1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN PPTN day mon vat ly năm học 2011 2012

17 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy trong qua strinhf dạy học chỳng ta cần bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự tỡm tũi kiến thức để sau này khi rời ghế nhà trường họ cú thể tự học tập, tự bồi dưỡng để theo kịp trỡnh

Trang 1

Phơng pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý thcs

A đặt vấn đề

Nghị quyết TƯ 2 khúa VIII (12/1996) nhận định “ Phương phỏp giỏo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phỏt huy được tớnh chủ động sỏng tạo của người học” và tiếp tục khảng định “ Phải đổi mới phương phỏp giỏo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rốn luyện thành nếp tư duy sỏng tạo của người học, từng bước ỏp dụng phương phỏp tiờn tiến và phương phỏp hiện đại vào quỏ trỡnh dạy học”, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiờn cứu của học sinh “ Giỏo dục đào tạo là quốc sỏch hàng đầu” “ Đầu tư cho giỏo dục là đầu tư cho phỏt triển” Khẳng định tầm quan trọng

và vai trũ đặc biệt của giỏo dục đào tạo đối với sự phỏt triển kinh tế, xó hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nờn việc nõng cao chất lượng dạy học trong nhà trường là tất yếu Để tiếp cận dần xúa bỏ khoảng cỏch với cỏc nền giỏo dục tiờn tiến Vỡ vậy hiện nay chỳng ta đang đổi mới nội dung, chương trỡnh để tiếp cận với cỏc nền giỏo dục trong khu vực và trờn thế giới, bước đầu đó tạo cho học sinh cú hứng thỳ học tập giỏo viờn đó biết cỏch tổ chức một tiết học theo hướng tớch cực húa hoạt động của học sinh Định hướng cơ bản trong đổi mới PPDH là nhằm phỏt huy tớnh tớch cực và sỏng tạo của người học Đú cũng là xu hướng quốc tế trong đổi mới PPDH ở cỏc trường phổ thụng

Đổi mới phương phỏp dạy học phải nhỡn nhận vấn đề một cỏch rộng rói và linh hoạt theo ba hướng: Phỏt triển năng lực nội sinh của người học, đổi mới quan hệ thầy trũ, đưa cụng nghệ thụng tin hiện đại vào nhà trường

Từ mục tiờu "Học để biết, học để làm, học để cựng nhau chung sống và học để làm người", trước hết giỏo dục nhà trường phải hỡnh thành và bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề Việc trang bị tốt năng lực này là một trong những hoạt động trọng tõm của việc đổi mới PPDH trong điều kiện đổi mới chương trỡnh giỏo dục phổ thụng

Với việc dạy học “Lấy học sinh làm trung tõm” nhằm phỏt huy tớnh tớch cực, chủ động, sỏng tạo của học sinh Trong đú giỏo viờn đúng vai trũ là người chỉ đạo, hướng dẫn học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức.Vỡ vậy đũi hỏi người giỏo viờn phải luụn học tập, tỡm tũi vận dụng nhiều phương phỏp dạy học khỏc nhau nhằm phỏt huy hết cỏc khả năng núi trờn của học sinh

Ngày nay trước sự phỏt triển như vũ bảo của khoa học và kĩ thuật, khối lượng kiến thức của cỏc ngành khoa học kĩ thuật tăng nhanh chưa từng thấy Những kết quả của cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học được đưa ngay vào ứng dụng trong sản xuất và đời sống xó hội Vỡ vậy một trong những mục tiờu của nhà trường phổ thụng là “ tạo tiềm lực để học sinh khụng tiếp tục học lờn, học sinh cú thể tham gia vào cỏc lao động

cú kĩ thuật thớch ứng với cuộc súng trong xó hội hiện đại” Như vậy trong qua strinhf dạy học chỳng ta cần bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự tỡm tũi kiến thức để sau này khi rời ghế nhà trường họ cú thể tự học tập, tự bồi dưỡng để theo kịp trỡnh độ hiện đại của khoa học kĩ thuật đỏp ứng được yờu cầu của thực tiễn đời sống xó hội

Trang 2

Kinh thánh đã viết “ Chúa tạo ra những dòng sông nhưng con người tự bắc những chiếc cầu”, hoặc dân gian có câu: “ Cho cá không thích bằng được bộ cần câu” Nếu ví

cá là kiến thức thì bộ cần câu được xem là phương pháp nhận thức

Trong thực tế giảng dạy hiện nay nhất là đối với việc giảng dạy các kiến thức vật lý.

