khi con người biết chế tạo, sử dụng công cụ lao động, cũng là khi họ bắt đầu sáng tạo ra văn hoá Trong quá trình phát triển, ngoài văn hoá vật chất, loài người cũng sáng tạo ra văn hoá tinh thần, bao gồm nghệ thuật, tôn giáo, tiếng nói, chữ viết Trên cơ sở văn hoá nguyên thuỷ, đến một giai đoạn nhất định, loài người mới bước vào giai đoạn văn minh, tức là thời kỳ văn hoá đạt đến trạng thái phát triển cao Trạng thái phát triển cao đó có được từ khi nhà nước ra đời

* Theo nghĩa hẹp thì: “Văn hoá dùng để chỉ những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần”, ví cụ các hoạt động văn hoá như tổ

Trang 5

chức, biểu diễn, triễn lãm in ấn, phát hành các sản phẩm về văn học và nghệ thuật… “Văn hoá dùng để chỉ tri thức, kiến thức khoa học của cá nhân”, ví dụ ông

A có trình độ văn hoá tốt nghiệp 12/12 “Văn hoá dùng để chỉ trình độ cao trong sinh hoạt xã hội”, là biểu hiện của văn minh, ví dụ làng văn hoá, văn hoá ứng xử… “Văn hoá dùng để chỉ nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau”, ví dụ văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Núi Đọ…

Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên đặc biệt trải dài trên 1 địa hình khá dài Đo đó điều kiện tự nhiên ở các vùng có sự khác nhau

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (54 tộc người, do đó lịch sử trình độ phát triển trong các tộc người không giống nhau nên sự vận động của văn hóa cũng không giống nhau nên sự vận động của văn hóa cũng không giống nhau do các yếu

tố, địa hình môi sinh, dân tộc chi phối

1.1.1 Khái niệm bản sắc văn hóa, bản lĩnh dân tộc

* Bản sắc văn hóa

Theo Từ điển tiếng Việt(1), thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó Trong thực tế, khi nói "bản sắc" thường là nói tới cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan Quan niệm này cũng gần với một phương pháp định nghĩa trong Lôgic học là định nghĩa "qua giống gần gũi để chỉ ra sự khác biệt về loài" Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật

"Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc" Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài Cách tiếp cận thứ hai này có tính hợp lý hơn bởi khái niệm "bản sắc" được nhận thức trên cả 2 mặt: mặt bản chất bên trong và mặt

Trang 6

biểu hiện bên ngoài và giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong

đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự vật để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác

Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc Nói đến dân tộc là nói đến văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn Tuy nhiên, nếu dừng lại ở đây thì khái niệm bản sắc văn hóa vẫn là một khái niệm vô định, vì nói tới văn hóa là nói tới con người và nói tới những dân tộc cụ thể đã sinh ra, duy trì và phát triển nó Vì vậy, chỉ khi tiếp cận đến bản sắc văn hóa của dân tộc thì ý nghĩa của nó mới được thể hiện một cách trọn vẹn

Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất

và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thì bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch

sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác Xét về bản chất, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất” giữa dân tộc này với dân tộc khác Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Venise, F.Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc thù của bản sắc văn hoá dân tộc: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”(2) Trong quan hệ quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc được xem như cái “thẻ căn cước”, là cốt cách của mỗi dân tộc thể hiện trên mọi phương diện quan hệ ngoại giao về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

Trang 7

Trong quá trình tồn tại và phát triển, bản sắc văn hoá là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển”(3) Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng và có những giải pháp cụ thể trong quá trình phát triển

* Bản lĩnh văn hóa

Bản lĩnh của một nền văn hoá là tổng hợp toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách, tư chất và sức mạnh khẳng định bản sắc dân tộc trước tác động của các nền văn hoá khác trong giao lưu, hội nhập Một nền văn hoá thiếu bản lĩnh thì dễ bị đánh mất bản sắc dân tộc Bản sắc văn hoá là hồn dân tộc và do vậy, mất bản sắc văn hoá chẳng khác nào một người không còn thần sắc

Việt Nam có lịch sử phát triển văn hoá lâu đời Lịch sử đó thống nhất với lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước Với đặc thù tự nhiên, với vị trí địa lý là trung tâm giao lưu Bắc – Nam, Đông – Tây, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu và

đã tiếp thu được nhiều giá trị văn hoá bên ngoài để làm giàu văn hoá dân tộc Có thể nói, “đầu vào” của văn hoá Việt Nam rất đa dạng, nhưng “đầu ra” lại rất đặc sắc Việt Nam Nền văn hoá Việt Nam có nhiều dấu ấn, giá trị văn hoá đặc sắc của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, thậm chí cả của phương Tây Điều đó là do sự tiếp thu có nguyên tắc - không đánh mất bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam Các giá trị văn hoá bên ngoài rất đa dạng, phong phú, nhưng khi vào Việt Nam đều được Việt Nam hoá Chẳng hạn, từ bi của Phật giáo khi xâm nhập vào Việt Nam đã trở thành đại từ, đại bi của Việt Nam; cái hùng, cái nhân của Nho giáo đã trở thành cái đại hùng, đại nhân của Việt Nam (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo” - Nguyễn Trãi)

