Tham luận Đổi mới ktđg thúc đẩy đổi mới ppdh các môn ngữ văn, lịch sử, địa lý và giáo dục công dân thcs Bàn về vấn đề đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn ngữ văn, Thủ tớng Phạm Văn Đồ
Trang 1Tham luận Đổi mới ktđg thúc đẩy đổi mới ppdh các môn ngữ văn, lịch sử, địa lý
và giáo dục công dân thcs
Bàn về vấn đề đổi mới trong kiểm tra đánh giá môn ngữ văn, Thủ tớng Phạm Văn Đồng có nói: Dạy văn chủ yếu là dạy cho HS diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” hay hiểu theo cách đổi mới KTĐG là phải ra đề làm sao để các em nói đúng, nói thật từ chính kiến thức và những tình cảm, suy nghĩ sáng tạo của riêng mình Cùng tinh thần
đó trong năm học này Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo “đổi mới mạnh mẽ cỏch thức kiểm tra, thi với yờu cầu học sinh Không phải học thuộc lũng nhiều sự kiện, cỏc bài văn mẫu; tăng cường cỏc cõu hỏi đũi hỏi học sinh suy nghĩ, trả lời theo cỏch hiểu và vận dụng của riờng mỡnh”
Như vậy trớc hết chúng ta cần phải hiểu rõ các nội dung khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Đánh giá kết quả học tập của HS trong các môn học là quá trình thu thập và xử lí
thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định s phạm của GV và nhà trờng, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn” Đánh giá thực hiện đồng thời hai chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi về quá trình dạy và học, vừa góp phần điều chỉnh chính quá trình này Để có thể thực hiện tốt các chức năng trên, việc đánh giá kết quả học tập của HS cần đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục, có tính hệ thống và toàn diện, đảm bảo tính khách quan và công khai; những yêu cầu trên đây cũng chính là những thớc đo giá trị của
đánh giá
Kiểm tra đợc xem là phơng tiện và hình thức quan trọng nhất của đánh giá Thông qua
việc sử dụng bộ công cụ đo đợc xây dựng dựa trên những mục tiêu và tiêu chí xác định, kiểm tra có vai trò cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá” Nh vậy, nếu coi đánh giá là mục đích của một hoạt động thì kiểm tra là phơng tiện quan trọng để thực hiện mục đích
Kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học, giúp GV có thể nắm bắt
cụ thể, chính xác năng lực học tập của mỗi HS qua việc giải quyết những tình huống đặt ra liên quan đến các nội dung của một bài học, một chơng hoặc một giai đoạn học tập Do vậy, những yêu cầu và nội dung kiểm tra phải bám sát quá trình học tập, bám sát mục tiêu môn học, có sự phân hoá cho từng đối tợng học sinh Có nhiều cách thức và phơng tiện giúp cho việc kiểm tra đạt hiệu quả; trong nhà trờng hiện nay, phơng tiện (hay công cụ) kiểm tra chủ yếu là thông qua các đề kiểm tra
Đề kiểm tra là những câu hỏi hoặc bài tập đợc đa ra, đòi hỏi HS phải trả lời, giải quyết bằng hình
thức trình bày miệng, viết hoặc thực hành, có quy định tơng đối cụ thể về thời gian thực hiện, qua đó nhằm xem xét kết quả học tập của HS trong quá trình học tập bộ môn Để thực hiện tốt các chức năng của đánh giá, việc xây dựng bộ công cụ kiểm tra (các đề kiểm tra) cần đợc tiến hành vào đúng các thời
điểm trong quá trình dạy học và cần đợc sắp xếp theo một hệ thống hợp lí Có nghĩa là hệ thống đề kiểm tra môn học một mặt cần đáp ứng đầy đủ các cấp độ, các hình thức đợc quy định nh: kiểm tra
th-ờng xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra tổng kết (còn gọi là thi); kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra
thực hành, ;
Trong học kỳ I năm học 2008-2009, cùng với tinh thần chung của Bộ GD-ĐT là
đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS theo hớng toàn diện hơn, đa dạng hơn, tăng cờng hơn tính chính xác và khách quan Phũng GD - ĐT Lộc Hà đó tổ chức cỏc chuyờn đề