Hầu hết các kiến thức vật lý mà học sinh THCS lĩnh hội chủ yếu dựa vào việc hình thành các giả thuyết sau đó dùng các thực nghiệm để chứng minh giả thuyết đó là đúng để hình thành các khái niệm, định luật vật lý hoặc từ các thí nghiệm vật lý để rút ra các chân lý của bài học và xây dựng các khái niệm và định luật vật lý Đó cũng

chính là lý do mà tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý THCS ”.

Phương pháp thực nghiệm xem việc dạy kiến thức vật lý theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

B Néi dung

I CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thuận lợi.

- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, về tài liệu chuyên môn phục vụ cho dạy và học bộ môn Vật lý như: bộ SGK, SBT, STK, SBT nâng cao, thiết kế giảng dạy, phòng học bộ môn, máy chiếu đa năng

- Chính quyền địa phương và các đoàn thể trong và ngoài nhà trường luôn hỗ trợ giáo viên trong quá trình công tác

- Bản thân giáo viên bộ môn luôn nhận được sự hỗ trợ từ các giáo viên cùng tổ chuyên môn và các đồng nghiệp

- Đa số học sinh trong lớp yêu thích học bộ môn Vật lý và chuẩn bị tốt sách vở, đồ dùng cho việc học tập

- Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm và tạo điều kiện để con em mình học tập

- Đặc biệt sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo ngành cũng như hội đồng bộ môn tạo điều kiện thuận lợi để mỗi giáo viên tự giác tích cực hơn trong việc dạy học theo phương pháp đổi mới, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học

2 Khó khăn:

- Do việc đổi mới nội dung chương trình nên có nhiều kiến thức mới được đưa vào trong chương trình vật lý THCS, đồng thời có nhiều tiết sử dụng đồ dùng thí nghiệm với đội ngũ giáo viên chưa được tập huấn kĩ càng, việc tiếp cận với các đồ dùng thí nghiệm còn nhiều hạn chế cộng với tâm lý ngại sử dụng đồ dùng trong các giờ dạy của giáo viên, vì vậy đã làm cho sự hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn không còn nên dẫn đến chất lượng học thấp

- Đa số các em chưa “phương pháp thực nghiệm” là gì?

- Về phía phụ huynh cũng rất khó khăn trong hướng, kiểm tra việc học môn Vật lý của con em

- Một số học sinh thường xao lãng và ít quan tâm đến phương pháp này

Trang 3

- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài việc học các em còn giúp gia một số công việc khác

- Học sinh vùng nông thôn nên hoàn cảnh khó khăn, chưa có điều kiện để mua thêm sách tham khảo nâng cao kiến thức hoặc đầu tư thời gian để tìm tòi, nghiên cứu bài học để nâng cao kiến thức nhất là việc học và làm thí nghiệm các em rất ngại vì sợ sai,

sợ không thành công

II C¬ së khoa häc

Phương pháp dạy học là cách thức, là con đường, là hệ thống và trình tự các hoạt động giữa giáo viên và học sinh, được giáo viên sử dụng để tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn học sinh tự lực và tích cực đạt tới kiến thức, rèn luyện về phẩm chất nhân cách mà mục tiêu dạy học đề ra

Từ cơ sở hiểu được phương pháp dạy học hình thành cho học sinh hiểu được phương pháp thực nghiệm

Phương pháp thực nghiệm giúp hình thành và hoàn thiện phẩm chất tâm lý, làm nền tảng cho hoạt động tư duy sáng tạo ở học sinh

Phương pháp thực nghiệm tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực tiễn, thực hiện nguyên tắc dạy học “Học phải đi đôi với hành”

Phương pháp thực nghiệm giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thực nghiệm Năng lực thực nghiệm với tư cách là một năng lực nhận thức khoa học được xem là năng lực nghĩ ra, năng lực thiết kế phương án thí nghiệm khả thi cho phép đề xuất và kiểm tra giả thuyết hay phỏng đoán khoa học

