Đất nhiễm mặn Đất mặn là đất chứa nhiều muối hòa tan , những loại muối tan thường gặp trong đất là:NaCl, CaCl2, MgCl2, …Do nước biển xâm nhập vào nội đồng theo sông ngòi khi thủy triều
Trang 1}BÁO CÁO HỌC PHẦN CÂY LÚA GVHD : NGUYỄN THÀNH HỐI
ĐỀ TÀI : CANH CÁT LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN NHIỄM MẶN
NGƯƠI THỰC HIỆN : ĐÀO NHƯ NGUYÊN
Mssv : B1505031
1
Trang 2NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 1 Gía trị lúa gạo
1 2 Đất nhiễm mặn
2 1 Nguyên nhân
2 2 Ảnh hưởng đến canh tác lúa III Biện pháp canh tác lúa trên đất nhiễm mặn
3 1 Cải tảo, xử lí đất nhiễm mặn
3 1.1 Biện pháp thủy lợi
3 1.2 Biện pháp cơ học
3 1.3 Biện pháp hóa học
3 2 Chọn giống và kĩ thuật canh tác
3 2 Các giống lúa chống mặn Một số tài liệu tham khảo
Trang 3I GIỚI THIỆU:
1 1 Giá trị lúa gạo:
Gạo là thức ăn giàu dinh dưỡng So với lúa mì, gạo có thành phần tinh bột và protein hơi thấp hơn, nhưng năng lượng tạo ra cao hơn do chứa nhiều chất béo hơn Ngoài ra, nếu tính trên một đơn vị hecta, gạo cung cấp nhiều calo hơn lúa mì do năng suất lúa cao hơn nhiều so với năng suất lúa mì Hơn nữa, trong gạo lại chứa nhiều acid amin thiết yếu như: Lysine, Threonine, Methionine, Trytophan… hơn hẳn lúa mì
Trong hạt gạo, hàm lượng dinh dưỡng tập trung ở các lớp ngoài và giảm dần vào trung tâm Phần bên trong nội nhũ chỉ chứa chủ yếu là chất đường bột Cám hay lớp vỏ ngoài của hạt gạo chiếm khoảng 10% trọng lượng khộ là thành phần rất bổ dưỡng của lúa, chứa nhiều protein, chất béo, khoáng chất và vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B
Ngoài ra cơm, gạo còn dùng để chế biến ra nhiều loại bánh, làm môi trường để nuôi cấy niêm khuẩn, men, cơm mẻ,…Gạo còn dùng để cất rượu, cồn, …Người ta không thể nào kể hết công dụng của nó
Trấu, ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồn còn làm ván ép, vật liệu cách nhiệt, cách
âm, chế tạo carbon và silic….Cám là thành phần cơ bản trong trong thức ăn gia súc, gia cầm
và trích lấy dầu ăn
Từ năm 2004, gạo xuất khẩu đã đứng trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu có số ngoại tệ thu về trên 1 tỉ USD và ngày càng tăng Theo Hiệp Hội lương Thực Việt Nam (VFA), đến tháng 8/2009 Việt Nam đã xuất khẩu được 4,16 triệu tấn và đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD và đến cuối tháng 12/2009 Việt Nam đã xuất được trên 6 triệu tấn gạo thu về hơn 2,4 tỉ USD
1 2 Đất nhiễm mặn
Đất mặn là đất chứa nhiều muối hòa tan , những loại muối tan thường gặp trong đất là:NaCl, CaCl2, MgCl2, …Do nước biển xâm nhập vào nội đồng theo sông ngòi khi thủy triều lên cao, qua các trận mưa bão vỡ đê biển hoặc vào mùa khô khi nước ngọt của các con sông có lưu lượng tháp chảy ra biển, nước ngọt không đủ lực để đẩy nước biển khi thủy triều mạnh Nước mặn vũng có thể theo các mao mạch, đường nứt trong đất,đi qua các con đê biển thấm sâu vào sâu trong nội đồng
Khi khô đất nức nẽ, cứng như đá, khi ướt đất dính dẻo, hạt đất trương mạnh, bích kín tất
cả các khe hở làm cho đất hoàn toàn trở nên không thấm nước
