1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN-Phương pháp dạy học Từ ngữ

23 985 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp dạy học từ ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Thu Phượng
Người hướng dẫn GV: Nguyễn Thị Thu Phượng
Trường học Trường THCS Ninh Điền
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2007 - 2008
Thành phố Châu Thành
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 141 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy giáo dục phải giữ vai tròquan trọng trong việc chuẩn hoá từ ngữ tiếng Việthiện đại.Từ những điều trình bày trên có thể kếtluận một lần nữa rằng việc dạy từ ngữ là vô cùngcần thiết

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC CHÂU THÀNH

TRƯỜNG THCS NINH ĐIỀN



Người thực hiện:

Nguyễn Thị Thu Phượng

Tổ: Xã Hội.

Trang 2

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

- Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ NGỮ

- Họ và tên tác giả: NGUYỄN THỊ THU PHƯỢNG

- Đơn vị công tác: Trường THCS Ninh Điền

1 Lý do chọn đề tài:

- Ngôn ngữ là một yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc, duy trì và pháttriển truyền thống văn hoá dân tộc

- Phát huy năng lức giao tiếp và khả năng tư duy của học sinh

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 6

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các tài liệu, đưa ra giải phápvà tiến hành giảng dạy thí điểm, sau đó đánh giá, rút ra kinh nghiệm cho bảnthân

3 Đề tài đưa ra giải pháp mới:

- Học sinh rèn luyện được nhiều kỹ năng giao tiếp, tăng vốn từ

- Học sinh biến mình thành người tự khám phá ra kiến thức, tự tìmkiến thức cho mình

4 Hiệu quả áp dụng:

- Học sinh tích cực học tập, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn

5 Phạm vi áp dụng:

Đề tài này có thể thực hiện như một chuyên đề và áp dụng rộng rãicho bộ môn Ngữ Văn ở trường THCS Ninh Điền

Châu Thành, ngày 10 tháng 03 năm 2008

NGƯỜI THỰC HIỆN

Trang 3

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Hiện nay , trong xu thế mở cửa, hội nhập vớithế giới về kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật… thìngôn ngữ là một ngành khoa học có tầm quan trọngvà gặp nhiều khó khăn Vì thế, việc dạy học từ ngữ (Tiếng Việt) được chú trọng ở từng bậc học, cấp học.Mặt khác ngôn ngữ còn là yếu tố cấu thành dântộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá củadân tộc

Trong giao tiếp, nếu không nắm được nghĩa củatừ thì người tiếp nhận sẽ không hiểu biết, thậm chícòn hiểu sai lệch vấn đề Còn bản thân người nói thìkhó làm cho người nghe hiểu được ý mình, cùng vớiviệc non yếu ngữ pháp, non yếu việc sử dụng từ ngữlàm cho giao tiếp khó khăn và không đạt hiệu quả.Để phát huy năng lực giao tiếp thì trước hết ta phảihiểu được từ, có khả năng huy động vốn từ và cáchsử dụng từ Vì thế dạy học từ ngữ là một nhiệm vụquan trọng trong hệ thống môn học trong nhà trườngphổ thông Nên bản thân tôi và nhóm chuyên môn

của định thực hiện đề tài này: “ Phương pháp dạy học từ ngữ ”

2 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh, giáo viên dạy ngữ văn trường THCSNinh Điền

- Các phương pháp dạy từ ngữ

3 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu trong phạm vi dạy - học trường THCS Ninh Điền

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Nghiên cứu tài liệu

- Điều tra qua dự giờ, đàm thoại, kiểm tra đối chiếu

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

Trong hệ thống ngôn ngữ, từ ngữ là đơn vị tínhiệu đích thực Bản chất tín hiệu là tạo điều kiện chongôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của loài người.Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thốngngôn ngữ, thiếu từ vựng thì không có bất kỳ ngônngữ nào Thành phần ngữ âm, thành phần ngữpháp cũng được thể hiện trong từ Như vậy, dạy họctừ ngữ là bộ phận không thể thiếu trong chương trìnhTiếng việt ở trường phổ thông nói chung, và trườngTHCS nói riêng