Nội dung phương pháp thực nghiệm:

Vật lý học ở trường phổ thông hiện nay chủ yếu là vật lý học thực nghiệm Phương pháp nhận thức do Galile sáng lập ra và được các nhà khoa học hoàn chỉnh Spaski đã nêu lên thực chất của phương pháp thực nghiệm như sau:

Xuất phát từ sự quan sát và thực nghiệm, nhà khoa học xây dựng một giả thuyết (dự đoán) Giả thuyết đó không chỉ đơn thuần là sự tổng quát hóa các sự kiện thực nghiệm đã làm Nó còn chứa đựng một cái gì mới mẻ, không có sẵn trong từng thí nghiệm cụ thể Bằng phép suy luận lôgic và bằng toán học, các nhà khoa học có thể từ giả thuyết đó mà rút ra một hệ quả, tiên đoán một số sự kiện mới trước đó chưa biết đến những hệ quả và sự kiện mới đó lại có thể dùng thực nghiệm mà kiểm tra lại được

và nếu sự kiểm tra đó thành công, nó khẳng định một giả thuyết, biến giả thuyết thành định luật vật lý chính xác”

Phương pháp thực nghiệm là một trong các phương pháp nghiên cứu quan trọng được các nhà vật lý sử dụng trong quá trình đi tìm câu trả lời khi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên Theo nhận thức luận Mác Lê nin thì con đường nhận thức của con người là con đường từ thực tiễn khách quan đến tư duy trừu tượng rồi lại từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn sinh động Trong phạm vi khoa học tự nhiên, ta hiểu thực tiến khách quan là các đối tượng nghiên cứu, còn tư duy trừu tượng chính là nhận thức

ta cần đạt tới, đó chính là các lý thuyết bao gồm các khái niệm, các định luật Quá trình nhận thứcđó không phải là một quá trình khép kín mà là một quá trình luôn luôn

mở rộng và phát triển

Trang 4

Như vậy, phương pháp thực nghiệm không phải là làm thí nghiệm đơn thuần, không phải là sự quy nạp đơn giản mà là sự phân tích sâu sắc các sự kiện thực nghiệm Tổng quát hóa nâng lên mức lý thuyết và phát hiện ra bản chất của sự vật Đó là sự thống nhất giữa thí nghiệm và lý thuyết nhằm mục đích nhận thức thiên nhiên

Phương pháp thực nghiệm hiểu theo nghĩa trên là bao gồm cả quá trình tìm tòi từ ý tưởng ban đầu đến kết luận cuối cùng Nhưng trong sự phát triển của vật lý học, có khi quá trình phát sinh ra một định luật rất lâu dài và rất phức tạp, mỗi nhà bác học chỉ thực hiện một khâu trong quá trình đó Thí dụ như: Maikenxơn trong hơn 20 năm làm thí nghiệm đo vận tốc ánh sáng truyền theo chiều quay của Trái đất và theo chiều ngược lại cốt để kiểm tra lại giả thuyết về “ gió ête” đã có từ trước Ông nổi tiếng là nhà vật lý thực nghiệm vì thiết bị thí nghiệm do ông chế tạo ra (giao thoa kế) đã đạt mức độ chính xác cao Anhstanh đã tin tưởng ở kết quả thí nghiệm đó và dùng nó làm tiên đề cho thuyết tương đối của ông Bởi thế, ngày nay có thể hiểu phương pháp thực nghiệm theo ngnhĩa hẹp chỉ bao gồm hai giai đoạn sau: “Từ giả thuyết rút ra hệ quả

và dùng thí nghiệm để kiểm tra lại hệ quả đó”

1 Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm

Để giúp học sinh có thể bằng hoạt động của bản thân mình mà tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức vật lý thực nghiệm thì tốt nhất là giáo viên tổ chức và hướng dẫn cho học sinh nhận thức theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm như sau:

Giai đoạn 1: Làm xuất hiện vấn đề

Giáo viên mô tả một hoàn cảnh thực tiễn, hay biểu diễn một vài thí nghiệm và yêu cầu các em dự đoán diễn biến của hiện tượng, tìm nguyên nhân xác lập một mối quan

hệ nào đó Tóm lại là giáo viên tổ chức tình huống có vấn đề làm nảy sinh mâu thuẫn nhận thức, lôi cuốn học sinh vào vấn đề: nêu lên một câu hỏi mà học sinh chưa biết câu trả lời, cần phải suy nghĩ tìm tòi mới trả lời được