Cái đặc sắc và bản lĩnh văn hoá Việt Nam luôn dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử

“hài hoà” của chủ thể văn hoá Hài hoà với thiên nhiên, hài hoà trong xã hội được

Trang 8

biểu hiện ở tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm người Do ứng xử hài hoà, văn hoá Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hoá bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ văn hoá Việt Nam có cơ hội tiếp thu những giá trị từ nhiều nền văn hoá, song cũng chứa đựng nhiều nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc của văn hoá như hiện nay Để phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bản lĩnh văn hoá Việt Nam phải được củng cố vững vàng trong tình hình mới Nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam là tuân thủ quy luật đó một cách linh hoạt và sáng tạo Do vậy, xây dựng bản lĩnh văn hoá Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải có chiến lược phát triển văn hoá một cách khoa học, kết hợp được và thể hiện được sự thống nhất giữa tính nguyên tắc với tính linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng Đây là hai mặt của một vấn

đề Nếu vận dụng một cách khoa học, chúng sẽ trở thành tiền đề, động lực phát triển cho nhau; còn nếu vận dụng một cách thiếu khoa học, chúng sẽ cản trở sự phát triển của nhau Sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và sự linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng đó còn phải được thẩm thấu vào tiềm thức của mỗi chủ thể ở các cấp độ khác nhau để tạo ra sự thống nhất, đồng bộ từ trên xuống dưới, thậm chí ở mỗi con người cụ thể

Bản lĩnh của một nền văn hoá dựa trên sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài trong quá trình phát triển và trong quan hệ giao lưu, hội nhập Trong lịch sử, văn hoá Việt Nam luôn có sức đề kháng to lớn Nhờ đó, văn hoá Việt Nam đã tạo dựng được bản lĩnh vững vàng trong giữ gìn bản sắc dân tộc Trước sức mạnh xâm nhập của các giá trị văn hoá bên ngoài, văn hoá Việt Nam đã không bị đồng hoá, không đánh mất bản sắc của mình Sức đề kháng đó của văn hoá Việt Nam còn có cội nguồn từ tầng sâu của tâm hồn, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc, không chịu khuất phục trong mỗi con người Việt Nam Cội nguồn sức đề kháng của văn hoá Việt Nam là như vậy, nên chính sách đồng hoá về văn hoá trong suốt thời gian đô hộ cả

Trang 9

ngàn năm của phong kiến phương Bắc, thậm chí cả của chủ nghĩa thực dân cũ và mới hơn một trăm năm vẫn không làm phai nhạt bản sắc văn hoá dân tộc Dân tộc

ta, dù bị thất bại về quân sự nhiều lần, nhưng nhờ cội nguồn sức mạnh đó, cuối cùng vẫn vùng dậy đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập dân tộc

1.1.2 Khái niệm sắc thái văn hóa dân tộc (tộc người)

Trước hết, sắc thái là nét phân biệt tinh tế giữa những sự vật về cơ bản giống nhau

Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm

ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn

1.1.3 Vùng văn hóa và phân vùng văn hóa Việt Nam

- Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn

vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người, sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường xã hội nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài

- Có hai yếu tố tạo bản sắc văn hóa vùng:

+ Yếu tố về môi trường sinh thái - tự nhiên mà từ đó sinh ra/quy định cách thức cư trú, canh tác, đấu tranh sinh tồn và phát triển

+ Yếu tố chứa đựng các hình thức biểu hiện văn hóa của con người, tạo ra cung cách nhận thức - hoạt động riêng, tạo ra nếp sống, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, ngôn ngữ và các quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa,… giữa nội bộ cộng đồng hay với cư dân của các vùng đất/ địa phương khác

Khái niệm này đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hoá dân tộc Vùng văn hoá do đó chỉ sự khác nhau của đặc trưng văn hoá tộc người theo không gian địa lí trên một lãnh thổ Những nhóm tộc người khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo nên sự phân hoá vùng văn hoá Từ xa xưa, ông cha đã ý thức về việc phân biệt văn hoá vùng miền và ngày càng được chú trọng một cách ý

Trang 10

thức trong giới nghiên cứu ngày nay Tuy nhiên hiện còn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh hướng, từng tác giả Trong số này, quan điểm phân chia vùng văn hoá của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng có nhiều cơ sở rất hợp lí