Việc dạy học từ ngữ ngày càng có ý nghĩacấp thiết vì tiếng Việt đương trong giai đoạn phát triểnào ạt, chưa bao giờ tiếng Việt đòi hỏi phải bổ sungsáng tạo nhiều từ ngữ như bây giờ bởi vì công cuộcđổi mới sâu sắc toàn diện của chúng ta đang pháttriển với tốc độ nhanh chóng, chính sách mở cửa đangđặt tiếng Việt của chúng ta trong quan hệ tiếp xúcvới nhiều ngôn ngữ trên thế giới Hàng loạt từ mới,cách nói mới ra đời, có cách hay, cũng có nhiềucách nói không hay hoặc thậm chí không thể tiếpnhận được Trên báo chí, trên các phương tiện truyềnthanh, truyền hình nhất là các biển quảng cáo, têncác cửa hàng, cửa hiệu nhan nhãn từ nước ngoài,nhiều tên gọi Tây không ra Tây, Việt Nam không raViệt Nam Việc tạo từ mới là cần thiết, tìm cách hoànhập với nền kinh tế thị trường là cần thiết songchúng ta không thể chấp nhận tiếng nói lai căng, lốitạo từ một cách tự phát vì chúng sãe làm cho tiếngViệt mất bản sắc dân tộc dẫn đến sự gia tăng “nhiễu” tín hiệu ngôn ngữ Như Bác Hồ cũng đã từngnhắc nhở: “ Đời sông xã hội ngày càng phát triểnvà đổi mới Có những chữ ta không có sẵn và khódịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài Ví dụ: “độc lập”, “ tự do”, “ giai cấp”, “ cộng sản”… còn nhữngchữ tiếng ta có, vì sao không dùng mà cũng mượnchữ nước ngoài Tiếng nói là thứ của cải vô cùnglâu đời và vô cùng quý báu của bân tộc Chúng taphải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biếnngày càng rộng khắp Của mình có mà không dùnglại đi mượn của nước ngoài đó là chẳng phải đầu óc

Trang 5

quen ỉ lại hay sao?” Vì vậy giáo dục phải giữ vai tròquan trọng trong việc chuẩn hoá từ ngữ tiếng Việthiện đại.

Từ những điều trình bày trên có thể kếtluận một lần nữa rằng việc dạy từ ngữ là vô cùngcần thiết và quan trọng, không những cần thiết chomục đích giáo dục ngôn ngữ, giáo dục thẩm mỹ màcòn là điều kiện không thể thiếu để rèn luyện tưduy, tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiếp thu các môn họckhác trong nhà trường

2 Cơ sở thực tiễn:

- Hiện trạng nắm và sử dụng từ ngữ của họcsinh chưa khả quan lắm Khảo sát qua bài kiểm tra, bàithi của học sinh ta còn thấy có quá nhiều lỗi vềdùng từ: lỗi lặp từ, sai chính tả, lỗi diễn đạt, dùngtừ không đúng nghĩa, đặc biệt là lỗi dập khuôn theomẫu có sẵn Điều đó đã phản ánh tình trạng nghèotừ ngữ trong nhận thức, trong diễn đạt của học sinh

- Tình trạng trên đáng lo ngại, nên đòi hỏi taphải có sự giáo dục ngôn ngữ kịp thời và chu đáo.Trong đó việc dạy học từ ngữ trong nhà trường phổthông là hết sức cần thiết và quan trọng

3 Nội dung vấn đề:

* Nguyên tắc dạy học từ ngữ: Trong phần cơ

sở lý luận chúng ta đã bàn đến các nguyên tắc dạyhọc tiếng Việt Các nguyên tắc đó là cơ sở lýthuyết chung, chi phối toàn bộ việc dạy học tiếng Việttuy vậy mỗi phân môn ( từ vựng, ngữ pháp, làmvăn….) có những đặc trưng riêng, đòi hỏi một cáchtiếp cận thích hợp

