Từ đây, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước, được giai cấp thống trị ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm duy trì trật tự xã hội phù hợp với ý
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
(NĂM HỌC 2017 – 2018) Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT
I Một số vấn đề cơ bản về Nhà nước
1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của Nhà nước
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định hai nội dung rất cơ bản về nguồn gốc Nhà nước:
Một là, Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người Khi sự vận động và phát triển kinh tế - xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định Do vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có tổ chức Nhà nước nhưng chính sự vận động và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội vào giai đoạn cuối của chế độ cộng sản nguyên thủy làm cho chế độ xã hội này không còn phù hợp với sự vận động đó nên Nhà nước ra đời Nói cách khác, Nhà nước xuất hiện trực tiếp ngay sau khi chế độ công sản nguyên thủy ta rã Bởi lúc này, nền kinh tế đã xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội
có sự phân chia thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng khốc liệt không thể tự điều hòa được
Hai là, Nhà nước không phải là những hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội, là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi 1.1 Quá trı̀nh hı̀nh thành nhà nước theo quan điểm Mác-Lênin
a Chế độ cộng sản nguyên thuỷ và tổ chức thị tộc, bộ lạc
* Cơ sở kinh tế thời kỳ cộng sản nguyên thủy
Thị tộc là đơn vị tụ đầu tiên của loài người, đồng thời là tổ chức lao động và sản xuất, một đơn vị kinh tế và là tế bào của xã hội cộng sản nguyên thủy Sự ra đời của thị tộc mở ra một bước ngoặc mới,
kỷ nguyên mới cho sự phát triển của loài người; qua đó cho phép khẳng định rằng, con người đã bắt đầu
từ bỏ lối sống thuần túy hoang dã, bầy đàn với những mối quan hệ lỏng lẻo để bước vào giai đoạn có tính tổ chức cao và quy cũ hơn trong đời sống kinh tế - xã hội Về mặt khách quan: công cụ lao động quá thô sơ (thời kỳ đồ đá), đơn giản và hoàn toàn phụ thuộc vào những gì có sẵn trong tự nhiên
Cơ sở xã hội thời kỳ cộng sản nguyên thủy: Tế bào của xã hội không phải là gia đình mà là thị tộc Thị tộc được tổ chức theo huyết thống, nền tảng vật chất là kinh tế tập thể và quyền sở hữu công cộng
Ở gia đoạn đầu, do những điều kiện về kinh tế - xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ nên các thị tộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần, sự phát triển của nền kinh tế -
xã hội đã tác động làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân, địa vị của người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi người đàn ông giữ vai trò chủ đạo trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ đã chuyển thành chế độ phụ hệ Ở thời kỳ này đã có sự phân công lao động nhưng mới là sự phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà, giữa người già và trẻ nhỏ để thực hiện các loại công việc khác nhau chứ chưa mang tính chất xã hội (phân công lao động theo lứa tuổi và giới tính)
Trang 2quyền lực thị tộc được xác lập để duy trì trật tự xã hội, nó chưa tách ra khỏi xã hội mà vẫn gắn liền với
xã hội, hòa nhập với xã hội; nó chưa được bảo đảm bằng một bộ máy hay hệ thống chuyên biệt thực hiện sự cưỡng chế, quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng - quyền lực xã hội
* Tổchức quản lý xã hội Hội đồng thị tộc: là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, trong đó thành viên
là tất cả mọi người lớn tuổi không phân biệt đàn ông hay đàn bà HĐTT có quyền quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc (tổ chức lao động sản xuất, tiến hành chiến tranh, tổ chức các nghi lễ tôn giáo, giải quyết tranh chấp nội bộ ) Các quyết định của HĐTT thể hịên ý chí chung và có tính bắt buộc chung đối với mọi thành viên trong thị tộc HĐTT bầu ra những người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự để thực hiện quyền lực và quản lý những công việc chung
Thứ hai: qui phạm xã hội: Trong xã hội CSNT, chưa có pháp luật nhưng đã tồn tại những qui tắc
xử sự chung thống nhất - đó là các qui phạm xã hội thể hiện ý chí chung của tất cả mọi thành viên trong
xã hội bao gồm các tập quán và tín Điều tôn giáo
Tập quán luôn gắn liền với các qui phạm đạo đức và tôn giáo và nhiều khi đồng nhất với chúng
Do nhu cầu khách quan của xã hội cần có một trật tự, trong đó các thành viên phải tuân thủ những chuẩn mực chung, thống nhất phù hợp với những điều kiện của xã hội và lợi ích của tập thể, các tập quán đã dần dần được hình thành một cách tự phát, được xã hội chấp nhận và trở thành những qui tắc
xử sự chung mang tính chất đạo đức của xã hội
b Sự tan rã của công xã nguyên thuỷ và sự xuất hiện Nhà nước
* Sự chuyển biến về kinh tế
Theo Engghel, các nguyên nhân làm tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và xuất hiện Nhà nước gắn liền với ba lần phân công lao động xã hội Nói cách khác, qua ba lần phân công lao động xã hội này làm cho các nguyên nhân này ngày càng trở nên sâu sắc hơn, cụ thể
* Lần thứ nhất: Chăn nuôi và trồng trọt xuất hiện, tách thành hai ngành nghề lao động chính Ơ lần thứ nhất này, góp phần làm do hoạt động lao động đa dạng hơn, mang tính chuyên môn hoá Sản phẩm lao động làm ra nhiều hơn so với nhu câu và xuất hiện khuynh hướng tích luỹ tư hữu Xã hội bắt đầu có
sự phân hoá giàu nghèo
* Lần thứ hai: Thủ công nghiệp xuất hiện và tách khỏi nông nghiệp như: đan, dệt, làm gốm và nhất
là luyện kim Ơ lần này, đòi hỏi xã hội phải cung ứng sức lao động dồi dào, nặng nhọc và cuối cùng hình thành quan hệ lao động thuê mướn Vì vậy, bắt đầu xuất hiện những rạn nứt, mâu thuẩn giữa chủ
và thợ; quan hệ lao động thuê mướn chứa đựng nguy cơ bóc lột
* Lần thứ ba: Buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện do nhu cầu trao đổi Lần này xuất hiện tầng lớp người mới: thương nhân Hoạt động mua bán ra đời kéo theo nạn cho vay nạn lãi, mua rẻ bán đắt, bóc lột NLĐ và người tiêu dùng
Tóm lại, qua ba lần phân công lao động đó, xã hội đã có những biến đổi sâu sắc:
Chế độ tư hữu xuất hiện thay thế cho chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động
Xã hội phân hoá thành các giai cấp thống trị và bị trị (tức giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột) Mối quan hệ huyết thống giữa các thành viên trong thị tộc ngày càng yếu đi và dần dần bị phá vỡ Mâu thuẩn xã hội tăng cao, dẫn đến sự khủng hoảng về đời sống kinh tế – xã hội nên cần phải có một tổ chức người mới thay thế thị tộc để giải quyết xung đột xã hội Hơn nữa, các thành viên trong thị tộc không còn sinh sống trên cùng một địa bàn do sự thay đổi nghề nghiệp dẫn đến thay đổi địa bàn sinh sống
Trang 3* Sự chuyển biến về xã hội