*Phân vùng văn hóa Việt Nam

- Vùng văn hoá Tây Bắc

- Vùng văn hoá Việt Bắc và Đông Bắc Bộ

- Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ

- Vùng văn hoá Trung Bộ

- Vùng văn hoá Trường Sơn – Tây Nguyên

- Vùng văn hoá Nam Bộ

1.2 Các khái niệm về dân tộc, tộc người

1.2.1 Khái niệm dân tộc

Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa:

Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có kế thừa và phát triển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc và thể hiện thành ý thức tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó

Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong quá trình dựng nước và giữ nước

Như vậy, nếu theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là bộ phận của quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn

Trang 11

bộ nhân dân một nước, là quốc gia dân tộc Với nghĩa như vậy, khái niệm dân tộc

và khái niệm quốc gia có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đời trong một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi thường không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến Chủ nghĩa

tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán

1.2.2 Khái niệm tộc người

Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie) Trong Dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnic, ethnos, ethikum, ethnea,… Cho đến khoảng những năm Sáu mươi của thế kỷ XX, thuật ngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi, kể cả ở Liên Xô (Hiến pháp Liên Xô 1977 dùng Ethnos thay cho bộ tộc, bộ lạc,…) Tuy vậy, trong thực tiễn cũng như khoa

Trang 12

học Nation và Ethnie/Ethnic không thể là một, mà đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trong khi Dân tộc (Nation) phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm

cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,…thì Tộc người (Ethnic/Ethnie) là cộng đồng mang tính tộc người, không nhất thiết phải cư trú trên một cùng lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới

sự quản lý điều hành của một chính phủ với những đạo luật chung thống nhất

Mặc dù các trường phái Dân tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về tộc người,xong tất cả đều thống nhất: Tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá tình phát triển

Với nhận thức trên, trong thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay, đang tồn tại các loại hình cộng đồng dân tộc và cộng đồng tộc người, (3) Trên thế giới, đa

số các quốc gia đều là Quốc gia đa dân tộc, tức là cộng đồng cư dân ở đó gồm nhiều tộc người Trong những trường hợp này, khái niệm dân tộc và tộc người trùng khớp nhau Tuy vậy cũng có quốc gia chỉ có một tộc người (Triều Tiên,…), trong trường hợp này dân tộc được hiểu là tộc người cũng không sai

Trang 13

CHƯƠNG 2 MIỀN NÚI VIỆT NAM: THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI

Trang 14

– Việt Nam nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, khu vực có hoạt động kinh tế sôi động nhất thế giới

2.1.2 Phạm vi lãnh thổ

Lãnh thổ Việt Nam gồm 3 bộ phận :

– Phần đất liền : Có diện tích 331.212 km2 (2006- số liệu của TCTK) Hệ toạ độ : 8º34’B – 23º23’B và 102º10’Đ – 109º24’Đ Tiếp giáp với Trung Quốc ở phía bắc, Lào và Cam-pu-chia ở phía tây, phía đông và nam giáp Biển Đông và vịnh Thái Lan, nằm hoàn toàn trong múi giờ số 7

– Phần biển : Có diện tích trên 1 triệu km2 gồm 5 bộ phận : nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Nếu kể cả biển, lãnh thổ nước ta kéo dài xuống tận vĩ tuyến 6º50’B và ra tận kinh tuyến 117º20’Đ – Vùng trời : Là khoảng không gian vô tận bao phủ lên trên lãnh thổ

2.1.3 Ý nghĩa của vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

+ Vị trí địa lý nước ta nằm trong khu vực có nhiều thiên tai

* Ý nghĩa kinh tế – xã hội và quốc phòng

+ Về kinh tế : Vị trí địa lý rất thuận lợi trong giao lưu với các nước và phát triển kinh tế

+ Về văn hoá – xã hội: vị trí địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta chung sống hoà bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước trong khu vực Đông Nam Á

+ Về an ninh, quốc phòng: nước ta có một vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực Đông Nam Á Biển Đông có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước

2.2 Các dân tộc (tộc người) thiểu số ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM 5 TIẾT

3.1 Qúa trình hình thành dân tộc (quốc gia) Việt Nam (sinh viên tự nghiên cứu viết bài thuyết trình theo nhóm)

3.2 Văn hóa việt Nam là một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất

Thứ nhất, xét trong mối quan hệ giữa các nền văn hoá dân tộc, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc bao giờ cũng thể hiện tính hai mặt: tính thống nhất và tính đa dạng Tính thống nhất phản ánh những nét chung của nền văn hoá xét ở các cấp độ khác nhau, như văn hóa vùng, văn hóa quốc gia, văn hoá khu vực hay văn hoá thế giới Tính đa dạng phản ánh những sắc thái riêng, đặc thù, đặc sắc giàu bản sắc của mỗi