Giai đoạn 2: Xây dựng giả thuyết (dự đoán)

Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh xây dựng một câu dự đoán ban đầu gọi là xây dựng giả thuyết) dựa vào sự quan sát tỉ mỉ, kỹ lượng, vào vốn sống kinh nghiệm bản thân, vào những kiến thứ đã có … Những dự đoán này có thể còn thô sơ, có vẻ hợp lý nhưng chưa chắc chắn Để hỗ trợ cho học sinh trong quá trình đề xuất những dự đoán, giả thuyết thầy giáo có thể định hướng cho học sinh bằng hệ thống các câu hỏi

về nội du ng tri thức cần xây dựng

Giai đoạn 3: Suy luận và rút ra hệ quả

Từ giả thuyết ban đầu giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh dùng suy luận loogic hay suy luận toán học để suy ra một hệ quả có thể nhận biết trong thực tế, có thể kiểm tra bằng thí nghiệm: dự đoán một hiện tượng trong thức tiễn hay dự đoán một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý có thể quan sát, đo lường bằng giác quan Gióa viên chỉ cần gợi ý, hướng dẫn học sinh tự rút ra các hệ quả Có thể rèn luyện tư duy theo hai cách:

- Hướng dẫn cho học sinh lập luận, suy diễn từ những dự đoán đã nêu

- Hướng dẫn cho học sinh vừa suy luận, vừa dùng phép biến đổi toán học

Giai đoạn 4: Đề xuất và thực hiện phương án thí nghiệm kiểm tra

Kiểm tra giả thuyết Có hai trường hợp có thể xảy ra:

Trang 5

a Kiểm tra trực tiếp:

Từ giả thuyết có thể đi thẳng đến một biểu hiện của nó có thể quan sát đựơc trong thực tế không cần phải thông qua một lập luận lôgic hay toán học nào cả.Ví dụ như khi khảo sát hiện tượng phản xạ ánh sáng ta dự đoán rằng góc tới bằng góc phản xạ

Có thể kiểm tra trực tiếp dự đoán này bằng cách cho góc tới một giá trị bất kỳ và đo góc phản xạ tương ứng

b Kiểm tra gián tiếp:

Dùng suy luận lôgic hay suy luận toán học, suy luận một hệ quả: Dự đoán một hiện tượng trong thực tiễn, một mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý

Xây dựng và thực hiện một phương án thí nghiệm để kiểm tra lại hệ quả dự đoán ở trên có phù hợp với kết quả thực nghiệm không Nếu phù hợp thì giả thuyết trên trở thành chân lý, nếu không phù hợp thì phải xây dựng một giả thuyết mới

Giai đoạn 5: Ứng dụng kiến thức

Học sinh vận dụng kiến thức để giải thích hay dự đoán một hiện tượng đơn giản trong thực tiễn dưới hình thức các bài tập Thông qua đó, trong một số trường hợp, sẽ

đi tới giới hạn áp dụng của kiến thức và xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mới cần giải quyết

2 Các mức độ sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý

Trong nhiều trường hợp, học sinh gặp khó khăn không thể vượt qua đựơc thì có thể

sử dụng phương pháp thực nghiệm ở các mức độ khác nhau, thể hiện ở mức độ học sinh tham gia vào các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm Dưới đây là những mức độ tham gia khác nhau của học sinh trong mỗi giai đoạn của phương pháp thực nghiệm:

Giai đoạn 1: Phát hiện, đề xuất vấn đề.