Dạy học từ ngữ tuân theo nguyên tắc dạy họctiếng Việt nói chung, còn tuân theo một nguyên tắcđặc thù Các nguyên tắc đặc thù này một mặtphản ánh những riêng biệt của dạy học từ ngữ, mặtkhác cũng phải thống nhất, dựa trên cơ sở nguyêntắc dạy tiếng làm sáng toả cho các nguyên tắc dạytừ ngữ :

a) Nguyên tắc trực quan: Tính hiệu từ là một

chỉnh thể thống nhất giữa cái biểu đạt và cái đượcbiểu đạt, bởi vậy cần phải luôn luôn bảo đảm mốiliên hệ giữa từ với hiện thực khách quan mà từ biểu

Trang 6

đạt Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ dùng cácphương tiện trực quan ( vật thật hoặc tranh ảnh) đểgiải thích nghĩa của từ.

Giáo viên dùng bảng phụ ghi nội dung ví dụ:

Em hãy giải nghĩa của từ: ăn, nón?

Giáo viên đưa thêm một số câu hỏi gợi ýđể kích thích tư duy của học sinh:

? Ăn là hoạt động của bộ phận nào và hoạtđộng như thế nào?

? Giáo viên dùng cái nón thật và hỏi: nónlà vật dụng dùng để làm gì? Nhằm mục đích gì?

Ăn: là đưa thức ăn vào miệng nhai vànuốt

Nón: là vật dụng dùng để đội trênđầu, nhằm để che nắng, che mưa

Hiệu quả: giáo viên đảm bảo nguyên tắc

trên sẽ giúp cho học sinh dễ dàng nắm được nội dungvấn đề và phát triển được năng lực tư duy Vì nguyêntắc này thường gắn liền với thực tiễn khách quan

b) Nguyên tắc chức năng: Từ đảm bảo chức

năng gọi tên, chỉ quan niệm và thái độ tình cảm củangười nói hoặc người viết Dạy từ cần làm cho họcsinh nắm được các chức năng này của chúng đượcthể hiện như thế nào trong ngôn ngữ và trong lời nói.Mặt khác, việc sử dụng từ ngữ còn tuỳ thuộc vàolĩnh vực giao tiếp, mục đích giao tiếp, tức là phụ thuộccác phong cách chức năng của ngôn ngữ Khi dạy từphải gắn liền với đặc điểm phong cách chức năngphải thấy sự chi phối của phong cách chức năng đốivới việc sử dụng lựa chọn sử dụng từ ngữ

Ví dụ: Học sinh đọc các câu văn, câu thơ sau và chobiết ý nghĩa của nó, từ ngữ nào là trọng tâm biểuđạt nội dung ý nghĩa đó? Từ ngữ đó có chức năng gìtrong câu văn, câu thơ đó?

A Bác đã đi rồi sao Bác ơi!

B Thương thay thân phận con rùa

Ở đình đội hạc, ở chùa đội bia

Trả lời:

A Biểu lộ cảm xúc buồn, thương tiếc khi biếtBác đã chết Từ ngữ trọng tâm: “ đi rồi”; “ sao … ơi ! ”.Chức năng: biểu cảm

B Thương cảm, đồng cảm với số phận con rùaluôn chịu thiệt thòi Từ ngữ trong tâm: “ thương thay”.Chức năng biểu cảm

Trang 7

Lưu ý: Trong ngôn bản này thì nó có chức năngđó Nhưng đặt ngoài ngôn bản này thì nó có chứcnăng khác Vì vậy, từ ngữ trong ngôn bản có chứcnăng thống nhất chứ không phải đồng nhất.