Lao động bầy đàn không còn phù hợp cùng với chế độ công hữu xưa cũ trở thành lực cản đối với nền kinh tế cũng như sự biến chuyển về quan hệ hôn nhân - gia đình khiến cho gia đình lớn là thị tộc mất dần vai trò và sự ảnh hưởng của mình đối với cộng đồng Điều này cũng có nghĩa rằng, đến một thời điểm nào đó nó không còn cơ sở để tồn tại thì đương nhiên sự tồn tại của nó trở thành quá khứ, hào quang của nó cũng dần lịm tắt Sự biến chuyển các điều kiện kinh tế mang tính khách quan và tất yếu dẫn đến sự biến chuyển các yếu tố thuộc mặt xã hội Sự chuyển biến kinh tế và xã hội gắn liền với những nội dung cụ thể khác nhau Tuy nhiên, điểm chung của những chuyển biến này là làm cho quá trình tan rã của thị tộc, bộ lạc và thúc đẩy sự ra đời của Nhà nước
Xã hội ngày càng có sự phân hóa sâu sắc giữa các tập đoàn người với địa vị, lợi ích vật chất và điều kiện kinh tế khác nhau
Thứ nhất, tầng lớp quý tộc bao gồm thương nhân, những người tư hữu nhiều tài sản, giới chủ các
cơ sở sản xuất cũng như các tăng lữ, thủ lĩnh cộng đồng,… Đây là những cơ sở, tiền đề dẫn đến chế độ người bóc lột người
Thứ hai, tầng lớp dân tự do, bao gồm nông dân, thợ thủ công và những NLĐ tự do khác ngày càng
bị lệ thuộc hoàn toàn vào giới chủ Do vậy, số lượng dân tự do ngày càng ít đi vì phần nhiều họ đã trở thành nô lệ
Thứ ba: nô lệ, bị giới chủ tước hầu hết quyền căn bản và phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ của mình Giới chủ nắm quyền sinh quyền sát nô lệ trong tay Ban đầu, lực lượng này chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng điều kiện kinh tế - xã hội càng phân hóa, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, sự bóc lột xã hội ngày càng mạnh tay hơn nên một bộ phận lớn dân tự cho trở thành nô lệ
Như vậy, sau ba lần phân công lao động xã hội, tất cả những giá trị đặc trưng của xã hội công xã nguyên thủy bị xô đổ, từ một xã hội đại đồng (không giai cấp, bóc lột, tư hữu, chiếm đoạt,…) đã chuyển sang xã hội đầy rẫy các mâu thuẫn, xung đột và dẫn đến việc xã hội dùng bạo lực để giải quyết Nhà nước ra đời là lực lượng nảy sinh từ xã hội và xuất hiện một cách khách quan khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định – xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy Nhà nước không phải là một tổ chức quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong một trật tự1 Nhà nước chỉ xuất hiện ở nơi nào và thời gian nào khi tiền đề kinh tế của
xã hội là chế độ tư hữu và tiền đề xã hội là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, và Nhà nước là sản phẩm tất yếu của những đối kháng giai cấp không thể điều hòa được
2 Bản chất nhà nước
* Khái niê ̣m bản chất và bản chất nhà nước
Nhà nước là một hiện tượng mang tính khách quan, nảy sinh từ các tiền đề do sự vận động của xã hội đem lại Vì vậy, cũng như các hiện tượng khác, Nhà nước cũng có bản chất của riêng nó Việc nhận thức bản chất Nhà nước sẽ góp phần lý giải sâu sắc hơn về hiện tượng Nhà nước; cho thấy các quy luật vận động và khuynh hướng phát triển của Nhà nước mang tính khách quan hơn
Khái niê ̣m bản chất của nhà nước có thể hiểu là toàn bộ những mối liên hê ̣, quan hê ̣ sâu sắc và
Trang 4Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện ở ba loại quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng Trong đó quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo đảm cho sự thống trị giai cấp Vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng có thể bắt người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột, vì vậy cần phải có một bộ máy Nhà nước để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về mặt kinh tế nhằm đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột Nhờ có Nhà nước nên giai cấp thống trị thoạt đầu chỉ giữ quyền thống trị về mặt kinh tế sau đó đã trở thành giai cấp thống trị cả về mặt chính trị và tư tưởng
Về chính trị, giai cấp thống trị thiết lập và nắm giữ các công cụ bạo lực như: quân đội, cảnh sát, tòa
án, nhà tù, vũ khí,… Các công cụ này sẽ được triển khai nếu sự thống trị của giai cấp bị đe dọa; trật tự
xã hội không phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị Trong những tình huống này, các công
cụ bạo lực này được Nhà nước sử dụng để đàn áp giai cấp đối lập, buộc giai cấp đối lập cũng như toàn
xã hội phải phục tùng ý chí của mı̀nh
Về tư tưởng, giai cấp thống trị áp đặt hệ tư tưởng chính thống lên toàn xã hội hoặc tìm mọi cách kiểm soát các kênh thông tin, truyền thông thực hiện chức năng truyền bá tư tưởng Qua đó giai cấp thống trị nhằm áp đặt nhận thức, tư tưởng trong xã hội, góp phần hı̀nh thành sự phục tùng có tính chất
tự nguyện của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội đối với giai cấp thống trị Từ đó tạo nên sự đồng thuận giữa các giai cấp với nhau trong đời sống tư tưởng, nhận thức để thiết lập trật tự xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị
b Tính xã hội của Nhà nước
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, Nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Bất kỳ Nhà nước nào cũng đều phải bảo đảm trật tự an toàn xã hội, Nhà nước nào cũng đều phải giải quyết những công việc chung của xã hội như: xây dựng những công trình phúc lợi, trường học, bệnh viện, đường sá, đắp đê, đào kênh làm thuỷ lợi, chống dịch bệnh, chống ô nhiễm môi trường…Về mặt này, Nhà nước đã thể hiện tính xã hội Do vậy, Nhà nước là một tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức và bảo đảm các lợi ích chung của xã hội
Trên thực tế, tuỳ theo mỗi Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử mà bản chất xã hội của Nhà nước được thể hiện ở mức độ khác nhau Nhà nước càng dân chủ thì bản chất xã hội càng thể hiện rõ nét Điều đó nói lên rằng, Nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang tính xã hội
c Mối quan hê ̣ giữa tính giai cấp và tı́nh xã hội của nhà nước
Dưới cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác, tính giai cấp và tính xã hô ̣i là hai mặt đối lập nhau, song lại
có tính thống nhất, hỗ trợ nhau Trước hết, giữa tính giai cấp và tı́nh xã hô ̣i của nhà nước là đối lập nhau Xuất phát từ sự đối lập về mặt vật chất giữa các giai cấp nên Nhà nước luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc hơn, ưu tiên phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị Thông thường điều này xảy ra ở những Nhà nước xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người hay trong giai đoạn đầu sau khi Nhà nước đã xuất hiện
Tuy nhiên, qua trı̀nh hı̀nh thành và phát triển của nhà nước không chı̉ chi ̣u sự tác đô ̣ng của từng yếu tố (tı́nh giai cấp và tı́nh xã hô ̣i) mà nó còn chi ̣u sự tác đô ̣ng của mối quan hê ̣ tương tác giữa tı́nh giai cấp và tı́nh xã hô ̣i nên trong chừng mực nhất định giữa tính giai cấp và tính xã hội có sự thống nhất nhau Lợi ích của giai cấp sẽ không được thỏa mãn hoàn toàn và có thể bị triệt tiêu nếu Nhà nước chỉ
Trang 5quan tâm đến lợi ích giai cấp; xóa bỏ hay phủ nhận toàn bộ lợi ích của xã hội thì Nhà nước đó sẽ đối diện với nguy cơ sụp đổ