Nhóm đất mặn: chiếm khoảng 8000 000 ha (21%) đất đồng bằng sông Cửu Long phân bố dọc theo bờ biển Thiếu nước ngọt và bị nhiễm mặn vào mùa khô là hạn chế chính trong trong sản xuất lúa của ĐBSCL Thêm vào đó, rừng đước bị chôn vùi lâu năm dưới lớp đất phù sa tạo nên loại đất phèn tiềm tàng và kết hợp với mặn càng làm làm cho việc sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn hơn Ở vùng đất phù sa bị nhiễm mặn, lúa bị độc chủ yếu do sự tích lũy các ion Cl và Na Ở đây chỉ trồng lúa được trong mùa mưa khi các muối độc đã bị rửa trôi ( nồng độ muối dưới 2 phần ngàn) và phải thu hoạch khi dứt mưa
( Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
3
Trang 4II HIỆN TRẠNG XÂM NHẬP MẶN :
2 1 Nguyên nhân :
Do mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sơm, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kong bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn so với cùng kì hằng gần 2 tháng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Dòng chảy từ thượng nguồn sông Mêkong xuống ĐBSCL suy giảm nghiêm trọng Theo kết quả quan trắc thì lượng nước từ thượng nguồn sông Mêkông về Tân Châu, Châu Đốc (Việt Nam) suy giảm 30% so với trung bình nhiều năm Nguyên nhân, là do lượng mưa trên toàn bộ lưu vực suy giảm khoảng 50% so với các năm
Các vùng cách biển 45km : Nguồn nước ngọt xuất hiện rất ít và gần như không có khả năng lấy nước ngọt từ cửa sông, gây thiếu nước cho sản xuất và nước sinh hoạt
Hạn hán kéo dài làm cho nước biển càn lấn sâu vào đất liền nhiều chục km
Trang 52 2 Ảnh hưởng đến canh tác lúa:
Theo ông Sơn Minh Thắng – Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, trong 6 tháng đầu năm 2016 tình hình thời tiết hạn hán và xâm nhập mặn trong vùng đã gây
ra tổng thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp ước tính khoảng 4.678 tỉ đồng, trong đó lúa thiệt hại 232,95 ha; hoa màu và rau màu thiệt hại 6.561 ha; cây ăn quả và cây công nghiệp bị thiệt hại toàn vùng là 10.831 ha Có khoảng 226.605 hộ dân trong vùng bị thiếu nước sinh hoạt
Cà Mau là một trong những tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất do hạn hán, xâm nhập mặn tại vùng ĐBSCL, 6 tháng vừa qua không có mưa, xâm nhập mặn nặng nề đã dẫn tới
“mùa khô dài nhất lịch sử” Tỉnh Cà Mau đã công bố thiên tai do hạn hán, rủi ro cấp độ 2
5
Trang 6III Biện pháp canh tác trên đất nhiễm mặn:
3 1 Cải tạo, xử lí đất nhiễm mặn:
3 1.1 Biện pháp thủy lợi:
Đây là biện pháp quan trọng và đạt hiệu quả nhất trong việc kiểm soát độ mặn của đất Điển hình cho phương pháp này là dùng nước hòa loãng với dung dịch đất Các muối dễ tan được hòa loãng và rửa trôi đi Đối với những đất có hàm lượng Na cao sẽ có hiệu quả hơn trong cải tạo đất bẳng việc sử dụng CaSO4 kết hợp rửa mặn (James Camberato, 2001)
Đưa nước ngọt vào rữa mặn: Dẫn nước ngọt vào ruộng, cày , bừa, sục bùn để các muối hòa tan, ngâm ruộng sau đó tháo nước ra kênh tiêu
Xây dựng hồ chứa: Ở ĐBSCL, lượng mưa hàng năm trung bình từ 1200 – 1000 mm nhưng
phân phối không đều, gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi, mùa khô lại không đủ nước tưới Ngay trong mùa mưa đôi khi lại có một khoảng thời gian nắng hạn kéo dài làm trở ngại cho sự sinh trưởng của cây lúa Khoảng thời gian ít mưa vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 Thường đợt nắng hạn này kéo dài khoàng hai tuần lễ, dân gian gọi là “hạn Bà Chằng” Nếu
như đợt hạn này kéo dài có thể gây nhiều thiệc hại đối với trồng lúa Vì vậy việc xây hồ
chứa là rất cần thiếc, giúp điều tiết lượng nước cho tưới tiêu, hạn chế sự xâm nhập mặn và
có thể phát triển nuôi thủy sản.
.