c) Nguyên tắc hệ thống: Từ vựng trong ngôn

ngữ là một hệ thống, tính hệ thống này cũng đượcthể hiện trong vốn từ và cách sử dụng từ của mỗicá nhân Đặc trưng này của từ vựng tiếng Việt đòihỏi nguyên tắc hệ thống, đòi hỏi các hiểu biết lýthuyết về từ ngữ phải được trình bày theo một mốiquan hệ liên tưởng nào đấy

Chẳng hạn: khi dạy từ nhiều nghĩa, giáo viêncần phải liên hệ đến từ đồng âm

Ví dụ: Học sinh đọc bài thơ những cái chân ( SGK Ngữvăn 6/ tập 1) và cho biết nghĩa của những từ chântrong bài thơ

- Chân: là bộ phận dưới cùng của cơ thể ngườivà động vật dùng để nâng đỡ, di chuyển cơ thể( chân trái, chân phải)

- Chân bàn, chân núi, chân kiềng: là phần cuốicủa một số đồ vật dùng để nâng đỡ hoặc bámchặt trên mặt đất

-> Từ chân là từ có nhiều nghĩa

Lưu ý: phân biệt cho học sinh biết từ đồng nghĩa vàtừ nhiều nghĩa

d) Nguyên tắc lịch sử : Nguyên tắc lịch sử

đòi hỏi việc dạy học từ ngữ phải chỉ tra nguồn gốccủa từ Việc thực hiện nguyên tắc này góp phầnhình thành ở học sinh quan điểm lịch sử và qua đóphát triển vốn từ ngữ cho các em Thông qua cácbài học này học sinh nắm được quá trình nhữngnguyên tắc vay mượn đồng thời tích luỹ thêm vốn từ.Trong chương trình có phân bổ các tiết dạy từ HánViệt

Ví dụ: khi dạy bài Từ Mượn ( Ngữ văn 6 / tập 1) cầnlàm rõ cho học sinh biết được các nguồn gốc mượn từnhư Aán Aâu, Hán Việt Và cho biết vì sao ta mượn từ ?Khi nào cần sử dụng từ mượn, khi nào không làmgiàu cho ngôn ngữ tiếng Việt và giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt

“ Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổimới Có những chữ ta không có sẵn và khó dịch

đúng, thì cần mượn chữ nước ngoài Ví dụ độc lập, tự

Trang 8

do, giai cấp, cộng sản… còn những tiếng ta có vì sao

không dùng mà cũng mượn chữ nước ngoài? Ví dụ:

Không gọi xe lửa mà gọi “ hoả xa”; máy bay màgọi là “ phi cơ”…

Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời vàvô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìnnó, quý trọng nó và làm cho nó ngày càng rộngkhắp Của mình có mà không dùng, lại đi mượn củanước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại haysao?”

Hồ Chí Minh toàn tập.

* Phương pháp dạy học từ ngữ : Bàn về cách

dạy lý thuyết tiếng Việt nói chung, về tri thức từvựng nói riêng thật khó mà có một mẫu, và cũngkhông nên có một mẫu duy nhất ứng dụng cho mọitrường hợp, vì cách dạy học phải tuỳ theo đối tượng,tuỳ theo đặc điểm của nội dung tri thức cần cho họcsinh lĩnh hội, chiếm lĩnh Trong phần này chúng ta đềcập đến những thao tác chung nhất bắt buộc phảithực hiện khi dạy học lý thuyết về từ ngữ

a) Công việc chuẩn bị của giáo viên: Để có

thể “ Thi công” một bài học, người giáo viên phảichuẩn bị trước một cách công phu thông qua việc “Thiết kế” bài giảng Trước khi bắt tay vào làm côngviệc này, người giáo viên cần phải:

- Nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo đểnắm vững nội dung, yêu cầu bài học Việc học tậpnâng cao trình độ là công việc thường xuyên trongcuộc đời người thầy giáo Tuy nhiên, đối với từngbài học, thấy có điểm nào còn hiểu chưa chắc chắn,chưa sâu sắc, người thầy cần tìm lời giải đáp trongcác tài liệu tham khảo, trong sách giáo viên Hiểuđược chắc chắn rồi, chúng ta cần trả lời thêm mộtsố câu hỏi sau:

+ Bài học gồm bao nhiêu đơn vị kiến thức,đơn vị kiến thức nào là trọng tâm, là khó đối vớihọc sinh?