Mức độ 1: Giáo viên tổ chức tình huống có vấn đề Học sinh tự lực quan sát, phát

hiện vấn đề mới cần nghiên cứu và phát biểu thành lời

Mức độ 2: Giáo viên tổ chức tình huống có vấn đề, hướng dẫn học sinh chú ý vào

những sự kiện, hiện tượng mới xuất hiện, học sinh tự lực nêu câu hỏi phát hiện vấn đề cần nghiên cứu

Mức độ 3: Gióa viên nhắc lại vấn đề, một hiện tượng đã biết và yêu cầu học sinh

phát hiện xem ttrong vấn đề hay hiện tượng có chỗ nào chưa hoàn chỉnh cần tiếp tục nghiên cứu

Giai đoạn 2: Xây dựng giả thuyết (dự đoán)

Mức độ 1: Dự đoán định tính: Học sinh tự lực, dựa vào kinh nghiệm của mình để

đưa ra những dự đoán Giáo viên giúp đỡ học sinh sơ bộ loại bớt những dự đoán không hợp lí hoăc không thể thực hiện được

Mức độ 2: Dự đoán định lượng: Giáo viên tạo ra một tình huống làm cho học sinh

chú ý đến những hiện tượng xảy ra đồng thời hay liên tiếp có thể là nguyên nhân hay

hệ quả của nhau, có quan hệ với nhau Dựa trên quan sát những hiện tượng đó mà để đưa ra dự đoán về nguyên nhân hay về mối quan hệ giữa các hiện tượng

Mức độ 3: Giáo viên đưa ra dự đoán, học sinh tìm hiểui nội dung của dự đoán Giai đoạn 3: Suy luận và rút ra hệ quả

Trang 6

Mức độ 1: Hệ quả có thể quan sát, đo lường trực tiếp Học sinh có thể bố trí thí

nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn của hệ qủa

Mức độ 2: Hệ quả không thể quan sát được, đo lường trực tiếp bằng các dụng cụ mà

phải tính toán gián tiếp qua việc đo các đại lượng khác

Mức độ 3: Hệ quả suy ra trong điều kiện lý tưởng Hệ quả suy ra chỉ là gần đúng Ví

dụ như định luật bảo toàn năng lượng ta không thể có hệ cô lập như trong giả thuyết

Giai đoạn 4: Kiểm tra dự đoán

Mức độ 1: Học sinh tự dựa vào kinh nghiệm của mình mà đề xuất phương án thí

nghiệm kiểm tra dự đoán

Mức độ 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng suy luận lôgic hay toán học để suy ra

một hệ quả có thể nhận biết trong thực tiễn Học sinh đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra và thực hiện thí nghiệm đó

Mức độ 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng suy luận lôgic hay toán học để suy ra

một hệ quả có thể nhận biết được trong thực tế, đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra

hệ quả rồi hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm kiểm tra

Giai đoạn 5: Ứng dụng vào thực tiễn.

Mức độ 1: Giáo viên đưa ra một số bài tập có nội dung thực tế và yêu cầu học sinh

vận dụng kiến thức mới thu được để giải (phần nhiều là bài tập định tính yêu cầu học sinh phải giải thích hiện tượng hoặc tiên đoán hiện tượng)

Mức độ 2: Giáo viên yêu cầu học sinh căn cứ vào kiến thức vừa học thiết kế một

dụng cụ để thực hiện một công việc do thực tế đặt ra

Mức độ 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh nghiên cứu một ứng dụng quan trọng

trong kĩ thuật

III Thùc tr¹ng

1 Về phía học sinh.

Phần lớn học sinh trong quá trình học tập thường chỉ biết ngồi nghe, ngại hoạt động cá nhân, ngại suy nghĩ để tìm ra giả thuyết, đưa ra những phương án thí nghiệm, đặc biệt rất ngại làm thí nghiệm thực hành vì không thuộc lý thuyết và không nắm được tên của các dụng cụ thí nghiệm, không nắm vững công thức Vật lý, đơn vị đo Không đề ra được phương án thí nghiệm, một số học sinh yếu thường tranh thủ ngồi chơi không chịu làm việc, chỉ chờ và chép lại kết quả của học sinh khá giỏi Đa số học sinh thường học vẹt, học đối phó khi “bị” kiểm tra Vì đặc trưng bộ môn Vật lý số tiết / tuần ít, (khối 6,7,8: 1 tiết / tuần), số tiết thực hành đồng loạt không nhiều, số tiết bài tập cũng ít, nên phương pháp thực nghiệm còn hạn chế