hướng dẫn cho cỏn bộ, giỏo viờn về vấn đề đổi mới KTĐG thỳc đẩy đổi mới PP dạy học ở tất cả cỏc mụn học núi chung trong đú cúi mụn Ngữ văn Qua cỏc đợt kiểm tra toàn diện, chuyờn đề, đột xuất Phũng trực tiếp chỉ đạo đến tật tổ chuyờn mụn
và từng giỏo viờn về vấn đề đổi mới KTĐG HS, cỏch thức ra đề thi và hướng kiểm tra đỏnh giỏ như thế nào cho phự hợp với từng đối tượng học sinh và phự hợp với tỡnh hỡnh địa phương: Cụ thể như chỉ đạo vấn đề kiểm đỏnh gia thường xuyờn đối với học sinh ở đơn vị THCS Thạch Bằng, THCS Tõn Vinh, THCS Bỡnh An, Đặng Tất
đú là thay đổi cỏch kiểm tra bài cũ theo truyền thống hỏi 1 đến 2 học sinh bằng cỏch kiểm tra bài cũ bằng cỏch phỏt phiếu học tập cho cả lớp làm việc Hoặc trong
Trang 2khi gọi học sinh lờn bảng trả lời thỡ cõu hỏi thỡ giỏo viờn ra bài tập cho toàn thể học sinh dưới lớp cựng làm
Cỏch làm khỏc đú là kiểm tra bài cũ, kiểm tra cũng cố kiến thức bằng huớng ra cõu hỏi trắc nghiệm: Học sinh điền vào Phiếu học tập hay là điền thụng tin vào bảng phụ mà giỏo viờn đó chuẩn bị sẵn; hay chia theo nhúm để cựng nhau thảo luận nhanh và trả lời cỏc phương
ỏn mà giỏo viờn đưa ra Cỏch làm hay và cú hiệu quả đú là ỏp dụng đồ dựng dạy học kiểm tra trắc nghiệm tự làm vào kiểm tra thường xuyờn đối với học sinh ở đơn vị THCS Tõn Lộc
Từ những việc thay đổi trờn đó tạo ra một quan niệm mới là quan niệm về kiểm tra bài cũ Đa số các GV Ngữ văn trong to n huyàn huy ện đã thống nhất việc kiểm tra bài cũ không phải chỉ là kiểm tra miệng về nội dung bài học giờ trớc đầu mỗi giờ học, mà là kiểm tra sự nắm vững những kiến thức và kĩ năng đã học và có thể tiến hành vào mọi thời điểm trong giờ học với những mục đích và yêu cầu khác nhau Bên cạnh đó, các GV cũng chú trọng hơn đến việc đánh giá kết quả học tập môn học qua các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết hay các hoạt động Ngữ văn khác nh , quan sát, su tầm t liệu, tập làm thơ hoặc qua các hoạt động học tập các nội dung tự chọn
Cựng với những hướng dẫn chỉ đạo trờn, Phũng hướng dẫn cỏc trường thực hiện nghiờm tỳc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2008-2009, trong đú vấn đề ra đề kiểm tra học
kỳ khụng ỏp dụng hỡnh thức trắc nghiệm mà là tự luận 100%, trắc nghiệm chỉ phỏ dụng cho kiểm tra 45 phỳt hoặc dưới 45 phỳt
Trớc hết là sự chỉ đạo cách ra đề tự luận Các đề tự luận truyền thống có những u thế vẫn đợc khẳng định Thêm vào đó đã có những gợi mở trong việc xây dựng đề và đáp án chấm bài văn có tính chất mở, không trói buộc sức tởng tợng và sáng tạo của HS Phạm vi kiểm tra không chỉ ở những nội dung có trong chơng trình mà có thể mở rộng tới những vùng kiến thức, kĩ năng tơng tự nằm ngoài chơng trình, miễn rằng những nội dung đó không quá xa lạ hay khó hiểu đối với HS Bên cạnh đó là sự điều chỉnh khuynh hớng ra đề quá thiên về nghị luận văn học, hớng tới những dạng đề văn nghị luận xã hội gắn với các đề tài gần gũi, ích dụng với thực tiễn đời sống, yêu cầu HS biết sử dụng các phơng thức biểu đạt khác nhau hoặc
có sự kết hợp các thao tác và phơng thức biểu đạt Tỉ lệ giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội trong một đè kiểm tra là 50/50
Tuy nhiên, với các đề văn chỉ nêu vấn đề và để độ mở cho ngời viết cũng nh việc kiểm tra những kiến thức, kĩ năng ở phạm vi rộng, HS cần phải đợc rèn luyện thờng xuyên trớc khi giáo viên đa vào thi kiểm tra đánh giá Phòng đã trực tiếp ra đề thi kiểm tra học kỳ cho tất cả học sinh trong toàn huyện, qua những lần kiểm tra này không những HS mà ngay cả giáo viên cũng phần nào tiếp thu đợc cách thức ra đề thi và hớng ra đề thi trong giai đoạn đổi mới
