Tuy nhiên, mặc dù hoạt động ngoại thương diễn ra vô cùng sôi động và có đóng góp quyết định cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như công tác quản lý nhà nước về ngoại thươ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
–––––– CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––––––––––––
Số: /TTr- BCT Hà Nội, ngày tháng năm 2016
TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ V/v ban hành Luật Quản lý ngoại thương
Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và Quyết định số 207/QĐ-TTg ngày 17 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Bộ Công Thương được giao chủ trì soạn thảo Luật Quản lý ngoại thương, trình Quốc hội xem xét lần đầu tại kỳ họp thứ nhất năm 2014 và thông qua tại kỳ họp thứ hai năm 2014
Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết số 89/2015/QH13 ngày 09 tháng 6 năm
2015 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, Dự án Luật Quản lý ngoại thương đã được đưa vào Chương trình, dự kiến trình Quốc hội khóa XIV tại kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2016) và thực hiện Quyết định số 1273/ QÐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh,
Bộ Công Thương được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Quản lý ngoại thương
Bộ Công Thương đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008; thành phần Ban soạn thảo gồm đại diện của các Bộ, ngành và đặc biệt là có sự tham gia của đại diện Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - cơ quan có thẩm quyền thẩm tra Dự Luật trước khi trình Quốc hội thông qua Dự thảo đã được Bộ Công Thương thực hiện đúng quy trình, thủ tục soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thông qua việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của các Bộ, ngành ở Trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Trung ương hội của một số hội, hiệp hội nghề nghiệp và ngành hàng liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đăng tải công khai trên Trang điện tử của Bộ Công Thương theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để xin ý kiến rộng rãi của các đối tượng chịu tác động chính sách và các tầng lớp nhân dân trong xã hội
DỰ THẢO
25/04/2016
Trang 2Đến nay, Bộ Công Thương đã nhận được … ý kiến tham gia bằng văn bản của các đơn vị vào Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương và Dự thảo Tờ trình Chính phủ cũng như các tài liệu khác trong bộ hồ sơ trình Dự án Luật, bao gồm
… ý kiến của Bộ, cơ quan ngang bộ; … ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; …
ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác Trong đó đã có …ý kiến nhất trí hoàn toàn với nội dung Dự thảo, các ý kiến cũng đã được Bộ Công Thương tổng hợp tại Bản tổng hợp ý kiến (gửi kèm theo)
Sau khi nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến tham gia để chỉnh sửa và kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương đã hoàn chỉnh Dự thảo Tờ trình Chính phủ, Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương và dự thảo các tài liệu trong bộ
hồ sơ trình với những nội dung cơ bản như sau:
I SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT
1 Sự cần thiết ban hành Luật Quản lý ngoại thương
Trong suốt quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ năm 1995, Việt Nam đã liên tục cải thiện chính sách, công cụ pháp luật để thực hiện quản lý ngoại thương phù hợp với điều kiện hội nhập Sau khi gia nhập WTO, chúng ta vẫn đang nỗ lực hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế để tận dụng tối đa cơ hội hội nhập đồng thời hạn chế những bất lợi về vị thế và năng lực cạnh tranh
Tuy nhiên, mặc dù hoạt động ngoại thương diễn ra vô cùng sôi động và có đóng góp quyết định cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như công tác quản lý nhà nước về ngoại thương đã vừa chặt chẽ hơn, vừa thông suốt hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn, song thực tiễn cho thấy chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực này còn nhiều điểm chưa hoàn chỉnh, cần hoàn thiện, hệ thống hóa, cụ thể:
Thứ nhất, về tính định hướng, Luật Thương mại 2005 và các hệ thống
pháp luật hiện hành chưa thể hiện rõ ràng định hướng, vai trò của Nhà nước, các
cơ quan Nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước thống nhất về ngoại thương
