1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Để dạy tốt một giờ tiếng việt

18 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiệu quả, chất lợng của một giờ ôn tập Tiếng việt trên lớp, ngời thầy ngoài công việc chuẩn bị chu đáo cho bài dạy, định hứơng cho học sinh ôn tập còn phải chuẩn bị cho các e

Trang 1

I Phần mở đầu

I.1 Lý do chọn đề tài

Tiếng việt là một bộ môn quan trọng của môn Ngữ văn

Nó không chỉ cung cấp cho học sinh vốn ngôn ngữ - một công

cụ giao tiếp giúp cho học sinh nói đúng, viết đúng tiến tới nói hay và viết hay mà dạy Tiếng việt chính là dạy tiếng mẹ đẻ giúp cho các em hiểu rõ và yêu tiếng mẹ đẻ hơn

Thực trạng hiện nay, khả năng vận dụng tiếng việt trong giao tiếp và trong viết văn của học sinh còn nhiều bất cập Cái hạn chế lớn nhất đó là vốn ngôn ngữ quá nghèo nàn Các em

ch-a chú ý tới đặc điểm, vch-ai trò, tác dụng củch-a ngôn từ để vận dụng khi nói và viết dẫn đến diễn đạt lủng củng, không thoát ý Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của việc học tập bộ môn Ngữ văn của học sinh hiện nay

Vì vậy việc dạy tiếng việt cho học sinh là một việc làm

đòi hỏi ngời giáo viên phải đặt lên hàng đầu, phải đợc quan tâm và chú ý, đặc biệt là dạy một giờ ôn tập tiếng việt

I.2 Mục đích nghiên cứu

- Sự tiến bộ vợt bậc của thời đại đòi hỏi mỗi ngời, mỗi ngành nghề những yêu cầu mới Giáo dục là ngành tiên phong của những đổi mới đó Để đáp ứng đòi hỏi của thời đại, giáo dục

đã không ngừng đổi mới để hoàn thành nhiệm vụ của mình, trong đó vai trò của ngời thầy giữ một vị trí quan trọng Để nâng cao hiệu quả, chất lợng của một giờ ôn tập Tiếng việt trên lớp, ngời thầy ngoài công việc chuẩn bị chu đáo cho bài dạy, định hứơng cho học sinh ôn tập còn phải chuẩn bị cho các em - những ngời chủ tơng lai của đất nớc không chỉ là những kiến thức về tiếng việt,kỹ năng vận dụng từ kiến thức

Trang 2

vào thực tế cuộc sống mà còn phải giáo dục các em có ý thức, trách nhiệm với vốn từ ngữ phong phú của dân tộc, tự hào và bảo vệ trong sáng của tiếng việt

I.3 Thời gian, địa điểm

Năm học 2007 - 2008 đợc nhà trờng phân công giảng dạy năm lớp 9, tôi đã mạnh dạng tiến hành nghiên cứu đề tài

Làm thế nào để dạy tốt một giờ ôn tập Tiếng việt” đặc biệt là một giờ ôn tập Tiếng việt lớp 9; Thực nghiệm đó đợc tiến hành ngay từ đầu năm học cho đến cuối năm học ở lớp 9D5 trờng THCS Mạo Khê 2

I.4 Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

Chơng trình Ngữ văn lớp 9 dành một thời lợng khá nhiều cho các giờ ôn tập, tổng kết Những giờ ôn tập đó không chỉ

ôn tập các vấn đề của lớp 9 mà là những kiến thức cơ bản của cả cấp học Số tiết ôn tập, tổng kết và kiểm tra gần bằng số tiết học bài mới Vì vậy nếu chúng ta dành thời gian để nghiên cứu, tổ chức, định hớng tốt cho một giờ ôn tập Tiếng việt thì

sẽ giúp cho học sinh nắm đợc một cách hệ thống những kiến thức cơ bản của toàn cấp học Từ đó mà các em sẽ có đợc vốn kiến thức chắc chắn vận dụng đợc kiến thức đó vào thực tế cuộc sống một cách dễ dàng, hiệu quả của môn học Ngữ văn sẽ

đợc nâng cao

II Phần nội dung

II.1 Ch ơng 1 : Tổng quan

Trang 3

Để dạy tốt một giờ Tiếng việt, đặc biệt là một giờ ôn tập Tiếng việt lớp 9, ngời thầy phải biết phát huy tối đa tính tích cực của học sinh Hay nói một cách cụ thể “Đặt ngời học vào trung tâm của quá trình dạy học” Đây là một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy một giờ ôn tập, giúp học sinh tìm hiểu, phân tích để nhận dạng các đơn vị kiến thức Từ đó định hớng cho các em hệ thống lại kiến thức một cách hợp lý, vận dụng kiến thức việc tạo lập văn bản và kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày

II.2 Ch ơng 2 : Nội dung vấn đề nghiên cứu

II.2.1 Tiến hành điều tra cơ bản học sinh

II.2.2 Phơng pháp tiến hành

II.2.2.1 Nắm vững yêu cầu giảng dạy của chơng trình

II.2.2.2. Nắm vững yêu cầu của một giờ ôn tập Tiếng việt

II.2.2.3 Các bớc tiến hành

II.2.2.4 Vận dụng vào một giờ ôn tập cụ thể

II.2.3 Kết quả - kinh nghiệm nghiên cứu

II.3 Ch ơng 3 : Ph ơng pháp nghiên cứu - kết quả nghiên cứu

II.3.1. Điều tra cơ bản học sinh:

- Năm học 2007 - 2008 tôi đợc phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9D5 (Đây là lớp học 1 buổi/ngày) Ngay từ đầu năm, kết hợp giảng dạy với khảo sát chất lợng ban đầu, kết quả phân môn Tiếng việt nh sau:

Trang 4

sinh Giỏi Khá Trung

bình

Yếu -Kém

Qua phân tích kết quả tôi nhận thấy: Khả năng vận dụng kiến thức vào làm bài tập học sinh rất lúng túng Kỹ năng diễn

đạt trình bày còn nhiều hạn chế Trên cơ sở kết quả bài kiểm tra tôi phân loại học sinh nh sau:

a Yếu do học sinh không nắm đợc bản chất của các khái niệm đơn vị kiến thức, hoặc nắm khái niệm còn lờ mờ, hời hợt

b Yếu do học sinh không nhận biết đợc giữa ranh giới tác dụng của các loại câu và những chức năng cụ thể của chúng nên việc

so sánh kiến thức còn hạn chế

c Yếu do kĩ năng vận dụng lý thuyết vào bài tập còn chậm, rất lúng túng

=> Từ thực tế nói trên, tôi suy nghĩ: Ngoài việc nâng cao chất lợng giảng dạy Tiếng Việt trong 1 giờ lý thuyết xây dựng khái niệm mới hoặc 1 giờ luyện tập thì việc phấn đấu để dạy tốt một giờ ôn tập Tiếng việt là rất cần thiết, đặc biệt là giờ

ôn tập Tiếng việt của học sinh lớp 9 - Lớp cuối cấp để chuẩn bị vốn kiến thức chắc chắn cho việc dự thi vào Trung học phổ thông Vì vậy, tôi có một vài suy nghĩ về cách dạy bài: Ôn tập Tiếng Việt cho học sinh với một số việc làm cụ thể:

II.3.2. Biện pháp tiến hành

II.3.2.1. Nắm vững yêu cầu giảng dạy của ch ơng trình

Trang 5

- Bên cạnh việc nắm vững chơng trình bộ môn, tôi hình thành cho mình một cái nhìn khái quát về phân môn Tiếng Việt của từng mảng kiến thức, của từng phần, tập Tiếng từng kỳ, để từ đó định hớng kiến thức ôn tập

II.3.2.2. Nắm vững yêu cầu của một giờ ôn tập Tiếng Việt

- Dạy bài ônViệt, chúng ta không sa vào lý thuyết, mục

đích là thực hành ứng dụng để mang lại hiệu quả thiết thực, luôn gắn với các văn bản, trở thành công cụ để làm rõ cho việc

đọc văn và làm văn theo tinh thần tích hợp, u tiên cho bài tập rèn luyện kỹ năng Từ yêu cầu trên đòi hỏi giờ ôn tập Tiếng Việt cần thực hiện theo các bớc sau:

Bớc 1:

Lựa chọn hệ thống bài tập cho cuối học kỳ (hoặc cuối năm) phải đủ để thực hiện các yêu cầu: củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển t duy dới nhiều hình thức (trắc nghiệm, điền vào dấu , bài tập nhận biết bài tập sáng tạo ).Nhằm củng cố kiến thức đã học cho học sinh, nâng cao phơng pháp, rèn kỹ năng nói - viết, bồi dỡng các năng lực khác: Xây dựng đoạn văn, bài văn, nói hay, viết thạo Huy động đợc

sự lạ chọn chính xác, tìm đợc phơng pháp tối u, phát huy khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng sáng tạo của học sinh

Bớc 2:

Xây dựng nhóm bài tập cho mức độ khác của từng đơn

vị kiến thức, bài học dựa trên cơ sở những bài tập đã có trong SGK, SBT để vừa dẫn dắt học sinh, vừa rà soát lại, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng Nhóm bài tập này đợc giáo viên thể hiện qua bảng phụ, phiếu học tập, sơ đồ, lợc đồ

Bớc 3:

Trang 6

Giúp học sinh phát hiện, tìm tòi lời giải cho các bài tập

đó, chỉ ra đợc những kiến thức, những kĩ năng, phơng pháp giải hệ thống bài tập Tất cả học sinh đợc chủ động suy nghĩ nhiều hơn, đợc hoạt động nhiều hơn, đặc biệt là học sinh phát huy đợc năng lực sáng tạo trong giờ học

Bớc 4:

Rút ra những mục đích của từng dạng bài tập, định hớng cho học sinh xâu chuỗi các kiến thức đã học, tập luyện đợc những kĩ năng cần thiết Nh vậy giáo viên đã thiết kế đợc một hệ thống bài tập nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức,

có kĩ năng giải bài tập Tiếng Việt, tự khám phá, tự trình bày theo cách hiểu đúng của mình

Trong giờ ôn tập Tiếng Việt, dựa trên những cơ sở, những yêu cầu trên chúng tôi đã định hớng đợc kiến thức theo từng mảng, từng phần trong giờ ôn tập Phân môn Tiếng Việt ở các khối lớp 6, 7, 8 đã đợc tiến hành ôn tập theo trình tự của tiết học là: Đi từ hệ thống bài tập nh lập bảng biểu đồ đến củng

cố lý thuyết cho từng phần Hệ thống bài tập đợc sắp xếp từ

đơn giản đến phức tạp, từ bài tập củng cố đến bài tập rèn luyện kĩ năng, phát triển óc t duy sáng tạo của học sinh

II.3.2.3. Vận dụng cụ thể

- Đối với một tiết ôn tập Tiếng Việt của lớp 9 cũng dùng lợc

đồ, bảng so sánh nh hình thức ôn tập phong phú hơn Vì lớp 9

là lớp cuối cùng của cấp học, thời lợng kiến thức tăng do đó hệ thống bài tập cũng đa dạng phong phú đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ nhiều hơn, có nhiều câu hỏi, bài tập vận dụng kiến thức kĩ năng cả ba phân môn (Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn) ở mức độ cao hơn

Trang 7

Từ trớc đến nay, dạy bài ôn tập Tiếng Việt thờng có hai cách: Cách 1: Là đi từ lý thuyết đến giải hệ thống bài tập; Cách 2: Là đi từ hệ thống bài tập đến củng cố lý thuyết vì vậy nhiều giáo viên dạy bài ôn tập theo quy trình trong SGK tức

là đi từ lý thuyết đến bài tập củng cố Qua nghiên cứu nội dung bài ôn tập chúng tôi nhận thấy việc thực hiện phơng pháp dạy bài ôn tập cho học sinh đi từ hệ thống bài tập để củng cố kiến thức là hợp lý hơn và thu đợc hiệu quả hơn

- Nhng tiến hành dạy bài này nh thế nào? Phơng pháp cụ thể ra sao tuỳ thuộc vào khả năng của từng ngời Mục đích cuối cùng giáo viên phải đạt đợc là: Củng cố khắc sâu kiến thức bài học cũ, chuẩn bị tâm thế cho học sinh làm bài kiểm tra và thi học kỳ đạt kết quả Từ thực tế dạy các tiết ôn tập Tiếng Việt của các khối 6, 7, 8 trong các năm qua, tôi đã đúc rút đợc kinh nghiệm dạy bài ôn tập của lớp 9 học kỳ I Qua nghiên cứu mục tiêu bài dạy, kiến thức ôn tập trong SGK, chúng tôi đã vận dụng những phơng pháp trong những năm qua và

đã thực hiện theo đúng yêu cầu của giờ ôn tập Qua đó tôi có thể rút đợc một số kinh nghiệm cho giờ dạy nh sau:

* Để dạy tốt bài tập này giáo viên phải xác định đợc mục tiêu, yêu cầu cơ bản của bài dạy là gì? (Giúp học sinh hệ thống hoá một số nội dung kiến thức đã học, rèn cho học sinh các kĩ năng tổng hợp về sử dụng Tiếng Việt trong nói, viết, tích hợp các kiến thức của cả 3 phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn

* Để đạt đợc những mục tiêu trên giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài cho tiế học cụ thể:

- Giáo viên: Phải có một hệ thống các câu hỏi, bài tập để hớng dẫn cho học sinh và các bảng, lợc đồ, bảng phụ (Tức là giáo viên phải chuẩn bị tốt các đồ dùng dạy học)

Trang 8

- Giáo viên yêu cầu học sinh ôn lại các kiến thức đã học; nghiên cứu kĩ hệ thống câu hỏi, bài tập trong SGK, đọc kĩ các văn bản liên quan đến bài ôn tập

* Cách tổ chức và phơng pháp dạy học

Giáo viên: Xác định hình thức ôn tập: Đi từ hệ thống bài tập rút ra lý thuyết đã học từ đó tiếp tục hớng dẫn cho học sinh vận dụng củng cố kiến thức vừa ôn

Phần I : Nhìn tổng quát chơng trình Tiếng Việt ở học kỳ I

=> Giáo viên đa ra gợi dẫn 1: Chơng trình Tiếng Việt ở học kỳ I đã đem lại cho em những hiểu biết gì về Tiếng Việt

=> Yêu cầu học sinh trả lời đợc: Trong học kỳ I chúng ta đã học những kiến thức sau đây về Tiếng Việt

1 Các phơng châm hội thoại

2 Xng hô trong hội thoại

3 Cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp

4 Thuật ngữ

5 Sự phát triển của từ vựng

6 Trau dồi vốn từ

7 Tổng kết từ vựng

8 Phơng ngữ (chơng trình địa phơng)

Tuy nhiên bài ôn tập này chỉ ôn tập lại những kiến thức và

kĩ năng mới đợc học trong học kỳ I và cha đợc ôn trong bài tổng kết từ vựng

Phần II : Hớng dẫn cho học sinh ôn tập 3 nội dung kiến

thức cơ bản

* Hoạt động 1: Giáo viên hớng dẫn học sinh ôn “Các phơng châm

hội thoại”

Trang 9

=> Giáo viên sử dụng một số tình huống giao tiếp để dẫn vào bài (hoặc đa một số câu ca dao tục ngữ thể hiện các phơng châm hội thoại để học sinh phát hiện nhập tâm nội dung bài ôn tập sau đó giáo viên hớng dẫn học sinh làm bài tập

2 SGK trang 190

=> Giáo viên gợi dãn: Hãy kể một số tình huống giao tiếp

mà trong đó có một hoặc một số phơng châm hội thoại nào

đó không đợc tuân thủ? ở tình huống này giáo viên đa sẵn 2

ví dụ trên bảng phụ nh sau:

Ví dụ 1: Truyện thứ nhất

Trong giờ Vật lý, thầy giáo hỏi một học sinh đang mải nhìn qua cửa sổ:

- Em cho thầy biết sóng là gì?

Học sinh:

- Tha thầy “sóng” là bài thơ của Xuân Quỳnh ạ!

Ví dụ 2: Truyện thứ hai

Một lão chủ dặn đầy tớ:

- Mày ăn nói cộc lốc, ngời ta cời cả tao Từ dày về sau,

hễ nói gì thì phải có đầu, có đuôi, nghe cha!

Một hôm, lão ăn mặc chỉnh tề, ngồi hút thuốc Anh

đầy tớ đứng chắp tay, chậm rãi tha:

- Bẩm ông

- Cái gì? - Lão chủ hỏi

- Bẩm ông con tằm nó ăn lá dâu

- Nghĩa là sao? - Lão chủ hỏi miệng vẫn phì phèo thuốc lá

- Bẩm ông, con tằm nó ăn lá dâu, nó nhả tơ Ngời ta mang ra chợ bán, ngừơi Trung Quốc mua tơ về kéo sợi, dệt

Trang 10

thành the, rồi mang the ra bán cho ta Ông mua the về may

áo Hôm bay ông mặc áo và ngồi hút thuốc

Nói đến đây, anh đầy tớ cuống quýt:

- Tàn thuốc rơi vào áo ông, áo ông đang cháy ạ!

Lão chủ giật mình nhìn xuống thì áo đã cháy một mảng to bằng bàn tay rồi!