3 Những đặc trưng của Nhà nước
- Thứ nhất, Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt, không còn hòa nhập với dân cư nữa; chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, Nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý; họ tham gia vào các
cơ quan Nhà nước và hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị
- Thứ hai, Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ, không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính (khác với tổ chức Thị tộc tập hợp các thành viên của mình theo dấu hiệu huyết thống).Việc phân chia này dẫn đến hình thành các cơ quan quản lý của từng đơn vị hành chính lãnh thổ Không một tổ chức xã hội nào trong xã hội có giai cấp lại không có lãnh thổ riêng của mình, lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước Mọi Nhà nước đều có lãnh thổ riêng của mình để cai trị hay quản lý, mọi Nhà nước đều chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã
Do có dấu hiệu về lãnh thổ mà xuất hiện chế định quốc tịch - chế định quy định sự lệ thuộc của một công dân vào một Nhà nước và một vùng lãnh thổ nhất định; thông qua đó Nhà nước thiết lập quan hệ với công dân của mình
- Thứ ba, Nhà nước có chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện ở quyền tự quyết của Nhà nước về mọi chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào bất kì một quốc gia nào khác Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính không tách rời Nhà nước, có tính tối cao với đất nước, các tổ chức và dân cư Dấu hiệu chủ quyền Nhà nước còn thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau dù đó là quốc gia lớn hay nhỏ
- Thứ tư, Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn xã hội, Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và đảm bảo thức hiện, có thể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Pháp luật do Nhà nước ban hành, nên nó có tính chất bắt buộc chung, mọi người đều phải tôn trọng pháp luật
Nhà nước và pháp luật có mối liên hệ phụ thuộc: không thể có Nhà nước mà thiếu pháp luật và ngược lại
-Thứ năm, Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước Sở dĩ Nhà nước phải đặt ra các loại thuế vì bộ máy của Nhà nước bao gồm một lớp người đặc biệt, tách khỏi lao động sản xuất để thực hiện chức năng quản lý, bộ máy đó phải được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp Thiếu thuế bộ máy đó không thể tồn tại được Nhưng mặt khác, chỉ có Nhà nước mới có đặc quyền đặt ra các loại thuế và thu thuế, vì Nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại biểu chính thức của toàn xã hội
Những đặc điểm trên đã nói lên sự khác nhau giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội khác đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp: là một tổ chức đặc biệt, giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, có thể tác động một cách toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả với đời sống xã hội, thể hiện lợi ích giai cáp thống trị một cách tập trung nhất
II Một số vấn đề cơ bản về pháp luật
Trang 6mối quan hệ giai cấp Do vậy, khi loài người chưa biết đến trạng thái của một xã hội có Nhà nước thì pháp luật cũng chưa xuất hiện
Trong xã công xã nguyên thủy, con người nhận thức còn mơ hồ về thế giới khách quan, trình độ của lực lượng sản xuất còn đơn giản nên con người thuận theo các quy luật vốn có của tự nhiên để tồn tại
Khi chế độ tư hữu được hình thành, xã hội phân chia thành các lực lượng có lợi ích vật chất đối kháng nhau Sự khác biệt về điều kiện sinh hoạt vật chất dẫn đến sự ra đời giai cấp và các cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng mạnh mẽ Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong điều kiện mới, giai cấp thống trị tiếp tục sử dụng những quy tắc tập quán đã tồn tại trước đó, nếu phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị Đây là cách thức đầu tiên hình thành nên pháp luật, được gọi là tập quán pháp Bên cạnh đó, sau khi Nhà nước ra đời đã làm gia tăng các mối quan hệ xã hội và ngày trở nên phức tạp hơn (đặc biệt là các mối quan hệ trong đời sống chính trị và kinh tế); xã hội có nguy cơ đổ vỡ hay biến động mạnh hơn nếu thiếu vắng những chuẩn mực, quy tắc xử sự mới Trước nhu cầu cấp thiết đó, Nhà nước tiến hành soạn thảo, thiết lập các bộ quy tắc ứng xử mới để điều chỉnh những quan hệ xã hội mới hình thành nhưng trước hết là củng cố, bảo đảm lợi ích (kinh tế, chính trị) của giai cấp thống trị Những quy tắc ứng xử này ban đầu còn đơn giản và chứa đựng trong nhiều văn bản rời rạc khác nhau Dần dần, cùng với sự hoàn thiện về tổ chức bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản pháp luật nói riêng ngày càng hòan thiện, quy củ hơn Đây là cách thức thứ hai hình thành nên pháp luật
Tóm lại, về phương diện khách quan, Nhà nước và pháp luật cùng xuất hiện trên những nguyên nhân cơ bản: xuất hiện chế độ tư hữu cũng như xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp Tuy nhiên, về phương diện chủ quan, sự xuất hiện của pháp luật không thể không thông qua bằng con đường Nhà nước: ban hành hoặc thừa nhận Từ đây, pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước, được giai cấp thống trị ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm duy trì trật tự xã hội phù hợp với ý chí, nguyện vọng của giai cấp thống trị
2 Bản chất pháp luật
a Tính giai cấp của pháp luật
Vì Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng cùng xuất hiện, tồn tại và phát triển trên cùng những nguyên nhân nên bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó, cụ thể biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất: pháp luật phản ánh ý chí Nhà nước (hay của giai cấp thống trị) trong xã hội Pháp luật là phương tiện để cụ thể hoá ý chí, tâm tư nguyện vọng của giai cấp thống trị Nói cách khác, pháp luật triển khai những đòi hỏi cụ thể mà giai cấp thống trị đặt ra cho toàn xã hội Những hành vi mà Nhà nước cho rằng nguy hiểm, đe doạ đến lợi ích của mình được chuyển hoá thành những quy phạm pháp luật mang tính cấm đoán; những hành vi mà nếu không được thực hiện bởi toàn xã hội sẽ đi ngược lại lợi ích của Nhà nước được chuyển hoá thành những quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc
-Thứ hai: nội dung pháp luật phản ánh rõ nét nhất điều kiện kinh tế, lợi ích vật chất của giai cấp thống trị Pháp luật trước hết sẽ tập trung bảo vệ những nguồn lợi thỏa mãn lợi ích vật chất của giai cấp thống trị Nói cách khác, chính những điều kiện vật chất này đóng vai trò quyết định đối với nội dung của pháp luật
- Thứ ba: Tính giai cấp của pháp luật còn được thể hiện qua mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong xã hội có Nhà nước luôn tồn tại các mối quan hệ giữa các giai cấp (giữa thống trị với bị trị; giữa thống trị với nhau hoặc giữa bị trị với nhau) nhưng đối kháng và gay gắt nhất là mối quan hệ giữa