Trang 16

nền văn hoá dân tộc Nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc là tìm đến cái riêng, cái đặc thù của một dân tộc Tuy nhiên, quan niệm thế nào là cái riêng, cái đặc thù? Nó

là cái "độc đáo" hay là cái "dị biệt"? Mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thù với cái chung như thế nào? Đó là những vấn đề không đơn giản Trong thực tế, từ nhiều nền văn hóa của các cộng đồng dân tộc đã tạo nên những giá trị chung, như lòng yêu nước, tình yêu thương con người, yêu thiên nhiên Có ý kiến cho rằng, " chẳng phải chỉ ở Việt Nam mới có, mới biết tình cảm và ơn nghĩa, mới lo đạo và đời, có điều với hoàn cảnh đất nước và tập tính cộng đồng, những phẩm chất ấy trội nổi và bám rễ sâu xa, trở thành những giá trị đặc sắc không thể bỏ qua hoặc trộn lẫn trên gương mặt dân tộc"(4) Có nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh, cùng những giá trị ấy nhưng các dân tộc có sự lựa chọn, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên khác nhau, hoặc mỗi dân tộc có sắc thái biểu hiện một cách khác nhau mà thôi Vì thế, cần có thái độ đúng mực, trân trọng đối với các nền văn hóa trong cộng đồng các dân tộc trên mọi phương diện quốc gia (nation) hay quốc tế (international), tránh

đề cao nền văn hóa dân tộc này mà xem nhẹ, coi thường nền văn hóa của dân tộc khác, cộng đồng dân tộc khác Đó là sự thừa nhận cả tính thống nhất (cái chung) lẫn tính đa dạng, giàu bản sắc (cái riêng, cái đặc thù) trong bản sắc văn hóa dân tộc

Thừa nhận tính đa dạng của văn hóa là thừa nhận cái riêng, cái đặc thù trong quan

hệ biện chứng với cái chung Đó là sự đa dạng trong thống nhất, thống nhất mà đa dạng, nó được biểu hiện như một khuynh hướng chung Nghiên cứu trong không gian và thời gian càng rộng thì bản sắc văn hoá dân tộc càng được bộc lộ rõ hơn Hơn nữa, bản sắc văn hóa dân tộc chỉ được biểu hiện và có ý nghĩa khi đặt nó trong mối quan hệ với văn hoá các dân tộc khác Chẳng hạn, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam qua trang phục áo dài sẽ được nhận diện rõ hơn khi đặt bên cạnh trang phục của các dân tộc khác trên thế giới, như áo kimônô của Nhật Bản, áo hanbok của Hàn Quốc (4)

Tôn trọng sự phong phú, đa dạng của các nền văn hóa trong sự thống nhất là một điều cần thiết Nhận thức này giúp tránh được sự tuyệt đối hoá ranh giới giữa cái chung và cái riêng trong bản sắc văn hoá dân tộc, tách rời tuyệt đối những giá trị

Trang 17

nhân văn mang tính nhân loại với những giá trị mang tính bản sắc văn hoá dân tộc, dẫn đến nhận thức lệch lạc: ca tụng nhiệt liệt mọi sự độc đáo của một cộng đồng dân tộc mà ít quan tâm đến giá trị chung mang tính nhân loại trong bản sắc văn hóa dân tộc hoặc ngược lại, đề cao cái nhân loại mà quên đi cái bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc Cả hai quan điểm này đều dẫn đến cách ứng xử cực đoan: hoặc đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài, hoặc mở cửa một cách không kiểm soát trước những luồng gió văn hóa từ bên ngoài kể cả trong lành hay độc hại Cả hai cách đó đều không có lợi cho sự phát triển của một dân tộc, bởi một dân tộc không thể phát triển khi đánh mất bản sắc, cốt cách riêng của dân tộc hoặc không kế thừa, tiếp thu biện chứng những giá trị tích cực của văn hóa nhân loại Đã có thời kỳ chúng ta cho rằng kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, là nền kinh tế không thể dung hợp với chủ nghĩa xã hội, nên đã không đánh giá đúng về nó như là sản phẩm của sự phát triển tất yếu của nhân loại Nhưng từ khi kinh tế thị trường được chúng ta nhận thức đúng và tiếp nhận một cách sáng tạo, biện chứng, vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước - xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, trở thành một nền kinh tế năng động, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