Theo đó, việc quản lý nhà nước về ngoại thương phải hiệu quả, chặt chẽ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp hợp lý nhưng đồng thời phải phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Trang 3Việc nêu rõ định hướng phù hợp với cam kết quốc tế là một định hướng xuyên suốt, đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng hiện nay
Thứ hai, hệ thống pháp luật về quản lý ngoại thương hiện hành còn bất
cập ở nhiều mặt:
(i) Sự tản mát: Có quá nhiều các văn bản quy phạm pháp luật cùng quy
định quản lý hoạt động ngoại thương dẫn đến tản mát, thiếu sự thống nhất về cùng một biện pháp các văn bản có quy định khác nhau về nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền
(ii) Sự minh bạch chưa cao: Việc có quá nhiều văn bản cùng quy định
hoạt động ngoại thương dẫn đến sự thiếu minh bạch, rủi ro cho tổ chức, cá nhân, nhất là trong áp dụng chính sách quản lý hàng hóa (ví dụ như không có danh mục hàng hóa cấm thống nhất mà mỗi Luật và các văn bản hướng dẫn có quy định về cấm )
Hơn nữa, còn tồn tại nhiều biện pháp quản lý ngoại thương ở hình thức văn bản dưới luật có tính hạn chế, cản trở hoạt động ngoại thương dẫn đến cơ sở pháp lý chưa cao, sự thiếu minh bạch, cản trở quyền tự do kinh doanh của tổ chức, cá nhân theo tinh thần Hiến định
(iii) Tính ổn định, đoán định trước còn thấp: Được xây dựng và ban hành
trong bối cảnh đất nước ta đang đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), về quy định quản lý nhà nước về ngoại thương, Luật Thương mại 2005 chỉ có một số quy định mang tính cơ bản hoặc có tính chất khung với nội hàm không rõ ràng hoặc thậm chí không có quy định về một số biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động ngoại thương trong đó (việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, các biện pháp chỉ định cửa khẩu, thương nhân )
Việc không có quy định cụ thể dẫn đến sự ổn định, tính đoán định trước của các biện pháp này chưa cao, có khả năng gây cản trở quyền của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật cũng như gây khó khăn cho các cơ quan quản
lý nhà nước có liên quan trong áp dụng công cụ mà mình có quyền thực hiện trong phạm vi thẩm quyền
(iv) Tính hệ thống còn yếu: Hiện còn nhiều các quy định về quản lý nhà
nước về hoạt động ngoại thương đang hiện hữu trong các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật nhưng đã đủ điều kiện để Luật hóa như các Pháp lệnh liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại, hoạt động thương mại biên giới,
Trang 4quyền hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, thương nhân không có hiện diện tại Việt Nam
Thứ ba, bối cảnh quốc tế và công cuộc hội nhập quốc tế đã có nhiều thay
đổi cơ bản so với các nguyên lý, tư duy quản lý nhà nước của Việt Nam theo quy định của Luật Thương mại 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành
Luật cũng làm rõ nội hàm, cập nhật mới các công cụ quản lý nhà nước về ngoại thương phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên qua
đó là một bước tiếp tục thúc đẩy quá trình hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế thế giới
Ngoài ra, việc tiếp cận theo hướng “chọn bỏ” thay vì “chọn cho” đối với danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu là cách tiếp cận tiên tiến, phù hợp với các cam kết thương mại đang và sẽ triển khai thực thi trong thời gian tới
Thứ tư, cơ chế quản lý ngoại thương hiện hành đang gây cản trở lớn về
thủ tục hành chính đến hoạt động của các doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh trong các khu vực hải quan riêng (là khu vực đang thu hút mạnh mẽ hoạt động đầu tư nước ngoài và có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn) cũng là đối tượng cần phải được rà soát, dỡ bỏ
Cuối cùng, các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động ngoại thương cũng
đang rất cần những cơ sở pháp lý ở mức cao nhằm thể hiện rõ quan điểm hỗ trợ ngoại thương của Nhà nước, Chính phủ nhằm tận dụng tối đa các ưu thế, ưu đãi trong các khuôn khổ thương mại song phương, đa phương đồng thời chỉ quy định các biện pháp được phép theo quy định của pháp luật quốc tế
Do đó, việc xây dựng một đạo Luật có tính định hướng rõ ràng, hợp chủ trương của Đảng, Nhà nước, ổn định, minh bạch, thống nhất, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế nhưng đồng thời đảm bảo cơ quan quản lý nhà nước có đầy đủ các công cụ điều hành một cách linh hoạt trên tinh thần cải cách thủ tục hành chính là rất cần thiết trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay
2 Quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc xây dựng Luật
- Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, phát triển hoạt động ngoại thương.1
1 Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 – 2020 – Văn kiện đại hội Đảng XII :“Khai thác tốt
các cam kết quốc tế, mở rộng và đa dạng hóa thị trường ngoài nước, không để phụ thuộc quá lớn vào một thị trường Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu phù hợp, phấn đấu cân bằng thương mại bền vững Tăng cường xúc tiến thương mại, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam, nhất là các mặt hàng có lợi thế Tận dụng tối đa các điều kiện thuận lợi của các hiệp định, thỏa thuận thương mại để thúc
Trang 5- Phải là đạo luật chủ đạo điều chỉnh hoạt động quản lý ngoại thương thông qua việc đảm bảo quy định bao quát tất cả công cụ quản lý ngoại thương; quy định cơ chế mở cho việc sử dụng, ban hành các công cụ quản lý ngoại thương mới trong tương lai để đảm bảo tính linh hoạt trong việc xây dựng chiến lược ngoại thương và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này
- Cân bằng lợi ích giữa hoạt động quản lý nhà nước về ngoại thương của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động ngoại thương của thương nhân cũng như bảo đảm tính cạnh tranh của nền kinh tế
- Hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp lý về các biện pháp phòng vệ thương mại để thực thi có hiệu quả của các biện pháp này
- Hoàn thiện, bổ sung các quy định liên quan đến công cụ hỗ trợ ngoại thương để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
- Hệ thống hóa, pháp điển hóa đến mức có thể các quy định pháp luật về quản lý hoạt động ngoại thương hiện hành, nội luật hóa các điều ước quốc tế trong chừng mực nhất định
II TÊN GỌI, BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT
1 Về tên gọi của Luật và mối quan hệ với Luật Thương mại 2005
Tại Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và Quyết định
số 207/QĐ-TTg ngày 17 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết 89/2015/NQ-QH về Chương trình xây dựng, Luật, Pháp lệnh năm 2016 của Quốc hội tên của Dự Luật đã được dự kiến là “Luật Quản lý ngoại thương” Tên gọi này xuất phát từ lý do sau:
Hiện nay, các quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa thương nhân với thương nhân trong thương mại quốc tế và các quy định điều chỉnh quan hệ giữa
cơ quan nhà nước với thương nhân còn tồn tại đồng thời trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật là Luật Thương mại 2005 Tuy nhiên, với vai trò là một đạo luật quan trọng, có giá trị pháp lý cao nhất trong việc điều chỉnh hoạt động ngoại
đẩy xuất khẩu; đồng thời có biện pháp phòng vệ thích hợp để bảo vệ sản xuất và lợi ích người tiêu dùng Phấn đấu đạt tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân khoảng 10%/năm.”
Trang 6thương nhưng bản thân những quy định của Luật Thương mại còn tồn tại nhiều bất cập :
(i) Các quy định chỉ chủ yếu đề cập đến các giữa thương nhân với thương nhân qua quan hệ hợp đồng còn yếu tố quản lý nhà nước lại được đề cập rất mờ nhạt (chỉ có chưa đến 20/324 Điều có đề cập đến yếu tố quản lý nhà nước về ngoại thương trong đó trực tiếp liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu là 7/324 Điều từ Điều 27- Điều 33);
(ii) Các quy định chủ yếu chỉ mang tính khung, nêu khái niệm (và giao Chính phủ quy định) nhưng không có nguyên tắc áp dụng, trường hợp áp dụng;
(iii) Còn quy định thiếu bao quát các công cụ quản lý nhà nước về ngoại thương đang chưa có quy định, cơ sở pháp lý hoặc nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác như quy định biện pháp chỉ định cửa khẩu, chỉ định thương nhân, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp hỗ trợ ngoại thương, giải quyết tranh chấp
Như vậy, việc hoàn thiện, bổ sung các nội dung nêu trên vào Luật Thương mại 2005 (sửa đổi) là không có tính khả thi cao so với việc xây dựng mới Luật Quản lý ngoại thương Ngược lại, việc xây dựng Luật Quản lý ngoại thương không ảnh hướng lớn, cơ bản đến nội dung, kết cấu của Luật Thương mại 2005
Do đó, tên của Luật là Luật Quản lý ngoại thương với ý nghĩa quan trọng
là đạo luật chủ đạo quy định việc sử dụng các công cụ điều tiết, kiểm soát ngoại thương, sự tập trung, đầu mối và công tác phối hợp, phân cấp giữa các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến ngoại thương,… mà không điều chỉnh đối với các hoạt động ngoại thương giữa thương nhân với thương nhân cũng như không điều chỉnh các khái niệm, hoạt động ngoại thương đang có theo quy định của Luật Thương mại