+ Liên quan đến những tri thức cần giảnggiải là những tri thức nào các em đã được học ở cấpdưới, lớp dưới và các tiết học trước? Các tri thức đócòn được triển khai như thế nào trong các tiết học sau,bài học sau?

- Dự kiến các tình huống và phương phápgiảng dạy

Trang 9

Trên cơ sở nắm được vị trí bài học, tiết học,các đơn vị tri thức và kỹ năng cần rèn luyện giáoviên xác định các phương pháp, hình thức thích hợp chomỗi đơn vị tri thức Sau những công việc trên giáoviên bắt tay vào soạn giáo án để thức hiện địnhhướng đã được dự định.

b) Giới thiệu bài mới tạo tâm thế tiếp nhận của học sinh: Có nhiều cách giới thiểu bài mới nhưng

chủ yếu nhất là phương pháp thông báo – giải thích.Để thực hiện phương pháp này, giáo viên có thểdùng hình thức diễn giảng thông báo cho học sinhnắm được vấn đề kiến thức nghiên cứu và ý nghĩacủa nó Khi thuuyết giảng, cần căn cứ vào các trithức đã có của học sinh rồi trên cơ sở đó mà hướnghọc sinh tiếp cận tới vấn đề sẽ được nghiên cứutrong bài học

Ví dụ: Giới thiệu bài chữa lỗi dùng từ ( tiết

24 – Ngữ văn 6), giáo viên có thể giới thiệu như sau:Qua quá trình học từ trước tới nay và qua bài làm củacác em, cô đã nhận thấy các em còn một số hạnchế trong cách dùng từ, diễn đạt: lỗi chính tả, lỗicấu trúc, lỗi lặp từ… Hôm nay các em sẽ tìm hiểunguyên nhân, cách khắc phục và cách chữa lỗi

Cũng có thể vào bài bằng cách tạo ra mộttình huống có vấn đề có chứa đựng nhiệm vụ họctập của bài học Để tạo ra tình huống GV có thể sửdụng hình thức diễn giảng, nêu vấn đề hoặc có thểdùng hình thức đàm thoại với học sinh Ví dụ: Để dạybài nghĩa của từ ta có thể giới thiệu: Mỗi từ đềucó ý nghĩa biểu đạt riêng Vậy nghĩa của từ là gì?Muốn hiểu nghĩa của từ ta phải làm gì? Có nhữngcách giải nghĩa nào? Tiết học hôm nay sẽ giúp các

em hiểu rõ hơn

c) Chọn mẫu lời nói ( chọn và đưa ngữ liệu):

Việc lựa chon và giới thiệu mẫu lời nói có ảnhhưởng tương đối lớn đến quá trình hình thành tri thứcmới cho học sinh Mẫu có thể được sử dụng để giáoviên hướng dẫn cho HS quan sát, phân tích để pháthiện ra tri thức mới, cũng có thể làm tài liệu đểgiáo viên ( học sinh ) phân tích để minh hoạ, khắc sâutri thức mới Mẫu quan trọng như vậy nên việc lựachọn mẫu cần phải thoã mãn các yêu cầu sau:

Trang 10

- Chứa từ ngữ cần nghiên cứu với đầy đủcác đặc trưng cơ bản của tri thức mới cần hình thành.