Trang 7thống trị với bị trị Tuy nhiên, cho dù quan hệ giữa giai cấp nào chăng nữa thì giai cấp thống trị cũng muốn dùng pháp luật làm cơ sở, định hướng cho các quan hệ đó ổn định, phát triển theo những mục tiêu, mục đích mà giai cấp thống trị đã đặt ra
Tóm lại, pháp luật chẳng qua là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị một cách tập trung, thống nhất và triển khai thực hiện trong toàn xã hội, nhằm bảo đảm tuyệt đối vai trò cầm quyền và lợi ích của giai cấp thống trị trước xã hội Chính vì thế, không có hệ thống pháp luật nào mà không mang tính giai cấp Vấn đề đặt ra là mức độ tính và phương thức thể hiện tính giai cấp như thế nào trong hệ thống pháp luật Đây là một trong những tiêu chí để Mác phân định thành các kiểu pháp luật khác nhau
b.Tính xã hội
Cùng tồn tại bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn phản ánh các giá trị xã hội, tức mang tính xã hội Pháp luật được Nhà nước chính thức ban hành và áp dụng rộng rãi trong toàn xã hội nên tất yếu phải có tính xã hội Hơn nữa, pháp luật không chỉ là hiện tượng hoàn toàn mang tính chủ quan của giai cấp mà
nó được hình thành từ các nhân tố về mặt xã hội, nó bị quyết định bởi tồn tại xã hội Tính xã hội của pháp luật được thể hiện trên mấy nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất: trong chừng mực nhất định, pháp luật phản ánh, ghi nhận ý chí của toàn xã hội và chuyển hóa chúng thành các quy phạm pháp luật Không phải cho đến khi Nhà nước ra đời thì mới hình thành các quy tắc ứng xử mà trước đó, con người đã thiết lập ra nhiều quy tắc xử sự phù hợp với các quy luật vận động của tự nhiên và xã hội Vì những quy tắc ứng xử này gắn liền với nhu cầu và lợi ích của con người nên được phổ biến trong toàn xã hội và nhận được sự đồng thuận cao Trong đó, không ít những cách thức xử sự chứa đựng nhiều nhân tố hợp lý và đã được kiểm chứng tính đúng đắn, phù hợp nên giai cấp thống trị không thể không nâng lên hay hợp thức hoá thành pháp luật
- Thứ hai: pháp luật là công cụ để đánh giá tính hợp pháp đối với hành vi con người và là cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý của họ Pháp luật là khuôn mẫu, đưa ra những mô hình về hành vi để hướng dẫn con người những cách thức xử sự cụ thể trong các mối quan hệ xã hội Mỗi một quan hệ xã hội khác nhau, pháp luật thiết lập những giới hạn an toàn, tạo hành lang pháp lý để các bên tôn trọng lợi ích của nhau Những giới hạn mà pháp luật đặt ra còn là cơ sở xác định những hành vi vượt quá giới hạn cần thiết đó để truy cứu trách nhiệm pháp lý Ngoài ra, pháp luật còn là tấm gương phản chiếu các quá trình biến đổi của xã hội Nhà làm luật nhờ đó có cơ sở soi rọi, làm “sạch” hơn các quy phạm pháp luật; mọi người trong xã hội nhìn vào tấm gương đó để soi rọi lại chính mình
- Thứ ba: cùng với việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội Ý chí của giai cấp thống trị phản ánh rõ nét trong pháp luật nhưng điều này không đánh mất hoàn toàn cơ hội ghi nhận ý chí của toàn xã hội vào trong các quy phạm pháp luật Khi điều kiện tồn tại của xã hội thay đổi hay có những bước phát triển mới, việc tạo lập những chuẩn mực mới để điều chỉnh trật tự xã hội là tất yếu Quá trình này không chỉ phản ánh ý chí chủ quan của giai cấp thống trị vào pháp luật mà còn phải ghi nhận, phản ánh ý chí, tâm tư nguyện vọng của toàn xã hội để tìm ra giải pháp điều chỉnh tối ưu nhất Ngoài ra, bản chất xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật có khả năng hạn chế hoặc loại bỏ những quan hệ XH không phù hợp, thúc đẩy các quan hệ xã hội tiến bộ phát triển cũng như thể hiện qua tính nhân văn, tính dân tộc cũng như truyền
Trang 8Thuộc tính của pháp luật là những tính chất, dấu hiệu đặc trưng riêng có của pháp luật Pháp luật
có những thuộc tính sau:
a Tính quy phạm phổ biến (tính bắt buộc chung)
Pháp luật là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chuẩn mực, khuôn mẫu (tức có tính quy phạm) Tức pháp luật có tính chuẩn mực, như là những mô hình khuôn mẫu, chuẩn xác hướng dẫn cho hành vi
xử sự của con người Qua pháp luật, con người sẽ biết trong một hoàn cảnh cụ thể cách thức ứng xử như thế nào cho phù hợp với ý chí của nhà nước (được làm gì, không được làm gì, làm như thế nào,…) Mặt khác, tính quy phạm của pháp luật đưa ra những giới hạn cần thiết để qua đó, Nhà nước điều chỉnh hành vi của con người; trong phạm vi giới hạn đó vừa bảo đảm lợi ích tối đa cho chủ thể nhưng đồng thời không có nguy cơ gây phương hại cho trật tự xã hội, xâm hại lới ích chính đáng của chủ thể khác Nếu hành vi con người không đặt trong những giới hạn này sẽ trở nên quá đà, tùy tiện và có nguy cơ phá vỡ trật tự xã hội và lợi ích công cộng
Bên cạnh đó, quy phạm pháp luật còn mang tính phổ biến, tức pháp luật đặt ra các quy tắc ứng xử, chuẩn mực hành vi mang tính bắt buộc chung cho mọi người Tức pháp luật tác động đến tất cả các cá nhân, tổ chức trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã quy định Do vậy, về nguyên tắc, pháp luật không có những quy định có tính đặc quyền, đặc lợi cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mà phải bảo đảm giá trị bình đẳng, công bằng
b Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Hình thức pháp luật là biểu hiện bên ngoài của pháp luật, là yếu tố chứa đựng nội dung của pháp luật Nói cách khác, hình thức pháp luật là phương tiện thể hiện nội dung của pháp luật Có ba hình thức thể hiện nội dung của pháp luật như: tập quán pháp, tiền lệ pháp hay văn bản pháp luật
Tập quán pháp là hình thức nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, nâng chúng thành những quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo đảm thực hiện Như vậy, không phải mọi tập quán đều trở thành tập quán pháp mà chỉ những tập quán nào phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị thì sẽ được thừa nhận và nâng chúng lên thành pháp luật
Tiền lệ pháp (án lệ) là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việc tương tự
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó có chứa các quy phạm pháp luật, được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống và được nhà nước bảo đảm thực hiện
Bên cạnh đó, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức của pháp luật còn đòi hỏi ngôn ngữ thể hiện nội dung của pháp luật phải rõ ràng, chính và chuẩn xác; chỉ hiểu theo một nghĩa cho tất cả những chủ thể cùng rơi vào một tình huống Đặc biệt, pháp luật được ban hành phải có khả năng áp dụng trực tiếp tức có hiệu lực và tính khả thi ngay, hạn chế thông qua việc ban hành văn bản có tính giải thích, quy định chi tiết
c Tính được Nhà nước đảm bảo thực hiện
Nhà nước là chủ thể duy nhất ban hành pháp luật nên đồng thời phải có trách nhiệm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện trên thực tế Nói cách khác, nhà nước nắm trong tay nhiều nguồn lực vật chất
và quyền lực trong tay nên có khả năng cao nhất trong việc bảo đảm thực hiện pháp luật trong đời sống