2 Về phía giáo viên.

Thực tế do dung lượng kiến thức trong một tiết nhiều, nên giáo viên thường chú

trọng đến việc hướng dẫn học sinh học lý thuyết, chủ yếu là làm thành công thí nghiệm theo hướng dẫn trong SGK ở trên lớp Chưa vận dụng phương pháp dạy học bằng thực nghiệm vào bài học thật cụ thể vì sợ mất thời gian, không kịp giờ

Rõ ràng, đưa CNTT vận dụng vào dạy và học Vật lí có hiệu quả hơn nhiều so với cách dạy truyền thống trước đây, nhờ các hiệu ứng động sẽ làm rút ngắn quá trình nhận thức của học sinh và gây sự hứng thú, kích thích tính tò mò, sáng tạo của học sinh vậy mà một số giáo viên còn ngại việc ứng dụng CNTT vào dạy và học và có một

Trang 7

số giỏo viờn chưa chịu khú học hỏi nờn trong khi trỡnh chiếu bài giảng bị một vài sự

cố nhỏ thỡ giỏo viờn bú tay khụng xử lý được

3 Cơ sở vật chất trang thiết bị

Với yờu cầu đổi mới giỏo dục, ứng dụng CNTT trong dạy học, cơ sở vật chất của

nhà trường ngày cỏng được tăng trưởng nhanh Đó cú phũng học bộ mụn, ở phũng học bộ mụn đó cú đầy đủ thiết bị màn chiếu, mỏy chiếu

Song số lợng học sinh trên đầu lớp đông, ảnh hởng đến việc tiếp cận với thiết bị dạy học Kết hợp với việc một số thiết bị dạy học thiếu chính xác, dễ hỏng nên học sinh ngại tiếp xúc, với những hạn chế đó đã góp phần ảnh hởng đến chất lượng tiết học

Hiện nay tại trường THCS Liờn Thủy một số thiết bị được trang cấp từ 2005 về trước nờn nhiều đồ dựng đó bị hư hỏng, khụng cũn sử dụng được nữa, nhiều tiết dạy ở lớp 9 phải mượn đồ dựng ở lớp 7 hoặc ngược lại vỡ vậy phần nào cũng hạn chế chất lượng giờ dạy của giỏo viờn và tiếp thu bài của học sinh

4 Thực trạng trước khi thực hiện đề tài.

Trước khi thực hiện đề tài qua giảng dạy ở trường THCS Liờn Thủy, qua trao đổi với đồng nghiệp tụi nhận thấy:

Đa số học sinh ham mờ học bộ mụn Vật lý, nhưng khi vận dụng phương phỏp thực nghiệm thỡ học cũn lỳng tỳng trong việc nờu vấn đề, đưa ra giả thuyết, làm thớ nghiệm kiểm tra giả thuyết thỡ cỏc em thường sợ thớ nghiệm khụng thành cụng Núi túm lại cỏc em chưa biết đề ra phương ỏn hoạt động Theo tụi, thực trạng nờu trờn cú thể do một số nguyờn nhõn như sau:

+ Học sinh chưa hiểu được vai trũ, chức năng của phương phỏp thực nghiệm

+ Học sinh chưa vận dụng cỏc kiến thức Vật lý đó được học

+ Nội dung cấu trỳc chương trỡnh sỏch giỏo khoa mới hầu như bài nào cũng cú thớ nghiệm, cú bài tập vận dụng, song dung lượng kiến thức nhiều nếu học sinh tự giỳp nhau tỡm tũi kiến thức thỡ khụng kịp thời gian

5 Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài

Trước khi thực hiện đề tài tụi đó tiến hành kiểm tra và khảo sỏt đối với học sinh ở cỏc lớp 9A, 9B trường THCS Liờn Thủy bằng một số bài tập cơ bản tương ứng với mức độ nội dung kiến thức ở một số khối lớp Kết quả thu được như sau:

IV các giải pháp chủ yếu.

1 Đặt vấn đề dẫn dắt vào bài mang tớnh thực tiễn

Làm xuất hiện vấn đề.