2 Về bố cục của Luật
Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương dự kiến bao gồm 9 Chương, 128 Điều, cụ thể như sau:
- Chương I - Những quy định chung: gồm Điều (từ Điều đến Điều ) Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, nguyên tắc quản lý nhà nước về ngoại thương, nguyên tắc áp dụng luật, quyền tự do kinh doanh xuất nhập khẩu và trách nhiệm quản lý nhà nước về ngoại thương
- Chương II - Các biện pháp hành chính: gồm Điều (từ Điều đến Điều ) Chương này có 7 Mục với các nội dung như sau:
Trang 7+ Mục 1: Cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu
+ Mục 2: Hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
+ Mục 3: Quản lý theo giấy phép, điều kiện
+ Mục 4: Chứng nhận xuất xứ hàng hóa
+ Mục 5: Chứng nhận lưu hành tự do
+ Mục 6 : Biện pháp quản lý ngoại thương khác
+ Mục 7: Biện pháp quản lý ngoại thương với các nước có chung đường biên giới
+ Mục 8 : Quản lý hàng hóa đối với khu hải quan riêng
- Chương III - Các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch: gồm Điều (Điều đến Điều ) Chương này gồm 3 mục với các nội dung sau đây:
+ Mục 1: Áp dụng các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch
+ Mục 2: Kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Chương IV - Các biện pháp phòng vệ thương mại: gồm Điều (Điều đến Điều ) Chương này gồm 4 mục với các nội dung sau đây:
+ Mục 1: Quy định chung
+ Mục 2: Biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
+ Mục 3 : Biện pháp chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
+ Mục 4 : Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam
- Chương V - Kiểm soát khẩn cấp trong hoạt động ngoại thương: gồm 3 Điều (từ Điều đến Điều )
- Chương VI – Các biện pháp hỗ trợ hoạt động ngoại thương: gồm Điều (từ Điều đến Điều )
- Chương VII - Giải quyết tranh chấp: gồm 4 Điều (từ Điều đến Điều )
- Chương VIII – Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm : gồm 2 Điều (từ Điều đến Điều )
Trang 8- Chương IX - Điều khoản thi hành: gồm 2 Điều (Điều và Điều ) Chương này quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
3 Những nội dung cơ bản của Luật
3.1 Chương I - Những quy định chung
Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, các nguyên tắc quản lý nhà nước về ngoại thương và áp dụng Luật
và độc quyền nhà nước trong hoạt động ngoại thương Trong đó, các nội dung
có sự thay đổi căn bản đối với quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể như sau:
a) Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Do dự án Luật Quản lý ngoại thương được xây dựng theo mô hình luật công nên dự thảo Luật điều chỉnh chủ yếu:
(1) Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương bao gồm các biện pháp quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương (các biện pháp hành chính; các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch, khẩn cấp, phòng vệ thương mại, hỗ trợ hoạt động ngoại thương…) có liên quan đến mua
bán hàng hóa quốc tế;
(2) Không điều chỉnh các hoạt động cụ thể của thương nhân, giữa các thương nhân với nhau;
(3) Chỉ điều chỉnh đối tượng là hàng hóa, không điều chỉnh đối tượng dịch vụ;
(4) Đối tượng áp dụng chính là cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, thương nhân (điều này khác
cơ bản với Luật Thương mại 2005 trong đó đối tượng áp dụng chỉ là thương nhân)
b) Về nguyên tắc quản lý nhà nước về ngoại thương
Căn cứ quan điểm chỉ đạo, chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ cũng như để phù hợp với xu thế hội nhập sâu rộng của nền kinh tế vào nền kinh
tế khu vực và thế giới, dự án Luật đã làm rõ các nguyên tắc sau: (1) bảo đảm tuân thủ cam kết quốc tế; (2) thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển xuất khẩu; (3) Đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng về quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân
c) Về nguyên tắc áp dụng Luật
Trang 9Do hoạt động ngoại thương được điều tiết bởi một lượng không nhỏ pháp luật chuyên ngành, Dự thảo Luật đã đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật của các
cơ quan quản lý nhà nước cũng như thương nhân
Một trong những nguyên tắc quan trọng là liên quan đến áp dụng Luật này
và các Luật chuyên ngành khác trong quản lý hoạt động ngoại thương Dự thảo Luật quy định tôn trọng tính chuyên ngành của các biện pháp kiểm dịch, kỹ thuật và thẩm quyền của các cơ quan khác nhau đã quy định rõ trong Luật Ngược lại, Dự thảo quy định rõ đối với các trường hợp còn lại thì việc xây dựng,