3.3 Văn hóa các dân tộc Việt Nam có quá trình hình thanh và phát triển lâu đời

Thời điểm phát minh ra "lửa" là dấu mốc quan trọng ban đầu cho sự ra đời và phát triển của văn hoá.Nóinhư vậy có nghĩa văn hoá là sản phẩm chỉ riêng có ở loài người, đi liền với sự phát triển của xã hội loài người._ Nhìn lại lịch sử: "Thềm trước" của nền văn minh lửa đốt là một bức tranh sinh hoạt mang tính sinh họcthuần tuý của động vật bậc thấp; Còn "sân sau" của nền văn minh lửa đốt là ánh sáng tư duy của động vật bậc cao Văn hoá chính là thành quả đằng sau chuỗi tiến hoá lâu dài của loài người, gắn liền với phươngthức sống nhất định._ Khai mở như trên là nhằm chứng minh nguồn gốc của văn hoá từ trong lao động Lao động vừa

là điềukiện cho sự xuất hiện của văn hoá, nhưng đồng thời cũng là phương thức

Trang 18

duy trì sự tồn tại và phát triển củavăn hoá Cũng chính lao động là dấu hiệu để phân biệt loài người với loài vật, vì từ lao động là tiền đề vậtchất tiên quyết cho sự

ra đời của tư duy-Cái chỉ có ở loài người (còn loài vật thì không có)._ Xét về mặt quan hệ: Tư duy là sản phẩm của tiến trình tiến hoá lâu dài bởi sự tác động của con người vàogiới tự nhiên Nói một cách khác, "tư duy chính là thực tiễn được cải biến đi ở trong bộ óc con người".Song, tư duy không phải là một hiện tượng thụ động, bất biến Nó mang "nội dung thực tiễn", vừa có chứcnăng lưu trữ tri thức, vừa có nhiệm vụ truyền tải tri thức Cho nên, ngôn ngữ với bản chất là "cái võ vật chấtcủa tư duy" đã trở thành mắt xích quan trọng trong quá trình trao đổi thông tin, duy trì và phát triển các quanhệ giữa con người với con người trong quá trình cải biến tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người._ Sáng tạo là thuộc tính của tư duy nhưng sáng tạo cũng chỉ có thể được thể hiện thông qua những điều kiệnvật chất nhất định Nhưng điều kiện vật chất đáp ứng sáng tạo phải thông qua lao động

vì, "nếu phương diệnkinh tế của lao động là sự sản xuất ra của cải vật chất, thì phương diện văn hoá của lao động chính là sựsáng tạo-biểu hiện của các lực lượng bản chất người Quá trình biểu hiện của các lực lượng bản chất ngườiấy chính là quá trình sức sáng tạo được vật thể hoá trong hoạt động chiếm lĩnh và cải tạo thế giới, trong đócó bản thân con người" Cũng chính sự sáng tạo văn hoá là động lực tiến bộ của loài người; Sự đa dạng củavăn hoá là kho tàng quý báu nhất của văn hoá nhân loại và là một yếu tố cần thiết của phát triển" *Như vậy, cùng với lao động, tư duy, sáng tạo và ngôn ngữ là cội nguồn là điều kiện nhưng cũng làphương thức tồn tại và phát triển của văn hoá.Từ thực tiễn vật chất và tinh thần của văn hoá cho thấy, văn hoá là một lĩnh vực có nội hàm và ngoại diênrất rộng lớn: Vô cùng

đa dạng và phong phú nhưng cũng không kém phần phức tạp._ Cho đến nay đã tồn tại nhiều định nghĩa về văn hoá Tuỳ theo quan điểm, góc độ tiếp cận khác nhau màcác nhà văn hoá đưa ra các định nghĩa khác nhau về văn hoá:Hồ Chí Minh-Một danh nhân văn hoá thế giới cho rằng "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộnhững sáng tạo và phát

Trang 19

minh đó tức là văn hoá"_ Tổ chức văn hoá thế giới định nghĩa: "Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá là tổng thể những nét riêng biệttinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trongxã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người những khảnăng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lýtính, có óc phê phán

và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thứcđược bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bảnthân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ và tạo nênnhững công trình vượt trội lên bản thân"._ Từ lập trường duy vật biện chứng truy cứu về văn hoá thấy rằng: Xét theo nghĩa rộng, Văn hoá là "trìnhđộ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, sức sáng tạo và năng lực của con người trong xã hội, biểuhiện các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hoạt động, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần docon người tạo ra Văn hoá bao gồm những kết quả khách quan của hoạt động con người (sản xuất, máymóc, thiết bị, kết quả nhận thức, tác phẩm nghệ thuật, chuẩn tắc đạo đức và Pháp luật) cũng như của sứcsáng tạo và năng lực con người được thể hiện trong hoạt động (tri thức, kỷ năng, thói quen, trình độ trí tuệ, sự phát triển đạo đức và thẩm mỹ, thế giới quan, phương thức và hình thức giao tiếp giữa con người với nhau) Xét theo nghĩa hẹp, văn hoá là lĩnh vực đời sống tinh thần của con người"