Giỏo viờn tổ chức tỡnh huống cú vấn đề nảy sinh mõu thuẩn nhận thức, tạo sự bất ngờ lụi cuốn học sinh vào bài học Khi nhận thức đó trở thành nhu cầu thỡ ý thức xuất hiện, động cơ thỳc đẩy, chủ thể hành động Sau đú giỏo viờn hướng dẫn học sinh phỏt

Trang 8

hiện vấn đề và phát biểu vấn đề thành lời được nghiên cứu Từ vấn đề đã được rút ra gợi cho học sinh ham muốn tìm hiểu nghiên cứu

Giáo viên cần khéo léo vận dụng các phương pháp và biện pháp tạo tình huống cảm xúc đạo đức Một trong những biện pháp kích thích cảm xúc của học sinh là tạo ra những tình huống lý thú, đưa vào trong quá trình dạy học những ví dụ, những thí nghiệm hấp dẫn, những sự kiện nghịch thường

Ví dụ 1: Bài học về: “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn” , Vật lý lớp 6.

Đặt vấn đề: Tháp Épphen (Eiffel ) ở Pari, thủ đô nước

Pháp làm bằng thép, nổi tiếng thế giới Các phép đo chiều

cao tháp vào ngày 01/01/1890 và ngày 01/07/1890 cho tháy,

trong vòng 6 tháng tháp cao thêm hơn 10 cm Vậy tại sao lại

có sự lạ kỳ này? Chả lẽ một cái tháp bằng thép lại có thể

“lớn lên” được hay sao?

Đây là một câu hỏi tương đối khó mà học sinh không thể

trả lời ngay được Câu trả lời ở đây là do sự nở ra vì nhiệt

của thép vì vào thời gian này ở nước Pháp đang là mùa hè

( mùa nắng nóng) Như vậy, Vấn đề được đặt ra ở đây là:

Dước tác dụng của nhiệt độ, khi nào chất rắn nở ra và co lại?

Ví dụ 2: Bài: “Áp suất khí quyển” Vật lý lớp 8.

Đặt vấn đề: Đầu tiên giáo viên nhắc lại kiến thức cụ: Chất lỏng gây ra áp suất theo

mọi phương: “Lên đáy bình, thành bình và các vật ở trong lòng nó”

Từ đó giáo viên đặt câu hỏi: Vậy đối với chất khí thì sao? Có tồn tại áp suất chất khí hay không? Nếu tồn tại thì áp suất chất khí gây ra có gì giống và khác so với áp suất chất lỏng?

Về mặt hình thức học sinh có thể trả lời được câu hỏi trên nhờ vào kiến thức đã học

ở các bài trước nhưng chỉ ở mức độ định tính

2 Hình thành, phát triển năng lực sáng tạo thông qua việc áp dụng phương pháp thực nghiệm

* Xây dựng giả thuyết (dự đoán)

Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Dự đoán không phải là tùy tiện mà dựa trên một cơ sở nào đó, tuy chưa thật chắc chắn Từ vấn đề đã được đặt ra mỗi học sinh suy nghĩ hướng giải quyết và tự đưa

ra dự đoán của mình

Ví dụ 1: Bài học về: “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn” , Vật lý lớp 6.

Xây dựng giả thuyết: Giáo viên yêu cầu học dự đoán về sự nở vì nhiệt của chất

rắn? Hoặc giáo viên đưa ra giả thuyết: Dưới tác dụng củ nhiệt độ, chất rắn nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi Hiện tượng đó gọi là sự nở vì nhiệt của chất rắn

Ví dụ 2: Bài: “Áp suất khí quyển” Vật lý lớp 8.

Xây dựng giả thuyết: Vì bao xung quanh Trái Đất là lớp không khí dày hàng

ngàn mét nên Trái Đất và mọi vật trên Trái Đất đều chịu tác dụng của áp suất khí quyển

Trang 9

Giả thuyết: Áp suất khí quyển chỉ tác dụng lên Trái Đất và các vật trên Trái Đất theo phương thẳng đứng từ trên xuống

* Suy luận và rút ra hệ quả

+ Giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh thảo luận theo nhóm

+ Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận và rút ra hệ quả

Ví dụ 1: Bài học về: “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn” , Vật lý lớp 6.

Từ giả thuyết trên ta có thể suy ra rằng mọi chất rắn đều nở ra vì nhiệt

* Đề xuất và thực hiện phương án thí nghiệm kiểm tra

Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế không ta phải xem điều dự đoán biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được Nghĩa là phải suy ra từ một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế

Ví dụ 1: Bài học về: “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn” , Vật lý lớp 6.