xã hội Sự bảo đảm này được thể hiện trước hết nhà nước đảm bảo tính hợp lý và uy tín nội dung cho quy phạm pháp luật Nội dung pháp luật càng rõ ràng, dễ hiểu và tính khả thi cao thì sẽ pháp huy hiệu lực tối đa Bên cạnh đó, nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật bằng những biện pháp
Trang 9kinh tế (tác động thông qua các công cụ vật chất, kinh tế), tư tưởng (tuyên truyền, giáo dục), phương diện tổ chức bộ máy nhà nước và đặc biệt bằng biện pháp cưỡng chế
4 Văn bản quy phạm pháp luật (gọi tắt là văn bản pháp luật)
a Khái niệm – đặc điểm:
Là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định ban hành theo những thủ tục, trình
tự nhất định Nội dung chứa đựng những quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo trật tự nhất định và được áp dụng nhiều lần trong đời sống Văn bản quy phạm pháp luật bao giờ cũng được ban hành theo trình tự thủ tục chung được pháp luật quy định Cần lưu ý rằng, không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào (hay cơ quan mang quyền lực nhà nước nào) cũng có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Chỉ những cơ quan nào mà pháp luật của nhà nước cho phép hay quy định thẩm quyền ban hành thì mới được tham gia vào việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Hơn nữa, mỗi một cơ quan khác nhau khi ban hành văn bản pháp luật có những tên gọi khác nhau và được sắp xếp trong trật tự về hiệu lực pháp lý cao thấp khác nhau Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải được xác định chặt chẽ về thủ tục, thẩm quyền ban hành Nhìn chung, văn bản quy phạm pháp luật có một số đặc điểm (dấu hiệu) sau:
Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định (theo Luật ban hành văn bản QPPL);
Chứa đựng những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện;
Được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống cho đến khi bị thay đổi hay huỷ bỏ;
Các văn bản quy phạm pháp luật tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất về tên gọi, hiệu lực pháp luật theo quy định
b Các loại VBQPPL ở nước ta hiện nay (theo luật ban hành VBQPPL năm 2008)
Theo cách phân loại phổ biến hiện nay, người ta căn cứ vào cơ quan ban hành, giá trị và hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, chia thành: văn bản luật và văn bản dưới luật
* Văn bản luật : Là những văn bản pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước ban hành, gồm:
Hiến pháp: Là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật
Các đạo luật (bộ luật) là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp Các Bộ luật, đạo luật khi ban hành không được trái với Hiến pháp
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, Thông tư của Chánh án TANDTC
Nghị quyết (có chứa QPPL)
* Văn bản dưới luật: Do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo luật định ban hành, có giá trị pháp lý thấp hơn văn bản luật và khi ban hành không được trái với văn bản luật, gồm:
Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban TVQH;
Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước;
Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, Thông tư của Chánh án TANDTC
Thông tư của Viện trưởng VKSNDTC
Trang 10 Thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
III Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
1 Vi phạm pháp luật
- Khái niệm: Là hành vi (hành động hay không hành động), trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
- Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
+ Là hành vi xác định của con người;
+ Trái pháp luật: có ba dạng:
Thực hiện hành vi pháp luật cấm
Không thực hiện hành vi pháp luật bắt buộc
Thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép
+ Có lỗi;
Lỗi cố ý trực tiếp: chủ thể VPPL nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng mong muốn hậu quả xảy ra
- Về lý trí: biết trái pháp luật, nguy hiểm và gây ra hậu quả
- Về ý chí: mong muốn hậu quả xảy ra
Lỗi cố ý gián tiếp: chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra
- Về lý trí: biết sai trái, nguy hiểm
- Về ý chí: bỏ mặc hậu quả xảy ra (không quan tâm đến hậu quả)
Lỗi vô ý vì quá tự tin: chủ thể của vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành
vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
- Về lý trí: thấy trước hành vi của mình nguy hiểm, có khả năng gây ra thiệt hại;
- Về ý chí: không mong muốn hậu quả xảy ra
Lỗi vô ý do cẩu thả: chủ thể vi phạm do khinh suất, cẩu thả nên không nhận thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc cần phải thấy trước hậu quả đó
- Về lý trí: không thấy trước hành vi của mình là nguy hiểm
- Về ý chí: không biết hậu quả sẽ xảy ra
Trang 11+ Do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
vi của mình gây ra
- Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý:
+ Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là VPPL
+ Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là văn bản áp dụng pháp luật có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
+ Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế Nhà nước
Trang 12Chương 2 LUẬT HIẾN PHÁP
I Khái niệm Luật Hiến pháp
1 Đối tượng điều chỉnh: Hiến pháp là ngành luật chủ đạo nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, bao gồm: chế độ chính trị – kinh tế; quyền và nghĩa vụ của công dân; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCNVN
2 Phương pháp điều chỉnh: quyền uy – phục tùng
II Một số chế định cơ bản của Hiến pháp 2013
1 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
a Các quyền cơ bản của công dân
Khái niệm: là khả năng mà mỗi công dân được tự do lựa chọn cách thức xử sự không trái pháp luật Căn cứ vào nội dung, có bốn nhóm quyền sau:
* Quyền chính trị
* Quyền dân sự
* Quyền kinh tế
* Quyền văn hóa – xã hội
b Các nghĩa vụ cơ bản của công dân
• Khái niệm: là cách thức xử sự mà pháp luật bắt buộc mỗi công dân phải tuân theo
• Căn cứ vào nội dung, công dân có các nghĩa vụ cơ bản sau:
- Bảo vệ và trung thành với tổ quốc;
- Nghĩa vụ quân sự;
- Đóng thuế;
- Một số nghĩa vụ khác
2 Tổ chức bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam
a Khái niệm bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam (theo Hiến pháp 2013): là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ trung ương xuống địa phương, được tổ chức và họat động theo pháp luật Việt Nam, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Bộ máy Nhà nước CHXHCNVN Việt Nam (theo Hiến pháp 2013) bao gồm:
b Hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước
Những cơ quan này do nhân dân bầu ra, được nhân dân trao cho quyền lực và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Vì vậy còn có tên gọi khác là cơ quan đại diện, cơ quan dân cử, gồm:
* Ơ trung ương: Quốc hội:
- Vị trí – vai trò: là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Cơ cấu tổ chức: là một tập thể đại biểu đứng đầu có Chủ tịch Quốc hội do Quốc hội bầu ra Giúp việc