Tóm lại, văn hoá là một trong những căn cứ để phân biệt con người với loài vật Nguồn gốc lao động củavăn hoá khẳng định một cách khách quan, duy vật về một hình hình thái ý thức xã hội Từ trong văn hoá,chúng ta tìm thấy được những giá trị vật chất và tinh thần của xã hội loài người qua các thời kỳ lịch sử khácnhau

Mỗi dân tộc đều có nền văn hoá riêng của mình Văn hoá dân tộc là thành tựu của

cả dân tộc đi cùnglịch sử của dân tộc đó.Dân tộc Việt Nam là một dân tộc bình đằng với tất cả các dân tộc trên thế giới, có chủ quyền, độc lập vàtoàn vẹn về lãnh thổ, có lịch sử dựng nước và giữ nước, do đó có nền văn hoá riêng, mang phong

Trang 20

cách, bảnsắc độc đáo của khu vực Á-Đông.Văn hoá dân tộc Việt Nam là thành tựu của cả dân tộc Việt Nam, được hình thành trong quá trình đấu tranhvới thiên nhiên, chống xâm lược ngoại bang và thực tiễn lao động sản xuất._ Văn hoá Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Trước hết là nền văn hoá thời Tiền sử vớinhững thành tựu ban đầu của người nguyên thuỷ ở núi Đọ (Thanh Hoá) và sau

đó là nền văn hoá Sơn Vi(hậu kỳ đá cũ) Đặc trưng của nền văn hoá này là săn bắt, hái lượm, dùng đá làm công cụ sản xuất Theo dấutích khảo cổ học, thời kỳ này

"người nguyên thuỷ đã biết dùng lửa Họ chôn người ngay nơi cư trú Thức ănchủ yếu là nguyễn thể, những cây, quả, hạt và một số các loại động vật vừa và nhỏ" Từ thế giới quan triếthọc phải thừa nhận rằng, hành vi chôn người chết của người nguyên thuỷ biểu hiện một quan niệm duy tâm-tôn giáo Chính việc chôn người chết kèm theo những vật dụng ngay nơi cư trú là thể hiện niềm tin về mộtthế giới khác sau khi lìa bỏ thế giới sống trần tục Đây cũng được xem là một quan niệm nhân văn, nhân đạosâu sắc bước đầu của tổ tiên người Việt.Thời kỳ đá mới (cách đây hơn một vạn năm) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lối sống của conngười Thời kỳ này con người đã nhận biết, tận dụng và sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu từ đá, đất sét,sừng, xương, tre, nứa, gỗ, để làm công cụ sản xuất Đặc biệt hơn, họ đã biết làm gốm, thuần dưỡng độngvật, biết trồng cây, biết quy hoạch định cư thành từng nhóm, dân số theo đó cũng tăng lên, Chính phươngthức sống này đã đẩy văn hoá phát triển lên một tâm cao mới, tiêu biểu cho sự tiến bộ

đó là những đặc trưngcủa nền văn hoá Hoà Bình.Văn hoá thời Sơ sử với ba trung tâm lớn ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam:-Văn hoá Đông Sơn hình thành ở các lưu vực sông (Sông Hồng, Sông Cả, Sông Mã) Đặc trưng của phươngthức sống thời

kỳ này vẫn là sự chuyển tải nội dung của nền văn hoá Hoà Bình nhưng ở một trình

độ caohơn Vào thời kỳ này, cư dân tiền Đông Sơn đã biết trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc làm thức ăn, làmphương tiện chuyên chở hàng hoá, Tuy nhiên việc tìm thấy vật liệu đồng thau đã gây ra sự tác động khôngnhỏ đến đời sống kinh tế-

xã hội thời kỳ này Chính nguyên vật liệu từ đồng đã thúc đẩy nghề đúc đồng pháttriển Phần lớn những công cụ sản xuất, vũ khí được đúc bằng đồng với kỷ thuật tinh xảo Đặc biệt nhữngchiếc trống đồng là sản phẩm đằng sau kỷ thuật đỉnh

Trang 21

cao của nghệ nhân thời Đông Sơn đã trở thành biểutượng của văn hoá dân tộc.Từ các di chỉ khảo cổ cho thấy, thời kỳ Đông Sơn đã có sự phân khu, phân tầng văn hoá, đồng thời cũngdiễn ra sự giao lưu văn hoá giữa các bộ lạc bởi vì đã có hoạt động trao đổi kinh tế, tặng vật phẩm tín ngưỡngtôn giáo, Và cũng chính những hoạt động này là căn cứ thừa nhận tư duy sáng tạo trong đời sống tínngưỡng cũng như nghệ thuật của một nền văn hoá non trẻ Trong lĩnh vực nghệ thuật, thời kỳ này, conngười đã biết trang trí với những hoạ tiết có tính đối xứng chặt chẽ Cho nên, về mặt triết học phải thấy đượcrằng đó là "tư duy phân đôi", ít nhiều mang tính biện chứng của người Sơ sử.Văn hoá, nghệ thuật thời kỳ này cũng rất đa dạng