3 1.2 Biện pháp cơ học:
Cày xới đất trong mùa khô để tránh hiện tượng mao dẫn các muối từ tầng dưới lên tầng mặt Đồng thời cày xới giúp đất tơi xốp, tăng khả năng thấm rút nước giúp cho việc rửa các muối trong đất được dễ dàng ( Võ Tòng Xuân, 1984)
Trang 73 1.3 Biện pháp hóa học:
Thạch cao (CaSO4.2H2O) hoặc Supe Photphat
Dionisio-Sese and Tobita (2000) cho rằng khả năng chịu mặn của giống lúa có liên quan đến sự giảm tích lũy Na trong chồi Trong điều kiện nồng độ Na của môi trường đất cao, sự thiếu Ca trong chồi là triệu trứng thường thấy do ảnh hưởng mặn (Ho và csv.,1994)
Clarkson và Hanson (1980) cho rằng Ca là nguyên tố cần thiết trong bảo vệ rễ cây trồng khỏi
bị gây hại do mặn và mất căn bằng ion Barnabas và csv.(1998) cho rằn trong điều kiện mặn cao, việc bón Ca vào đất là cần thiết để duy trì màng tế bào, ổn định và bảo vệ tế bào biểu bì không bị ảnh hưởng của muối
Việc bón Ca sẽ cải thiện chất lượng cây trồng khi cây thiếu Ca- gây ra do Na (Grattan và Grieve, 1999) Bón vào đất trồng hợp chất Ca có độ hòa tan thấp sẽ cải thiện hiệu quả ảnh hưởng của mặn, trong trong khi sử dụng hợp chất Ca có độ hòa tan cao làm trầm trọng thêm ảnh hưởng của mặn (Shah Alam và csv.,2007)
Nhưng theo Muhammad Aslam (2003), bón thừa Ca có thể đưa đến gây thiệt hại sinh trưởng và năng suất lúa
Ion Na+ đóng vai trò quan trọng trong đất mặn, nó có thể ở dạng muối tan như:NaCl, NAHCO3, Na2SO4… và quan trọng hơn là Na+ở dạng trao đổi hấp phụ trên bề mặt keo đất những tính chất xấu của đất mặn về phương diện vật lý, hóa học, sinh vật học, tính chất vật lý nước chủ yếu do ion này gây ra muốn cải tạo đất mặn điều kiện tiên quyết là phải loại trừ ion
Na+ trong dung dịch đất và trong phức hệ hấp thụ bằng việc thay thế bởi ion Ca2+ Đó là nguyên
lý cơ bản trong cải tạo hóa học đất mặn
Trong một nghiên cứu ở IRRI cho thấy: Với giống lúa chịu mặn CSR13, khi bón kết hợp 25% thạch cao, cây lúa phát triển khá trong điều kiện đất nhiễm mặn Trong khi đó, giống lúa địa phương, không bón thạch cao đã bị chết rụi hầu như hoàn toàn
3 2 Chọn giống và kĩ thuật canh tác:
3 2.1 Các giống lúa chống mặn:
Thay đổi lối canh tác của người nông dân ở vùng nước trời nhiễm mặn từ các giống lúa
địa phương, lúa mùa, lúa trung mùa… sang các giống lúa có khả năng chống chịu mặn cao
Vùng nước trời nhiễm mặn: Vùng này vẫn còn chiếm diện tích khá lớn ở các tỉnh ven
biển trải dài từ Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Tại vùng này, cơ cấu phổ biến trên đất lúa vẫn là lúa hai vụ (Hè Thu bằng giống lúa cao sản ngắn ngày sạ khô và cấy lắp vụ bắng các giống lúa địa phương, hoặc các giống lúa cao sản ngắn ngày hoặc trung mùa) Vùng khó khăn vẫn tiếp tục duy trì cơ cấu một vụ lúa mùa hoặc lúa trung mùa cao sản như TR42,MTL83, ST5.(Nguyễn Ngọc Đệ,2008)
7
Trang 8Vừa qua Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã chỉ đạo các viện thành viên (Viện Lúa ĐBSCL và Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam) đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có khả năng chống chịu cao với điều kiện mặn
Trước diễn biến gia tăng mức độ xâm nhập mặn ở các tỉnh ĐBSCL, thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ NN-PTNT, vừa qua Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã chỉ đạo các viện thành viên (Viện Lúa ĐBSCL và Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam) đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có khả năng chống chịu cao với điều kiện mặn