có các Phó chủ tịch Quốc hội và các Uy ban bên trong, trong đó Uy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, thực hiện một công việc do Quốc hội giao cho khi quốc hội không họp Quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm, mỗi năm Quốc hội họp ít nhất 2 lần và mỗi lần từ 4 đến 6 tuần Cơ cấu tổ chức: bao gồm Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, và các uỷ ban
- Chức năng:
* Lập hiến, lập pháp
* Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - chính trị - xã hội
* Giám sát tối cao đối với toàn bộ bộ máy nhà nước
* Ở địa phương: Hội đồng nhân dân các cấp
-Vị trí - vai trò: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do cử tri trong địa phương bầu ra
Trang 13- Cơ cấu tổ chức: HĐND được tổ chức ở ba cấp chính quyền địa phương Đứng đầu có Chủ tịch HĐND
do HĐND bầu ra Giúp việc cho HĐND còn có các Phó chủ tịch và các bộ phận bên trong
* Ở địa phương: gồm UBND các cấp: cấp tỉnh (gồm: tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương) – cấp huyện (gồm: huyện, quận, thị xã và thành pho thuộc tỉnh) và cấp xã (gồm: xã, phường, thị trấn) UBND
do HĐND cùng cấp thành lập Đứng đầu UBND có Chủ tịch UBND do HĐND cùng cấp bầu ra và có
sự phê chuẩn của UBND cấp trên trực tiếp; nếu kết quả bầu ra chủ tịch UBND cấp tỉnh thì Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn
c Hệ thống cơ quan tư pháp, gồm:
*Viện kiểm sát nhân dân:
- Vai trò – chức năng: Thực hành quyền công tố nhà nước, tức truy tố tội phạm ra trước tòa và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử các án hình sự và một số việc dân sự khác
- Cơ cấu tổ chức: gồm 4 cấp:
+ VKSNDTC: đứng đầu có Viện trưởng VKSNDTC do Quốc hội bầu ra
+ VKSDNCC: đứng đầu có Viện trưởng do UBTVQH thành lập
+ VKSND cấp tỉnh: đứng đầu có Viện trưởng do VKSNDTC thành lập
+VKSND cấp huyện: đứng đầu có Viện trưởng do VKSNDTC thành lập
Ngòai ra, trong mỗi cấp VKSND còn có Viện phó VKSND và Kiểm sát viên giúp việc
* Tòa án nhân dân:
- Vai trò – chức năng: thực hiện quyền xét xử các tranh chấp về kinh tế, lao động, dân sự, hành chính, hôn nhân – gia đình và các vụ án hình sự
- Cơ cấu tổ chức:
- Cơ cấu tổ chức: gồm 4 cấp:
+ TANDTC: đứng đầu có Chánh án TANDTC do Quốc hội bầu ra
+ TANDCC: đứng đầu có Chánh án do UBTVQH thành lập
+ TAND cấp tỉnh: đứng đầu có Chánh án do TANDTC thành lập
+TAND cấp huyện: đứng đầu có Chánh án do TANDTC hành lập
Ngòai ra, ở mỗi cấp tòa án còn có các Phó chánh án, thẩm phán và thư ký giúp việc
Bên cạnh những cơ quan trên, trong bộ máy nhà nước ta còn có chế định Chủ tịch nước Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia (đứng đầu Nhà nước), thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại
Trang 14Chương 3 LUẬT HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH
I Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của LHN&GĐ
1.Khái niệm: là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, về những lợi ích nhân thân và tài sản
2 Ðối tượng điều chỉnh và Phương pháp điều chỉnh
a Ðối tượng điều chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình, về những lợi ích nhân thân và tài sản
Quan hệ nhân thân là các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích nhân thân phi tài sản như: tình yêu thương, sự thủy chung, quan tâm chăm sóc lẫn giữa vợ chồng, cha mẹ và con, anh chị em với nhau, ông bà với cháu,
Quan hệ tài sản là các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích vật chất, tài sản: quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, tài sản chung và tài sản riêng trong gia đình,
b Phương pháp điều chỉnh: tự nguyện, bình đẳng
2 Điều kiện kết hôn:
* Điều kiện về độ tuổi: nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên Quy định này bắt buộc nam phải từ đủ hai mươi tuổi trở lê, nữ phải từ đủ mười tám tuổi trở lên mới được kết hôn Việc quy định độ tuổi tối thiểu kết hôn xuất phát từ: (1) chỉ số phát triển tâm sinh lý của con người ở Việt Nam; (2) khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong đời sống hôn nhân gia đình (gồm quyền
và nghĩa vụ giữa vợ và chồng; của cha, mẹ với con); (3) phù hợp với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam
* Điều kiện về sự tự nguyện: Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định Do vậy, mọi hành
vi áp đặt trong việc kết hôn hoặc không phản ánh sự tự nguyện của hai bên nam nữ đều bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn pháp luật Cụ thể những hành vi sau đây bị cấm:
- Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ
- Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành
vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ
- Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình
- Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ
Trang 15- Lừa dối kết hôn là hành vi gian dối của một bên làm cho bên kia hiểu nhầm về hoàn cảnh, điều kiện hay tình trạng nhân thân của mình để họ đồng ý kết hôn
* Điều kiện về năng lực hành vi dân sự Cả hai bên nam, nữ phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Nói cách khác là phải có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện, quyền, nghĩa vụ dân sự
* Điều kiện không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn:
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ: là giữa cha mẹ với con, giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại
- Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời là giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị
em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì ruột là đời thứ ba
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
* Lưu ý: đối với hôn nhân đồng tính, tuy pháp luật không cấm kết hôn nhưng cũng không được thừa nhận nên không thể tiến hành đăng ký kết hôn
*Điều kiện về đăng ký kết hôn Nếu nam, nữ đủ các điều kiện trên và phải đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật mới được coi là kết hôn hợp pháp Việc kết hôn phải được đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn Nếu kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài thì đăng ký tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam
ở nước ngoài
* Lưu ý:
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của phap luật đều không có giá trị pháp lý
Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn
III Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng
1 Quan hệ nhân thân
Trong quan hệ nhân thân, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ lẫn nhau một cách bình đẳng; đồng thời không có sự tách bạch một cách rõ giữa quyền và nghĩa vụ Nói cách khác, trong quan hệ nhân thân, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng là thống nhất, hòa quyện nhau Do vậy vợ chồng phải chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; bình đẳng nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình Nơi cư trú của vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau; cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau; tôn trọng quyền tự do