+ Giáo viên gợi dẫn và yêu cầu học sinh chỉ rõ:

* Câu chuyên thứ nhất: Ngừơi nói vi phạm phơng châm quan hệ

* Câu chuyện thứ hai: Ngời nói vi phạm phơng châm

về lợng

=> Từ hai ví dụ trên, giáo viên có thể cho học sinh lấy thêm ví dụ khác Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện gợi dẫn 2:

+ Khi giao tiếp chúng ta cần tuân thủ phơng châm hội thoại nào? (Yêu cầu học sinh điền vào lợc đồ nh SGK trang

190 trên bảng)

+ Từ đó học sinh rút ra kết luận:

a Khi giao tiếp cần tuân thủ các phơng châm sau:

* Nói phải có nội dung, nội dung của lời nói phải đáp ứng yêu cầu của một cuộc giao tiếp không thừa, không thiếu

(ph-ơng châm về phần lợng)

* Đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực (phơng châm về chất)

Các phơng châm hội

thoại

Phơng

châm

về lợng

Phơng châm

Về chất

Phơng châm Quan hệ

Phơng châm Cách thức

Phơng châm lịch sự

Trang 11

* Cần nói đúng về đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề (phơng châm về quan hệ)

* Cần tế nhị và tôn trọng ngời khác (phơng châm lịch sự)

+ Giáo viên cần lu ý cho học sinh: Để tuân thủ các phơng châm hội thoại, ngời nói phải làm gì? (phải nắm chắc đợc các

đặc điểm của tình huống giao tiếp: Mục đích, không gian, thời gian giao tiếp và trạng thái tâm lý, sức khoẻ, công việc, vốn hiểu biết, văn hoá của ngời nghe)

* Phơng châm hội thoại có phải là những căn cứ chung bắt buộc trong mọi tình huống giao tiếp không? Vì sao?

(Ph-ơng châm hội thoại là những yêu cầu chung trong giao tiếp chứ không phải là những quy định có tính chất bắt buộc trong mọi tình huống Do đó, có những trờng hợp trong đó có một số phơng châm hội thoại nào đó không đợc tuân thủ

b Những trờng hợp nào vi phạm phơng châm hội thoại

+ Đó là do:

* Ngừơi nói vô ý, vụng về, thiếu văn hoá trong giao tiếp

* Phải u tiên cho một phơng châm hội thoại quan trọng hơn

* Ngời nói muốn hớng ngời nghe hiểu câu nói theo một hàm ẩn nào đó

+ Muốn vậy, từ hớng dẫn (1) và (2) nh trên giáo viên củng

cố kiến thức về phơng châm hội thoại, rèn cho học sinh kĩ năng cơ bản khi sử dụng phơng châm hội thoại trong giao tiếp phù hợp với tình hình giao tiếp

Trang 12

+ Sau đó giáo viên có thể đa ra một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm lại kiến thức vừa ôn phần trên lấy thêm ví dụ khác

để khắc sâu kiến thức để chuyển tiếp sang phần thứ hai

* Hoạt động 2: Giáo viên hứơng dẫn học sinh ôn phần

“X-ng hô tro“X-ng hội thoại” (Giáo viên cho học sinh ôn lại các từ “X-ngữ thông dụng trong Tiếng Việt và cách dùng của chúng)

+ Giáo viên nêu gợi dẫn 3: Trong Tiếng Việt, xng hô thờng tuân theo phơng châm “xng hô, hô tôn” Em hiểu phơng châm đó nh thế nào? Cho ví dụ minh hoạ?

+ Với yêu cầu trên học sinh phải chỉ rõ: Khi xng hô, ngời nói tự xng mình một cách khiêm nhờng là “xng khiêm” và gọi ngời đối thoại một cách tôn kính gọi là “hô tôn”

Ví dụ 1: Cách xng hô trong quan hệ xa

- Vua tự xng là “quả nhân” (ngừơi kém cỏi) để thể hiện

sự khiêm tốn và gọi các nhà s là “cao tăng” thể hiện sự tôn kính

- Các nhà nho tự xng là “hàn sĩ”, “kẻ hậu sinh” và gọi ngời khác là

“tiên sinh”

- Bạn bè tự xng là “tiểu đệ” gọi ngời khác là “đại ca”

Ví dụ 2: Cách xng hô ngày nay:

- Nếu một ngời xng là “chúng tôi” thì gọi ngời khác là

“quý ông”, “quý bà” hay “các anh”, “các chị”

=> Từ những ví dụ trên học sinh xác định đợc từ ngữ xng hô thời trớc và từ ngữ xng hô thời nay thì từ ngữ xng hô thời

tr-ớc thể hiên rõ phơng châm này hơn ngày nay

=> Nh vậy, giáo viên đã cung cấp cho học sinh kiến thức

về xng hô trong hội thoại và rèn kỹ năng nói, viết phù hợp với yêu cầu giao tiếp

Ngày đăng: 29/10/2017, 21:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w