áp dụng các biện pháp quản lý ngoại thương thực hiện theo quy định của Luật này Việc quy định như vậy thể hiện sự điều hành tập trung, thống nhất trong quản lý hoạt động ngoại thương của Chính phủ nhưng vẫn đảm bảo tính chuyên ngành, kỹ thuật của các pháp luật có liên quan
Đối với các quy định về thuế, do Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một hệ thống các văn bản rất chặt chẽ, chi tiết liên quan đến lĩnh vực thuế (trong đó có
01 Luật riêng về thuế xuất khẩu, nhập khẩu) nên nội dung quy định của pháp luật về thuế được thực hiện theo hệ thống pháp luật đó Tuy nhiên, riêng đối với việc áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu như một trong những biện pháp phòng
vệ thương mại, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng thực hiện theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đã được thể chế hóa theo quy định của Dự thảo Luật này Do vậy, các biện pháp phòng vệ bằng công cụ thuế thực hiện theo quy định của Luật này
Đối với quy định về thủ tục hải quan, Quốc hội đã ban hành Luật Hải quan 2014 và Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Do liên quan đến nghiệp vụ của cơ quan Hải quan, dự thảo Luật cũng
đã đưa ra nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật của hải quan
Đối với các quy định về hoạt động ngoại thương, chính sách ngoại thương với các khu hành chính – kinh tế đặc biệt (đặc khu), Dự thảo Luật cũng có quy định loại trừ việc áp dụng để tạo điều kiện cho các chính sách đặc thù được cơ quan có thẩm quyền ban hành sau này
d) Về độc quyền nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương
Luật quy định độc quyền Nhà nước trong hoạt động ngoại thương được thực hiện thông qua việc cơ quan Nhà nước tự thực hiện hoặc thông qua thương nhân do Nhà nước chỉ định Theo đó, nguyên tắc chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đối với những hàng hóa thiết yếu mà nhà nước cần phải độc quyền với Danh mục hàng hóa cụ thể quy định tại Luật Việc thực hiện
Trang 10quy định này phải phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên
đ) Về quyền tự do kinh doanh xuất nhập khẩu
Trong bối cảnh, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lần đầu tiên, Luật đã khẳng định quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân chỉ bị hạn chế nếu thuộc các trường hợp mà Luật này cấm hoặc tạm ngừng Riêng đối với đối tượng là thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, Luật quy định quyền, nghĩa vụ của các đối tượng này theo đúng các cam kết trong các điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên
đ) Trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương
Dự thảo Luật quy định các nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương theo đó giao nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho Bộ Công Thương, các Bộ, Chính quyền địa phương phù hợp với các biện pháp quản lý quy định trong Luật này
3.2 Chương II - Các biện pháp hành chính
Đây là nội dung rất quan trọng liên quan đến chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam Dự thảo Luật quy định rõ các biện pháp áp dụng trong quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam Các biện pháp này là việc thể chế hóa yêu cầu tại Quyết định 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời
kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 và Quyết định số 1233/QĐ-TTg ngày 03/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án quản lý nhập khẩu đến năm 2020 phù hợp với cam kết quốc tế Cụ thể các biện pháp như sau:
a) Biện pháp cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu
Đối với biện pháp cấm quy định nguyên tắc xác định Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu theo đó việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa chỉ
áp dụng đối với các trường hợp liên quan đến hàng hóa an ninh, quốc phòng không có giấy phép, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục, môi trường, sức khỏe cộng đồng Các nguyên tắc này về cơ bản phù hợp với quy định của WTO và chính sách quản lý xuất nhập khẩu hiện nay Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng quy định rõ một số trường hợp ngoại lệ đối với hàng hóa cấm xuất nhập khẩu như xuất nhập khẩu vì mục đích (nghiên cứu khoa học, thử nghiệm ), xuất nhập khẩu đối với các khu phi thuế quan Hơn nữa, để đáp ứng nguyên tắc công khai, minh bạch