Trang 16vọng và khả năng của mỗi người Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản; đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà
án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó
2 Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng (tài sản chung, tài sản riêng và thừa kế giữa vợ, chồng)
a Tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Phần tài sản vợ chồng được chia từ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Tài sản (hoa lợi, lợi tức) được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng sau khi vợ, chồng đã chia tài sản chung
Lưu ý: Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung
b Tài sản chung của vợ chồng
- Tài sản chung của vợ chồng gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản (hoa lợi, lợi tức) phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng, nếu vợ chồng không chia tài sản chung trước đó
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Lưu ý: Đối với tài sản đang có tranh chấp, bên nào cho rằng đó là tài sản riêng thì phải có nghĩa vụ chứng minh (kèm theo chứng cứ); nếu không chứng minh được thì tài sản đó được xác định là tài sản chung (tức trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung)
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền lập văn bản nhằm thỏa thuận chia một phần hoặc toàn
bộ tài sản chung, trừ các trường hợp sau:
- Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài sản, xâm phạm đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức khác (như: bồi thường thiệt hại; trả nợ, nộp thuế,…)
Vợ, chồng có thể tự thỏa thuận việc chia tài sản chung, cũng như sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ thỏa thuận đó Nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu thì Tòa án chia tài sản chung Tòa án sẽ giải quyết theo các nguyên tắc như chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn
Trang 17Lưu ý: Phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng
c Thừa kế tài sản giữa vợ, chồng
- Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế
- Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản
- Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế
- Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự
IV Ly hôn
1 Khái niệm và quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
a Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
b Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:
- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn
- Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
- Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi
2 Các trường hợp và thủ tục giải quyết ly hôn
a Trường hợp thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, Toà án triệu tập các bên để phân tích, đánh giá sự việc để các bên đoàn tụ trở lại; nhưng nếu các bên không đồng ý, và xét thấy hai bên: (1) thật sự tự nguyện ly hôn và (2) đã thoả thuận về việc chia tài sản và việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con hợp lý, công bằng, nhất là bảo đảm quyền lợi của vợ, con thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định (tức Tòa án vẫn công nhận ly hôn; còn phần tài sản chung và vấn đề người nuôi con, cấp dưỡng,… sẽ do Tòa quyết định theo hướng công bằng, bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con)
b Ly hôn theo yêu cầu của một bên
- Vợ hoặc chồng nộp đơn yêu cầu ly hôn, sau khi thụ lý đơn, Tòa án tiến hành hòa giải:
Trang 18*Nếu hòa giải đoàn tụ không thành (kể cả trường hợp một trong hai bên thay đổi ý kiến về việc hoàn giải thành trong thời gian bảy ngày), Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử Khi xét xử ly hôn, Tòa
án căn cứ vào thực chất của vụ việc cũng như các quy định của pháp luật để phán quyết theo một trong hai hướng sau:
- Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn nếu có căn cứ cho rằng, vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
- Nếu không đủ căn cứ cho ly hôn thì Tòa án ra bản án bác đơn ly hôn
Sau mười lăm ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm (tức xét xử lần đầu) nếu đương sự nào không đồng
ý bản án sơ thẩm thì nộp đơn kháng cáo, yêu cầu xét xử lại (tức xét xử phúc thẩm)
Lưu ý: Đối với người nộp đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn, mà bị tòa án bác đơn thì hết thời gian một năm, kể từ ngày bản án, quyết định bác đơn ly hôn có hiệu lực pháp luật, người đó mới được quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn
c Ly hôn với người bị tòa tuyên bố mất tích: Nếu vợ hoặc chồng mất tích (không còn tin tức xác thực
là còn sống hay đã chết sau hai năm liên tục), thì người kia có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố vợ, chồng mình mất tích Sau khi Tòa án tuyên bố mất tích, nếu người vợ hoặc người chồng yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với người mất tích, thì Toà án giải quyết cho ly hôn
d Ly hôn theo yêu cầu của người khác Trong trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn, nếu có căn cứ cho rằng, chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia
Lưu ý: quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật
3 Giải quyết con chung và tài sản chung khi ly hôn:
a Đối với con chung
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó
Trang 19Cha, mẹ có thể yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu quyền và lợi ích chính đáng của con bị xâm hại hoặc người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
b Giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình (lao động nội trợ) được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
c Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn
Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
V Quan hệ gia đình (thể hiện qua quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình)
1 Nghĩa vụ và quyền giữa con và cha, mẹ
Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết n, hiếu thoả với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình; chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ nhất là khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình; có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập; tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con
Trang 20Chương 4 LUẬT HÌNH SỰ &TỐ TỤNG HÌNH SỰ
O0O
§ 1 LUẬT HÌNH SỰ
1 Khái niệm Luật Hình sự
1.1 Định nghĩa: Luật Hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt nam, bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định những hành vi nguy hiểm cho
xã hội là tội phạm và hình phạt với các tội phạm
1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự: Là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước
và người phạm tội khi người này thực hiện một hành vi mà Nhà nước qui định là tội phạm
1.3 Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự: là phương pháp quyền uy Trong đó Nhà nước có quyền tối cao trong việc định đoạt số phận của người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm mà họ đã gây ra Trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra là trách nhiệm thuộc về cá nhân người phạm tội, phải do chính người phạm tội trực tiếp gánh chịu, mà không thể “chuyển” hoặc