và phong phú với những huyền thoại, thần thoại mang tínhsử thi ("Đẻ đất đẻ nước") cùng những nhạc cụ âm nhạc sinh động từ vật liệu thiên nhiên, đặc biệt là đồngvới những chiếc trống có âm thanh vang xa, vọng.Nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân Đông Sơn gắn liền với nghề trồng lúa nước Vì vậy, thần Mặt trời là vị thầnchủ đạo được thờ phụng nhằm cầu may cho mùa màng tốt tươi để cư dân được no ấm,

an bình, -Văn hoá Sa Huỳnh có không gian phân bố rộng lớn, từ Bình Trị Thiên kéo dài tới lưu vực sông Đồng Nai.Nếu văn hoá Đông Sơ với đặc trưng lớn nhất là những cộng cụ, vật dụng bằng đồng, phục vụ cho sản xuấtthì nền văn hoá Sa Huỳnh lấy sắt làm nguyên liệu chủ yếu để chế tạo ra những cộng cụ phụ vụ cho nền sảnxuất nông nghiệp lúa nước, cùng các loại cây ăn quả, củ khác Cũng đặt trong so sánh, nếu cư dân Đông Sơnhãnh diện về kỷ thuật đúc đồng thì cư dân Sa Huỳnh cùng tự hào về kỷ thuật đúc sắt Những công cụ sắt của cư dân Sa Huỳnh nhiều không kém công cụ bằng đồng của cư dân Đông Sơn, Thậm chí còn nhiềuhơn.Ngoài ra cư dân Sa Huỳnh còn nổi tiếng với truyền thống dệt vải, đúc đồ gốm, làm trang sức bằng nhiềuchất liệu từ thiên nhiên Điều đó chứng tỏ tư duy của người Sa Huỳnh đã phát triển ở tâm cao, tạo ra mộtnền văn hoá tiến bộ, chủ động khai phá, cải biến tự nhiên -Văn hoá Đồng Nai là nền văn hoá của cư dân vùng Nam Bộ Đặc điểm của nền văn hoá này gắn liền điềukiện tự nhiên (sông nước miệt vườn) Vì vậy, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.Nếu cư dân Đông Sơn dùng nguyên liệu đồng, cư dân Sa Huỳnh dùng Sắt để chế tạo cộng cụ sản xuất là chủyếu, thì cư dân Đồng Nai sử dụng đá làm nguyên liệu chính thống chế tác ra

Trang 22

những công cụ sản xuất vàthậm chí cả những hàng trang sức để phụ vụ đời sống tinh thần._ Đời sống tín ngưỡng của cư dân vùng này còn dừng lại ở cấp độ "Bái vật giáo", song họ vẫn tin có một thếgiới khác ngoài thế giới hiện thực của con người người sống.Nhìn chung, cư dân Đông Nai sống ven cửa sông, rạc, biển nên

từ lâu đời đã có truyền thống "ăn to nói lớn", khoáng đảng, bổ bả, ít suy tư trầm lắng như người vùng ngoài.Văn hoá Bắc thuộc là nền văn hoá phụ thuộc vào sự thống trị của Phong kiến Trung Hoa ở phương Bắc.Thời kỳ này đã đặt văn hoá Việt Nam vào thế cam go phải đấu tranh với sự đô hộ của phong kiến xâm lượcchống lại sự đồng hoá dân tộc._ Văn hóa Việt Nam vốn dĩ độc lập trong sự cởi

mở, rộng lượng của truyền thống người Việt cổ sau quátrình tiếp biến thiên nhiên

và cuộc sống lâu dài nay có nguy cơ bị Hán hóa, biến thành một tiểu khu của Trung Hoa đại lục.Phong kiến phương Bắc đưa chân đến đất Nam không chỉ chuyên chở ý đồ chính trị mà còn kéo theo văn hoá bản địa Hành trang chủ yếu của văn hoá bản địa là đạo Nho, Lão-Trang với những nội dung phục vụ cho mục đích đồng hoá.Không chịu khuất phục trước sức mạnh về số lượng, dân tộc ViệtNam trương cao ngọn cờ: Đấu tranh để bảo vệ bản sắc, bảo vệ dân tộc, chống đồng hóa, tiếp tục phát huy giá trị văn hóa dân tộc, giải phóng đất nước.Tuy nhiên,