Thí nghiệm kiểm tra: Dùng dụng cụ thí nghiệm như

hình vẽ ( hình 8.1 SGK vật lý 6 )

1 Trước khi hơ nóng quả cầu bằng kim loại, thử

thả xem quả cầu có lọt qua vòng kim loại hay không?

Nhận xét

2 Dùng đèn cồn hơ nóng quả cầu kim loại trong

3 phút, rồi thả xem quả cầu có còn lọt qua vòng kim

loại không? Nhận xét

3 Nhúng quả cầu đã hơ nóng vào nước lạnh, rồi

thử thả cho nó lọt qua vàng kim loại Nhận xét

Nhận xét: Sau khi tiến hành thí nghiệm ta nhận thấy rằng: Khi quả cầu chưa bị đốt nóng thì quả cầu lọt qua vòng kim loại Sau khi bị hơ nóng thì quả cầu không lọt qau vòng kim loại Nhúng quả cầu đã đốt nóng vào nước lạnh thì quả cầu lại lọt qau vòng kim loại Điều này chứng tỏ rằng quả cầu nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi

Từ đó ta có thể khái quát: Chất rắn nở ra khi nóng lên, co lại khi lạnh đị Đó chính là kiến thức mà học sinh cần chiếm lĩnh

Ví dụ 2: Bài: “Áp suất khí quyển” Vật lý lớp 8.

Thí nghiệm kiểm tra: Dùng miếng cao su dính tường làm thí nghiệm để kiểm tra sự đúng sai của giả thuyết trên

Tiến hành thí nghiệm: Áp miếng cao su lên bìa một cuốn tập và sau đó cầm cuốn tập

đó xoay đi theo nhiều hướng khác nhau Quan sát và nhận xét

Trang 10

Kết quả: Dù chúng ta xoay cuốn tập đi nhiều hướng khác nhau nhưng miếng cao su cũng không rơi ra khỏi bìa cuốn tập Điều này chứng tỏ rằng giả thuyết trên là sai Vậy

áp suất chất khí tác dụng theo mọi hướng

Từ đó ta rút ra: Trái Đất và mọi vật trên Trái Đất đều chịu tác dụng của áp suất khí quyển theo mọi phương

* Ứng dụng vào thực tiễn.

Ví dụ : Bài học về: “ Sự nở vì nhiệt của chất rắn” , Vật lý lớp 6.

1 Băng kép khi bị đốt nóng hoặc làm lạnh đều bị cong lại nên người ta ứng dụng tính chất này của băng kép vào việc đóng – ngắt tự động mạch điện

2 Tấm tôn lợp nhà có hình lượn sóng để tránh khi trời nắng nóng, nhiệt độ cao tấm tôn sẽ co giãn vì nhiệt

2 Ví dụ cụ thể

Ví dụ 1: Bài: “Sự nhiễm điện do cọ xát”, Vật lý lớp 7.

1 Giả thuyết: Vật nhiễm điện có khả năng hút các vật khác, có thể làm vật nhiệm điện bằng cách cọ xát

2 Thí nghiệm kiểm tra:

Thí nghiệm 1:

- Đưa một đầu thước nhựa và thanh thuỷ tinh chưa cọ xát lại gần càc vụn giấy, vụn nilông hay một quả cầu bằng nhựa xốp nhỏ được treo bằng sợi chỉ mảnh (hình vẽ) Quan sát xem có hiện tượng gì xảy ra hay không

- Sau đó dùng miếng vải khô cọ xát lần lượt vào thước nhựa và thanh tuỷ tinh rồi lần lượt làm như trên Có hiện tượng gì xảy ra đối với các mẫu giấy và quả cầu?

Kết quả thí nghiệm 1:

Trước khi chưa cọ xát thước nhựa và thanh thuỷ tinh thì không có hiện tượng gì xảy ra

Sau khi cọ xát thì thước nhựa và thanh thuỷ tinh thì thấy chúng hút các vụn giấy, vụn nilông và quả cầu

Như vậy, chúng ta có thể rút ra kết luận: Nhiều vật sau khi bị cọ xát có khả năng hút các vật khác

Thí nghiệm 2:

Ngày đăng: 01/11/2017, 21:36

w