ph-ơng pháp dạy học hiện nay Bên cạnh đó Phòng còn yêu cầu các trờng ra đề và nộp về cho Phòng để Bộ phận chuyên môn ngiên cứu và đa vào ngân hàng đề thi sắp tới
Ngoài ra Phòng GD_ĐT còn kết hợp với các đơn vị trờng tổ chức các chuyên đề, các buổi ngoại khoá về đổi mới cách thức ra đề, cách làm bài thi theo dạng đề mở; ứng dụng CNTT vào KTDG HS cho phù hợp vớp học sinh nhất là lớp chín trong xu hớng đổi mới hiện nay Làm có hiệu quả công tác này đó là các chuyên đề hớng dẫn ôn tập, cách làm bài thi đạt kết quả ở tổ Văn – sử THCS Mỹ Châu, Tân Vịnh, Đặng Tất Các Chuyên đề ứng dụng CNTT, ứng dụng đồ dùng dạy học vào KTDG HS tiêu biểu nh ở THCS Bình An, THCS Thạch Kim
Một thay đổi khác trong hớng dẫn đánh giá kết quả học tập của HS THCS là việc sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 loại (câu hỏi :đúng sai, điền khuyết, đối chiếu cặp
đôi và chủ yếu là câu hỏi nhiều lựa chọn) trong các đề kiểm tra 45 phút và kiểm tra th ờng xuyên Đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan đảm bảo tính chính xác, tính khách quan trong
đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn nhất là ở các mạch kiến thức tiếng Việt, lịch sử văn học, làm văn với 3 mức độ : nhớ và tái hiện, thông hiểu, vận dụng tái tạo và sáng tạo Qua các chuyên đề do Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT tổ chức gaío viên đợc huấn luyện về kĩ thuật ra đề thi trắc nghiệm Tránh mắc những sai sót đáng tiếc (thí dụ nh: câu hỏi quá dễ, câu hỏi làm lộ câu trả lời, ý hỏi không tờng minh, các lựa chọn không tơng đơng, không bình đẳng, độ nhiễu cha cao )
Phòng hớng dẫn ra đề thi 45 phút kết hợp ở một tỉ lệ thích đáng các câu trắc nghiệm khách quan và tự luận
Tuy nhiên, qua khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá trong thời gian qua, có thể nhận thấy một số vấn đề nổi lên nh sau:
- Mức độ đánh giá có tính đồng nhất, cào bằng”, không phân hoá nhiều HS cùng làm
chung 1 loại đề kiểm tra nên khó đánh giá đợc các năng lực học tập môn Ngữ văn của HS, dễ tạo điều kiện cho HS quay cóp, chép bài hay sử dụng phao thi, bài văn mẫu
Trang 3- Kiểm tra miệng và kiểm tra vở soạn bài, bài tập tự làm của HS còn mang tính hình thức, các dạng phiếu quan sát, phỏng vấn không đợc sử dụng thờng xuyên nên GV không theo dõi, uốn nắn, sửa chữa một cách kịp thời những sai sót của từng cá nhân HS trong nghe, nói, đọc, viết và tiếp nhận, cảm thụ
- GV ít dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và những năng lực Ngữ văn quan trọng khác (thí dụ nh năng lực vận dụng những gì đợc học ở nhà trờng vào thực tiễn giải quyết những vấn
đề của đời sống hàng ngày, năng lực tự học thêm những gì ngoài sách giáo khoa, năng lực tự khẳng định ) khi xây dựng một đề kiểm tra
- Đa số GV cha hiểu và cha xác định ma trận trớc khi xây dựng đề kiểm tra, do vậy các
đề kiểm tra hoặc quá dễ, hoặc quá khó, hoặc không quét đợc trên một phạm vi rộng các KT,
KN đã học
- Tỉ lệ giữa câu hỏi trắc nghiệm với câu hỏi tự luận trong một đề kiểm tra cha hợp lí
Kĩ thuật ra đề trắc nghiệm cha tốt (câu hỏi điền khuyết có số lựa chọn ở hai cột bằng nhau, hoặc các ý dẫn quá dài; câu hỏi nhiều lựa chọn còn vi phạm các lỗi rất thông thờng nh: lời dẫn cha tốt, câu trả lời có nhiều hơn một phơng án đúng, dùng các phơng án trả lời nh: tất cả
đều đúng; tất cả đều sai; câu trả lời không đánh giá đợc chính xác kết quả )
- Bên cạnh đó, do một số hạn chế về điều kiện dạy học ở các trờng THCS, việc dùng trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn còn những khó khăn nh:
+ HS khó tránh khỏi tình trạng trao đổi, nhìn bài, chép bài của nhau vì số HS trong 1 lớp học còn quá đông (bình quân là 45 HS/lớp)