từ giác độ xã hội học phải thừa nhận rằng: Những nội dung máng đậm tính nhân văn của đạoNho Trung Quốc (nhân-lễ-nghĩa-chính danh) rất gần gũi trong nếp ăn, thói ở của người Việt Cho nên,Phong kiến Trung Hoa đã biết lợi dụng điều đó mà khuyếch trương, truyền giáo Nếu có thể đặt ra ngoài vấn đề chính trị mà nhìn sâu vào đời sống tinh thần thì có thể thấu rõ được một sự thực là: Bản thân những giá trị nhân văn, nhân bản của Nho giáo đã tồn tại trong lòng truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Cùng với những chuẩn giá trị đạo đức của các tôn giáo Trung Hoa, mà chủ yếu là đạo Nho Phật Giáo (mộttrong ba tôn giáo lớn trên thế giới) cũng có mặt ở Việt Nam Những kỷ cương, luân lý của đạo Phật đã gópphần không nhỏ xiết chặt lối sống buông thả của con người trần tục Xét về mặt ý nghĩa, nó phù hợp với tâmcan hướng thiện của người Việt Cho nên văn hoá Việt Nam tiếp biến đạo Phật

là góp thêm phần đa dạng,phong phú và nhân đạo của một truyền thống lâu đời.Trước khi bước vào thời kỳ độc lập tự chủ, văn hoá Việt Nam ghi nhận dấu ấn

Trang 23

của nền văn hoâ champa văÓc Eo.Với sự thống trị của câc triều đình phong kiến Việt Nam (đặc biệt lă triều đình nhă Nguyễn), văo thế kỷ thứXVI một tôn giâo có nguồn gốc từ Phương tđy đê xđm nhập văo văn hoâ Việt Nam Đó lă Thiín Chúa Giâo-tôn giâo lăm nín văn minh phương Tđy.Nội dung của Thiín Chúa giâo tập trung chủ yếu ở phúc đm Giâo lý dạy: Con người lă một sinh linh vôcùng nhỏ bĩ, khi sinh ra đê mang nặng tội tổ tông Vì vậy, sống kiếp lăm người phải ăn năn, xâm hối, chuộclỗi với Chúa, cầu mong Chúa cứu rỗi, ban ơn, Sự nghiệp trần thế của con chiín lă phụng dưỡng ý đồ cứuđộ của Thiín Chúa để khi chết không bị đầy xuống tuyền đăi mă được trở về với Thiín đường sống hạnhphúc bín Thiín Chúa vô văn tôn kính._ Lý tưởng của Kinh Thânh sớm ăn nhập văo tđm tri của một

bộ phận không nhỏ dđn chúng có cuộc sốngkhổ đau, bần hăn Nó đê được dđn tộc việt Nam tiếp biến, cải biín phần năo cho phù hợp với truyền thống văn hoâ dđn tộc Từ đđy, văn hoâ Việt Nam được bổ một nội dung văn hoâ tôn giâo mới, tăng thím phđn đadạng vă sđu sắc.Nửa sau thế kỷ XIX, văn hoâ Việt Nam đặt dưới sự thống trị của thực dđn Dưới sự chỉo lâi của triều đình nhă Nguyễn,"dđn tộc Việt Nam đê đânh mất hănh động độc lập trong lịch sử”, lăm cho con thuyền văn hoâ dđn tộc chỉu nặng ý đồ chính trị thực dđn Phương tđy Lúc năy, văn hoâ Việt Nam mang hai nội dung chủyếu lă: “Tiếp xúc vă giao thoa văn hóa Việt Phâp; vă giao lưu văn hóa tự nhiín Việt Nam với thế giới Đôngtđy”._ Đặc biệt lĩnh vực văn hoâ vật chất được thực dđn Phâp phât triển ồ ạt trín lênh thổ Việt Nam, lăm phainhạt tính đậm đă, bản sắc của văn hoâ dđn tộc vă thay văo đó bằng văn hoâ ngoại lai, xa

lạ với cư dđn nông nghiệp lúa nước.Vì vậy, trước khi câch mạng thâng 8 thănh công, năm 1943 Đảng Cộng Sản Việt Nam đê xđy dựng bản Đề cương văn hoâ, vạch ra tình trạng "Văn hoâ Việt Nam hiện nay về hình thức lă thuộc địa, về nội dung lă tiềntư bản Chiến tranh vă xu trăo văn hoâ hiện nay: Ảnh hưởng của văn hoâ Phât xít lăm cho tính chất, nô dịch trong văn hoâ Việt Nam mạnh lín, những đồng thời chịu ảnh hưởng của văn hoâ tđn dđn chủ, xu trăo văn hoâ mới của Việt Nam đang cố vượt hết mọi trở lực để nẩy nở" Xuất phât từ thực trạng văn hoâ năy, đảng ta đê đề ra nhiệm vu xđy dựng nền văn hoâ mang nội dung: Dđn tộc, Khoa học vă Đại chúng.Năm 1945, câch mạng thâng 8 thănh công, nước Việt Nam dđn

Ngày đăng: 20/11/2017, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w