“ủy thác” cho người khác
2 Khái niệm và phân loại tội phạm
2.1 Khái niệm tội phạm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự , do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN (Điều 8 BLHS)
Từ định nghĩa đầy đủ trên, có thể đưa ra định nghĩa tội phạm một cách khái quát: Tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi và phải chịu hình phạt
2.2 Những dấu hiệu cơ bản của tội phạm
- Tính nguy hiểm cho xã hội: Là thuộc tính khách quan, là dấu hiệu vật chất của tội phạm Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm phải là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng
kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
- Tính có lỗi của tội phạm: Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra
Trong BLHS, tính có lỗi là một dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội Không thể buộc tội một người mà chỉ căn cứ vào hành vi khách quan họ đã thực hiện
- Tính trái pháp luật hình sự: Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếu nó được quy định trong BLHS
- Chủ thể phạm tội phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tức phải có khả năng gánh chịu hình phạt Trong BLHS có hai loại chủ thể tội phạm gồm; cá nhân (người) phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội
* Đối với cá nhân, để được coi là tội phạm và gánh chịu hình phạt phải đảm bảo 02 điều kiện: có khả năng (năng lực nhận thức) và đạt độ tuổi theo quy định, cụ thể:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm
mà BLHS có quy định khác
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài
Trang 21sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm đối với một số hành vi mua bán người, chiếm đoạt tài sản (cướp, trộm cắp, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); các tội về ma túy, đua xe trái phép; một số xâm phạm an ninh quốc gia…
* Đối với pháp nhân thương mại: phải là những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được tổ chức, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật
2.3 Phân loại tội phạm
2.3.1 Căn cứ vào tính nguy hiểm
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như đã trình bày, nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau Chính vì vậy mà vấn đề phân hóa trách nhiệm hình
sự và cá thể hóa hình phạt được coi là một nguyên tắc quan trọng của luật hình sự Quán triệt nguyên tắc này, BLHS căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định thành bốn loại sau đây:
1 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tô ̣i ấy là phạt tiền, phạt cải ta ̣o không giam giữ hoă ̣c pha ̣t tù đến 03 năm;
2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
2.3.2 Căn cứ vào khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (phản bội tổ quốc, tội gián điệp …)
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người
Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân
Các tội xâm phạm sở hữu (tức các tội chiếm đoạt tài sản)
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường; các tội phạm về ma tuý; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công…
3 Trách nhiệm hình sự và hình phạt
3.1 Trách nhiệm hình sự (TNHS)
3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của TNHS
Khái niệm: TNHS là trách nhiệm của chủ thể phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình
Đặc điểm:
TNHS là hậu quả của việc thực hiện hành vi phạm tội
TNHS được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật
Trang 22Khái niệm: Là thời hạn do BLHS quy định mà khi kết thúc thời hạn này thì chủ thể phạm tội không
bị truy cứu TNHS Tức không truy cứu TNHS đối với chủ thể phạm tội nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây:
05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng
10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng
15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng
20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Một số lưu ý:
Nếu các thời hạn nói trên đã qua mà các cơ quan bảo vệ pháp luật vì lý do nào đó không phát hiện được tội phạm hoặc phát hiện được nhưng bỏ qua không điều tra, truy tố, xét xử thì chủ thể phạm tội không bị truy cứu TNHS nữa Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện
Trong thời hạn nêu trên, nếu chủ thể phạm tội lại phạm tội mới (tội mới có mức cao nhất của khung hình phạt trên một năm tù), thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại
kể từ ngày phạm tội mới
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính vào thời hiệu và thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ
Đối với một số tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm chiến tranh, chống loài người thì không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
3.2 Hình phạt
3.2.1 Khái niệm hình phạt
Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội
Hình phạt được quy định trong BLHS và chỉ do toà án áp dụng
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
Hình phạt chỉ được áp dụng đối với chủ thể phạm tội
3.2.2 Mục đích của hình phạt
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
3.2.3 Hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội
a Nhóm hình phạt chính:
Cảnh cáo: được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt
Phạt tiền: được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
- Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định;
- Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng,
an toàn công cộng và một số tội phạm khác do BLHS quy định Phạt tiền được áp dụng đối với người từ
đủ 16 tuổi trở lên phạm tội và không được thấp hơn 1.000.000 đồng
Cải tạo không giam giữ: được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội
Trang 23Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ
Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó
Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước Nếu không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng (không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần) trong thời gian cải tạo không giam giữ
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
Trục xuất: là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tù có thời hạn: là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định với mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù
Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và
có nơi cư trú rõ ràng
Tù chung thân: là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình
Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội
Tử hình: là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do BLHS quy định
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tuổi trở lên
Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân
b Nhóm hình phạt bổ sung bao gồm: