1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập học kì 1 môn GDCD 10

4 3,7K 61

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 49,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Cách thức biến đổi của lượng +Lượng biến đổi trước so với chất: Ví dụ: Khi đun nước, nước lúc đầu ở thể lỏng, tăng dần nhiệt độ trước lượng biến đổi đến 100 o C thì biến thành thể hơi

Trang 1

Đề cương công dân

1 Thế nào là lượng? Cách thức biến đổi của lượng và vai trò biến đổi của lượng?

- Lượng: là khái niệm dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản, vốn có của sự vật và hiện tượng; biểu thị trình độ phát triển (cao, thấp), quy mô (lớn, nhỏ), tốc độ vận động (nhanh, chậm), số lượng (ít, nhiều)… của sự vật hiện tượng

Ví dụ

-Đối với mỗi phân tử nước, lượng là số nguyên tử tạo thành nó, tức 2 nguyên tử hidro và 1 nguyên tử oxi.

-Cách thức biến đổi của lượng

+Lượng biến đổi trước so với chất:

Ví dụ: Khi đun nước, nước lúc đầu ở thể lỏng, tăng dần nhiệt độ trước (lượng biến đổi) đến

100 o C thì biến thành thể hơi (chất biến đổi)

+Lượng biến đổi dần dần theo hướng tăng dần hoặc giảm dần

Ví dụ: Khi đun sôi nước: nhiệt độ nước tăng một cách từ từ đến 100 0 C

Khi làm lạnh, nhiệt độ nước giảm một cách từ từ xuống 0 0 C

-Vai trò:

+Lượng biến đổi là cơ sở tất yếu cho chất biến đổi

Ví dụ: Nước đang ở thể lỏng, nếu không đun nước làm nước tăng dần nhiệt độ lên 100 o C thì nước không thể biến thành thể hơi.

Nước đang ở thể lỏng, nếu không làm lạnh làm nước giảm dần nhiệt độ xuống 0 o C thì nước không thể biến thành thể rắn.

+Lượng luôn luôn gắn liền và thống nhất với chất, không có chất và lượng thuần túy.

Ví dụ: Nếu một chất là nước thì có khối lượng riêng là 1.000 kg/m³, nhiệt độ sôi 100 o C, công thức phân tử là H 2 O.

+Lượng biến đổi phải đạt đến một điểm nút thì chất mới biến đổi.

Ví dụ: Khi đun nước, nước lúc đầu ở thể lỏng, tăng dần nhiệt độ trước đến 100 o C thì biến thành thể hơi, như vậy 100 o C gọi là điểm nút Nếu đun nước mớ chỉi tăng nhiệt độ đến 50 0 C (chưa đạt đến điểm nút) thì nước vẫn ở thể lỏng, chưa biến đổi về chất

2 Thế nào là chất? Cách thức biến đổi của chất và vai trò biến đổi của chất?

-Chất: là một khái niệm dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản, vốn có của sự vật, hiện tượng, tiêu biểu cho sự vật, hiện tượng đó, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác

Ví dụ: Chất của đường là các thuộc tính tan trong nước, dạng tinh thể, màu trắng, có vị

ngọt Chất của muối là các thuộc tính Tan trong nước, dạng tinh thể, màu trắng, có vị mặn

Con người nhận biết được những thuộc tính trên của muối và đường thông qua các cơ quan cảm giác Những thuộc tính ấy không phải do con người sắp đặt mà nó là những thuộc tính vốn có của muối và đường Con người nhận biết các thuộc tính vốn có của muối và đường

để phân biệt muối và đường với nhau, hoặc với các chất khác.

-Cách thức biến đổi của chất:

+Chất biến đổi sau so với lượng

Ví dụ: Nước lúc đầu ở thể lỏng, muốn nước thì biến thành thể hơi (chất biến đổi) thì trước đó phải đun nước để nước tăng dần nhiệt độ đến 100 o C (lượng biến đổi)

+ Chất biến đổi một cách nhanh chóng, tức thì

Trang 2

Ví dụ: Khi đun nước đến đúng 100 o C(điểm nút) thì nước đang ở thể lỏng nhanh chóng biến thành thể hơi

-Vai trò:

+Chất biến đổi kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng:

Ví dụ: Khi đun nước đến 100 o C, nước từ thể lỏng biến đổi sang thể hơi, thì cứ đun mãi thì nước vẫn ở 100 0 C

+Chất mới ra đời thay thế chất cũ, dẫn đến sự vật hiện tượng mới ra đời thay thế cho sự

vật hiện tượng cũ

Ví dụ: Nước ở thể lỏng có khối lượng riêng, tốc độ vận động của các phân tử khác với nước ở thể hơi, rắn

+Chất mới ra đời là điểm nút trong cả một quá trình vận động của sự vật hiện tượng

Ví dụ: Đun nước tăng nhiệt độ đến 100 0 C (điểm nút) thì từ thể lỏng biến đổi thành thể hơi, kết thúc quá trình tăng nhiệt độ của nước.

3 Vận dụng quy luật biến đổi chất -lượng vào trong học tập và trong thực tiễn?

-Trong học tập: Điểm môn anh của em chỉ hơn 6 điểm (khá) Muốn đạt kết quả cao hơn, thì em

phải tích lũy dần dần lượng kiến thức bằng cách: mỗi ngày học thuộc 20 từ mới, làm nhiều bài tập tiếng anh, luyện nói trước gương, thường xuyên nghe các chương trình bằng tiếng anh…Lần kiểm tra tới em sẽ lên 8 điểm(giỏi) Như vậy, chât đã thay đổi từ khá lên giỏi nhờ lượng là kiến thức tích lũy đã tăng lên đến một độ cần thiết

- Trong cuộc sống: Nếu muốn nước từ thể lòng biến thành thể hơi thì phải đun nước để nước tăng dần nhiệt độ đến 1000C, ở nhiệt độ đó nước biến thành thể hơi Còn nếu muốn nước từ thể lòng biến thành thể rắn thì phải làm lạnh nước để giảm dần nhiệt độ đến 00C, ở nhiệt độ đó nước biến thành thể rắn

4 Em hiểu thế nào là nhận thức? VD? (có thể lấy ví dụ trong SGK)

-Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn, quá trình nhận thức diễn ra rất phức tạp, gồm 2 giai đoạn:

nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính

+Nhận thức cảm tính là giai đoạn nhận thức được tạo nên do sự tiếp xúc trực tiếp của các

cơ quan cảm giác với sự vật, hiện tượng, đem lại cho con người hiểu biết về các đặc điểm bên ngoài của chúng

Ví dụ: Khi quả cam tác động vào các cơ quan cảm giác: nhìn thấy quả cam có màu cam, hình cầu; tay sờ biết được vỏ quả cam nhẵn; nếm thấy vị chua.

+Nhận thức lí tính là giai đoạn nhận thức tiếp theo, dựa trên các tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại, nhờ các thao tác của tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá,… tìm

ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Nhờ đi sâu phân tích, người ta biết cách trồng cam để có màu sắc, vị,… đạt năng suất cao nhất; ngoài ra còn tạo ra các sản phẩm như các loại kẹo từ quả cam.

- Như vậy, nhận thức là quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan vào bộ óc của con người, để tạo nên những hiểu biết về chúng

Ví dụ: Từ hiện tượng quả táo rơi (nhận thức cảm tính), Newton đã đi đến phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn (nhận thức lý tính)

5 Vai trò của thực tiễn đố với nhận thức? Chứng minh?

a, Thực tiễn là cơ sở của nhận thức

Trang 3

-Mọi nhận thức của con người đều bắt nguồn từ thực tiễn, do có sự tiếp xúc, tác động vào sự vật, hiện tượng mà con người phát hiện ra được thuộc tính và hiểu được bản chất, quy luật vận động của chúng

Ví dụ: Toán học ra đời dựa trên sự tính toán, đo đạc ruộng đất…

-Thông qua hoạt động thực tiễn, các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, Vì vậy, nhận thức về sự vật, hiện tượng ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn

Ví dụ: Khi biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, bàn tay con người trở nên khéo léo hơn, tư duy phát triển hơn.

b, Thực tiễn là động lực của nhận thức:

-Thực tiễn luôn luôn thay đổi và vận động Vì vậy, nó thúc đẩy nhận thức mới ra đời để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn

Ví dụ: Khi dịch bệnh mới ra đời, việc này đã đặt ra yêu cầu y học tìm ra thuốc để phòng chống, chữa bệnh dịch.

c, Thực tiễn là mục đích của nhận thức:

-Các tri thức khoa học chỉ có giá trị đích thực khi nó được vận dụng vào thực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã hội

Ví dụ: Phát minh khoa học của con người được đưa vào hoạt động thực tiễn làm ra của cải vật chất cho xã hội.

Học sinh tiếp thu kiến thức khoa học của nhân loại để vận dụng nó vào thực tế cuộc sống.

d, Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí:

*Chân lí là những tri thức phù hợp với sự vật hiện tượng mà nó phản ánh và đã được thực tiễn kiểm nghiệm

-Tri thức của con người về sự vật hiện tượng có thể đúng đắn hoặc sai lầm, chỉ có đem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới đánh gia được tính đúng đắn và sai lầm của chúng Việc vận dụng tri thức vào thực tiễn còn có tác dụng bổ sung, hoàn thiện những nhận thức chưa đầy đủ

Ví dụ: Thuyết Nhật tâm của Copecnic cho rằng TĐ quay xung quanh MT, Galile đã kiên trì quan sát bầu trời qua kính thiên văn và khẳng định điều đó là đúng, ông còn bổ sung: MT tự quay quanh trục của nó.

Nghiên cứu thuốc trị bệnh H5N1, để đưa vào sản xuất và sử dụng rộng rãi thì trước tiên người ta phải thử nghiệm ở chuột để xem còn thiếu sót gì không rồi bổ sung và thay đổi cho thích hợp sau đó mới áp dụng ở người

6 Vận dụng kiến thức bài học: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức để giải thích các nguyên lí, các câu ca dao tục ngữ?

* Đi một ngày đàng học một sàng khôn: “Đi một ngày đàng” tức là càng đi nhiều thì càng tiếp thu được nhiều lượng kiến thức, “học một sàng khôn” nghĩa là khi học tập, không phải sao chép hết những gì học mà phải biết chắt lọc qua nhận thức con người, tích lũy nhiều kinh nghiệm, biết học những điều bổ ích, đúng đắn vận dụng thực tế để tránh mắc nhiều sai lầm, ít bị vấp ngã

Ví dụ: Người luôn ra ngoài tiếp xúc với xã hội, học hỏi nhiều, biết tích lũy tri thức thì kiến thức

mở mang, học vấn cao, sau này họ sẽ đạt được nhiều thành quả Còn người chỉ biết ở một nơi,

ít giao lưu với xã hội thì kiến thức hạn hẹp, ít kinh nghiệm dẫn đến dễ mắc phải sai lầm trong cuộc sống.

Trang 4

* Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội:

-Học đi đôi với hành: học là quá trình tiếp thu kiến thức, hành là vận dụng kiến thức ấy vào thực hành, thực tế Học phải đi đôi với hành vì học tập là hoạt động nhận thức, chiếm lĩnh

có hệ thống tri thức, thái độ và thói quen do loài người đã đúc kết được trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên và hoạt động xã hội Điều đó cho thấy học không chỉ nhằm mục đích nắm được lí thuyết mà điều quan trọng là tiếp thu kinh nghiệm của loài người, biến chúng thành nhận thức, kinh nghiệm, kỉ năng, thái độ của mình Cho nên học phải đi đôi với hành Mặt khác học có đi đôi với hành thì mới kiểm nghiệmđược tính đúng, sai và giá trị đích thực của tri thức

đã tiếp nhận được

Ví dụ: Việc học sinh thực hành ghép cành giúp học sinh nắm vững được các bước ghép cành so với chỉ học lí thuyết suông, ngoài ra còn giúp chỉnh sửa những nhận thức sai về trong quá trình ghép cây, rèn kĩ năng ghép cây hoàn chỉnh.

- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất: vì lao động sản xuất là hoạt động cơ bản của thực tiễn, nó là nguồn gốc, động lực của nhận thức là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lí Học để tiếp thu tri thức, rồi cống hiến cho lao động sản xuất Khi chúng ta được giáo dục, chúng ta sẽ biết sàng lọc kiến thức tiếp thu được và biết vận dụng chúng vào thực tiễn cho đúng

Ví dụ: Một trong những phương pháp xử lý hạt giống lúa để phòng trừ bệnh lúa von là “ba sôi hai lạnh” Nếu chưa được giảng giải kĩ thì ta có thể hiểu sai là lấy hạt giống ngâm ba lần nước sôi, rồi đem ngâm hai lần nước lạnh, cách này sẽ làm hạt giống chết Nhưng khi được giảng giải kĩ càng, ta sẽ hiểu được cách thực hiện phương pháp này: Lấy ba phần nước sôi trộn với 2 phần nước lạnh để được phần nước có nhiệt độ thích hợp để ngâm hạt thóc.

- Nhà trường gắn liền với xã hội :Nhà trường phải gắn liền với xa hội để đáp ứng nhu cầu của người học , của xã hội Nhà trường là nơi học sinh học tập, trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng Còn xã hội giúp họ trang bị nghề nghiệp, nơi vận dụng những kĩ năng ấy, biến những kiến thức đã học thành thực tiễn, để đạt năng suất cao

Ví dụ: Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, học sinh rèn luyện được đức tính kiên trì, nhẫn nại Sau này khi làm bất cứ việc gì thì họ cũng sẽ bình tĩnh xem xét lại sự việc để tìm ra cách giải quyết đúng đắn.

Ngày đăng: 01/10/2017, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w