- Ngắn gọn và có tần số sử dụng cao trongbài dạy

- Có nội dung lành mạnh Mẫu phải bảođảm tính tư tưởng có tác dụng giáo dục

- Đảm bảo chuẩn mực ngôn ngữ và cốgắng đạt đến giá trị thẩm mỹ cao

Bên cạnh các mẫu tích cực trên, cũng cầnphải chọn các mẫu “tiêu cực” của chính bản thân họcsinh thể hiện trong bài làm của mình để làm tài liệucho bài bàn về lỗi thưỡng gặp về từ của học sinh( mẫu này không cần nhiều lắm)

Hiện nay phần lớn các mẫu lời nói để dạyhọc từ ngữ đều được lấy ra từ các văn bản đã họctrước đó để minh hoạ cho nội dung bài học

Ví dụ: dựa vào chú thích ở bài Thánh Gióng hãy giảithích các từ trượng, tráng sĩ trong câu sau: Chú bévùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành mộttráng sĩ minh cao hơn trượng

d) Phân tích mẫu và rút ra kết luận: Mẫu có

thể được sử dụng trong phương pháp giải thích – thôngbáo, cũng có thể được sử dụng cho phương pháp phântích ngôn ngữ Phân tích mẫu trong mối quan hệ với trithức mới cũng có thể theo con đường quy nạp hoặccon đường diễn dịch, cũng có thể bằng hình thức diễngiảng hoặc quy nạp Giáo viên dùng cách tiếp cậnnào là tuỳ thuộc vào tính chất của tri thức, vai tròcủa tri thức cần truyền thụ và phương pháp áp dụng

Ví dụ: Dạy đặc điểm của danh từ

Ta cho học sinh phân tích các ví dụ và rút ra từngđặc điểm của danh từ: dựa vào kiến thức đã học ởtiểu học, em hãy xác định danh từ trong câu sau: “Vuasai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâuđực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻthành chín con”

? Qua các danh từ vừa tìm được em hãy cho biếtdanh từ biểu thị cái gì?

? Xung quanh danh từ vừa tìm được có những từnào?

? Em có nhận xét gì về khả năng kết hợp củacác danh từ?

? Em hãy đặt câu với những danh từ tìm được vàxác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu đó

Trang 11

? Em có nhận xét gì về chức năng của danh từtrong câu?

Như vậy qua việc phân tích các mẫu học sinh sẽ hìnhthành được khái niệm về danh từ

e) Thực hành và luyện tập: Học sinh phát biểu

hoặc học thuộc các khái niệm, định nghĩa các phươngthức sử dụng từ, điều đó chứng tỏ các em đã nắmđược tri thức, càng chưa có cơ sở nào thể hiện nănglực từ ngữ của mình Luyện tập thực hành đóng vaitrò quyết định trong việc nắm tri thức và hình thànhkỹ năng từ vựng của học sinh

Luyện tập thực hành trong môn học tiếng Việtcũng như các bộ môn khoa học khác có tác dụng làmcho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc kháiniệm Bằng thực hành HS được trực tiếp hoạt động các

em có điều kiện tự mình phát hiện tri thức, vận dụngtri thức vào giải quyết các hiện tượng từ vựng trongngôn ngữ và lới nói Thông qua quá trình vận dụngvà phát hiện này mà tri thức của các em được chínhxác, củng cố và khắc sâu

Để có thể luyện tập, khâu quan trọng nhất làhệ thống bài tập thực hành Các kiểu bài thườnggặp: Bài tập nhận diện, bài tập tái hiện, bài tậpphân loại…

- Bài tập nhận diện: đây là loại bài tập yêucầu thấp nhất nhằm làm học sinh nhớ lại tri thức đãhọc

Ví dụ 1: Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong những câu sau.Cho biết câu nào là câu miêu tả, câu nào là câutồn tại?

Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn.Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình,mái chùa cổ kính Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ mộtnền văn hoá lâu đời

Ví dụ 2: Trong những câu dưới đây câu nào viết sai? Vìsao?

a) Kết quả của năm học đầu tiên ở trường THCSđã động viên em rất nhiều

b) Với kết quả của năm học đầu tiên ở trườngTHCS đã động viên em rất nhiều

- Bài tập tái hiện: loại bài tập này đòi hỏihọc sinh phải tự nghĩ trên cơ sở vốn kiến thức đã học

Ngày đăng: 22/07/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w