Từ năm 2012, các giống lúa chịu mặn như OM5629, OM6677, OM5954, OM10252 và OM0066 đã được đưa vào sản xuất thử và theo dõi chặt chẽ độ mẫn cảm với độ mặn cũng như tình hình sâu bệnh, thích nghi, chống chịu của các giống lúa mới tại các vùng canh tác nhiễm mặn của tỉnh Bạc Liêu Hầu hết các giống lúa mới cho kết quả sinh trưởng tốt trên những vùng đất ngập mặn, cây lúa có bộ rễ phát triển mạnh, thân cứng, chống đổ ngã và khả năng chống
chọi với sâu bệnh tốt hơn, trong đó giống OM5629 có khả năng chịu mặn tốt nhất với thời gian
sinh trưởng 95 đến 100 ngày, kháng bệnh đạo ôn ở mức khá, tương đối phù hợp, giống lúa này đang tiếp tục được nhân rộng, đánh giá thêm những đặc tính nổi trội mới
1 OM6976
Giống được công nhận chính thức năm 2011, đang sử dụng phổ biến ở một số tỉnh như Long An, Kiên Giang, An Giang
Đặc tính nông học: Giống có thời gian sinh trưởng 95 - 100 ngày, cao cây 95 - 100cm, dạng hình đẹp, rất cứng cây, đẻ nhánh ít, bông to - chùm, đóng hạt dầy, khối lượng nghìn hạt trung bình (25 - 26gr) Năng suất 6 - 9 tấn/ha
Phẩm chất: Tỷ lệ gạo nguyên 50 - 55%, bạc bụng cấp 3, dài hạt trung bình, hàm lượng amylose 24 - 25%, hàm lượng sắt cao (6,9 - 7,01 mg/kg)
Tính chống chịu: Chống chịu rầy nâu trung bình (cấp 3 - 5), nhiễm đạo ôn (cấp 5 - 7), nhiễm bạc lá (cấp 5).Chịu mặn 3 - 4‰, chịu phèn tốt
Tính thích nghi: Canh tác được các vụ trong năm và thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái
ở ĐBSCL
Trang 92 OM6677
Giống đang được đề nghị công nhận chính thức năm 2014
Đặc tính nông học: Giống có thời gian sinh trưởng 95 - 100 ngày, chiều cao cây 100 - 105cm thân rạ cứng, khả năng đẻ nhánh khá Khối lượng nghìn hạt trung bình từ 26 - 27gr Năng suất 5 - 8 tấn/ha
Phẩm chất: Tỷ lệ bạc bụng thấp, hạt gạo dài hạt >7mm, thon đạt tiêu chuẩn xuất khẩu hàm lượng amylose 22 - 23%
Tính chống chịu: Chống chịu trung bình với rầy nâu cấp 4 - 5, nhiễm nhẹ đạo ôn cấp 5, bạc lá cấp 5
Chịu mặn 4 - 6‰, chịu phèn khá
Tính thích nghi: Thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL
3 OM2517
Giống được công nhận chính thức năm 2004
Đặc tính nông học: Giống có thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày, chiều cao cây 90 - 100cm, thân rạ cứng, khả năng đẻ nhánh khá, khối lượng nghìn hạt trung bình từ 26 - 28gr Năng suất 5 - 8 tấn/ha
Phẩm chất: Hạt gạo dài , gạo trong, hàm lượng amylose 24 - 25%
Tính chống chịu: Giống hơi nhiễm rầy nâu cấp 3 - 5, đạo ôn cấp 3 - 5, bạc lá cấp 5
Chịu mặn 3 - 4‰
Tính thích nghi: Thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL
4 OM4900
Giống được công nhận chính thức năm 2009
Đặc tính nông học: Giống có thời gian sinh trưởng 100 - 105 ngày, chiều cao cây 95 - 100cm, thân rạ cứng, khả năng đẻ nhánh khá Khối lượng nghìn hạt trung bình từ 28 - 29gr Năng suất 7 - 8 tấn/ha
Phẩm chất: Hạt gạo trong, không bạc bụng, dài hạt 7 - 7,3mm, cơm mùi thơm nhẹ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Hàm lượng amylose 16%
Tính chống chịu: Giống hơi kháng rầy nâu cấp 3 - 5, hơi nhiễm đạo ôn cấp 5, nhiễm bạc
lá cấp 7 - 9
Chịu mặn 2 - 3‰
Tính thích nghi: Thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL
9
Trang 10Một số tài liệu tham khảo
Bài giảng Cây Lúa ( Nguyễn Thành Hối, 2011)
Giáo trình Cây Lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008 )
Một số giống lúa chịu mặn nổi bật-VIỆN LÚA ĐBSCL
Tính chất tự nhiên & những tiến trình làm thay đổi độ phì nhiêu đất đồng bằng sông Cửu Long (Ngô Ngọc Hưng, 2009)