+ Phần đông các trờng THCS chuẩn bị đề kiểm tra có trắc nghiệm khách quan rất khó khăn vì cha đủ điều kiện in sao đề Toàn huyện chỉ mới cú THCS Thạch Kim, Mỹ Chõu, Bỡnh An cú mỏy Pho to đẻ so chộp đề
định hớng đổi mới ktđg môn ngữ văn Thứ nhất: Việc đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn trớc hết cần phải bám
sát mục tiêu môn học, từ mục tiêu môn học mà đề ra các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ cần
đánh giá
Thứ hai: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của HS đợc căn cứ trên
những đổi mới về nội dung chơng trình và sách giáo khoa Ngữ Văn THCS , cụ thể nh sau:
+ Theo quan điểm tích hợp, bao gồm 3 xu thế: tích hợp nội dung kiến thức, kỹ năng của ba phân môn Văn, Tiếng, Tập làm văn; tích hợp dạy kiến thức Ngữ văn với rèn luyện các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; tích hợp kiến thức liên môn vào từng bài học, có liên thông và lặp lại ở các bài học khác
+ Chú trọng hình thành, phát triển và hoàn thiện cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đặc biệt là qua 4 kỹ năng này hình thành năng lực cảm thụ, năng lực bộc lộ, biểu đạt t tởng, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, viết tiếng Việt cho HS; quan tâm hơn đến việc hình thành năng lực
đọc văn (đọc hiểu văn bản) và năng lực làm văn (tạo lập, sản sinh văn bản)
+ Chú trọng tăng thời lợng cho việc thực hành nói và viết tiếng Việt gắn với những vấn
đề của thực tiễn đời sống, phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp nhận của HS
Thứ ba: Mở rộng phạm vi kiến thức kỹ năng đợc kiểm tra qua mỗi lần đánh giá kết
quả học tập môn Ngữ văn của HS Với nguyên tắc này, các bài kiểm tra chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức đợc giảm thiểu, những câu hỏi bài tập thử thách t duy sáng tạo, năng lực vận dụng linh hoạt các tri thức kĩ năng đã học để giải quyết hợp lí những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đợc tăng cờng Mặt khác, mỗi bài kiểm tra có thể sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau nhằm phân hoá các đối tợng HS, giúp GV có đợc những thông tin đầy đủ về việc học tập Ngữ văn của từng đối tợng HS trong lớp và từ đó có những quyết định s phạm chính xác, kịp thời giúp từng HS tiến bộ thực sự
Thứ t: Đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS luôn dựa trên quan điểm tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh Mỗi một đề kiểm tra đều cố gắng tạo điều kiện cho tất cả các đối tợng HS đợc suy nghĩ, tìm tòi, khám phá để có thể hiểu, cảm, vận dụng tốt các kiến thức, kỹ năng văn, tiếng Việt, làm văn vào quá trình thực hiện bài kiểm tra
Việc đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của HS cần cố gắng thể hiện đợc tinh thần
đổi mới PPDH nhằm đánh giá và phát huy đợc tính tích cực chủ động của HS khi tham gia vào quá trình học tập, khuyến khích HS biết cách tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn thông qua những chỉ số đánh giá mà GV cung cấp
Thứ năm: Cần đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, kết hợp các dạng bài tự luận
truyền thống với các dạng bài kiểm tra khác để tăng cờng tính chính xác, khách quan trong
đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn…
Thứ sáu: Chú trọng tới tính phân hóa trong khi kiểm tra Một đề kiểm tra phải góp
phần phân loại đợc HS theo mục tiêu và theo mặt bằng chất lợng chung Căn cứ trên yêu cầu cần đạt, đề kiểm tra phải đảm bảo đánh giá đợc năng lực và thành tích học tập thực sự của đa
Trang 4số HS Đề kiểm tra phải giữ một tỉ lệ nhất định cho những câu hỏi dễ (nhớ, thuộc lòng), trung bình, khó, sao cho điểm số có thể phản ánh trung thực nhất năng lực học tập của mỗi HS
Lộc Hà, ngày 12 tháng 02 năm 2009
Ngời thực hiện
Lê Khắc Yên