1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích tình cha con trong bài thơ "Nói với con"

2 18K 118
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tình cha con trong bài thơ Nói với con
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo môn học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 14,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ nh là một khúc tâm tình của ngời cha, thể hiện lòng yêu thơng con của ngời miền núi và mong ớc thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hơng.. Tác giả đã có cách gọi

Trang 1

Phân tích tình cha con trong bài thơ Nói với con, Ngữ văn 9, tập II

Thơ Y Phơng hồn nhiên mà trong sáng, chân thật mà mạnh mẽ nh một bức tranh thổ cảm đan dệt những sắc màu phong phú và đa dạng, nhng trong đó luôn có một màu sắc chủ đạo, là bản sắc dân tộc đậm nét và độc đáo Nói với con là một bài thơ hay của nhà thơ Bài thơ nh là một khúc tâm tình của ngời cha, thể hiện lòng yêu thơng con của ngời miền núi và mong ớc thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hơng

Xa nay, tình cha con luôn là một tình cảm thiêng liêng cao đẹp Yêu thơng con, ngời cha luôn có rất nhiều điều muốn nói với con Trong bài thơ, điều đầu tiên ngời cha muốn nhắc nhở con của mình, đó là cội nguồn hạnh phúc của con ngời chính là gia

đình, quê hơng Ngay từ bốn câu thơ đầu, tác giả đã gợi ra một hình ảnh gia đình đầm

ấm hạnh phúc Ngời con chập chững bớc từng bớc đi trong mái ấm gia đình ấy Cách liệt kê “chân phải”, “chân trái”, “một bớc”, “hai bớc” khiến ta hình dung những bớc đi của đứa con nhỏ Cả ngôi nhà rung lên những tiếng cời của cha, của mẹ, của con Rồi ngời con khôn lớn trởng thành dần trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và trong nghĩa tình sâu nặng của quê hơng Tác giả đã có cách gọi độc đáo về những con ngời quê hơng, một cách gọi thật gần gũi thân thơng “ngời đồng mình”

Cách gọi ấy lại gắn liền với lời tâm tình rất tha thiết của cha với con “Ngời đồng mình yêu lắm con ơi” Ngời cha đã lí giải để con có thể hiểu đợc “ngời đồng mình” đáng

yêu thế nào Họ sống rất đẹp, trong căn nhà của họ bao giờ cũng vang vọng tiếng hát:

“Đan lờ cài nan hoa/ Vách nhà ken câu hát” Các động từ “cài”, “ken” gây cảm giác

quấn quýt thân thơng, gợi một cuộc sống lao động êm đềm, vui tơi trong cảnh quê hơng giàu đẹp nghĩa tình:

Rừng cho hoa

Con đờng cho những tấm lòng

Cách nhân hoá “rừng”, “con đờng” cho ta cảm nhận thiên nhiên quê hơng nh ngời

mẹ đã che chở, nuôi dỡng tâm hồn đẹp đẽ của con ngời

Đoạn thơ tiếp theo, ngời cha đã tha thiết nói với con về những phảm chất của con

ng-ời quê hơng Cụm từ “ngng-ời đồng mình” đợc lặp đi lặp lại nhiều lần gây ấn tợng về hình

ảnh con ngời quê hơng Lời gọi con thật thiết tha, lời nhắn nhủ thật chân tình “Ngời

đồng mình thơng lắm con ơi”, ngời cha đã lần lợt ca ngợi những phẩm chất của “ngời

đồng mình” với cách nói cụ thể, mộc mạc và độc đáo của ngời dân tộc miền núi Ngời cha nh giảng giải để cho đứa con hiểu về “ngời đồng mình”: Họ có thể có những nỗi

đau buồn nhng ý chí nghị lực luôn vơn lên “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn” “Ngời

đồng mình chấp nhận gian khó không sợ gian khổ nghèo đói Điều đó đợc thể hiện trong điẹp từ “không chê”, “không lo” và cách nói tha thiết yêu quý tự hào về quê hơng Nói với con về “ngời đồng mình”, ngời cha muốn nhắc nhở con phải sống thuỷ chung với quê hơng, không chê quê hơng dù quê hơng có đói nghèo vất vả Ngời cha tiếp tục nói với con về “ngời đồng mình” sống mạnh mẽ “nh sông nh suối dù có “lên thác xuống ghềnh” với cặp từ trái nghĩa “lên” “xuống” càng nhấn mạnh thêm ý chí của

“ng-ời đồng mình” Dùng những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên nh “sông”, “suối”, “thác”,

“ghềnh” mang tính chất biểu trng cho những khó khăn gian khổ và sức mạnh vợt khó khăn của những con ngời quê hơng là một cách độc đáo để ngời cha tâm sự với con Phẩm chất của những con ngời miền núi còn đợc ngời cha ca ngợi qua cách nói đối

lập tơng phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong: “Ngời đồng mình tuy thô sơ da thịt/ Chẳng có ai nhỏ bé đâu con”.

“Ngời đồng mình” là vậy, không biết nói hay nói khéo, tuy mộc mạc chân chất, tuy

“thô sơ da thịt” nhng phẩm chất cao đẹp của họ, tâm hồn ý chí họ không bao giờ nhỏ

bé Vì thế, trên đờng đời con phải làm những điều lớn lao, con phải sống cao thợng để xứng đáng là “ngời đồng mình” “Ngời đồng mình” xây dựng quê hơng bằng chính sức lực và tính bền bỉ của mình:

Ngời đồng mình tự đục đá kê cao quê hơng Còn quê hơng thì làm phong tục

Việc “đục đá” là khó, đòi hỏi phải có tinh thần ý thức cao, vậy mà “ngời đồng mình”

đã làm đợc để rạng rỡ quê hơng Họ sáng tạo và lu truyền những phong tục tập quán

Trang 2

đẹp Ngời cha đã tâm sự, đã truyền cho con mình vẻ đẹp, sức mạnh truyền thống quê

h-ơng

Kết thúc bài thơ là lời dặn, lời khuyên của ngời cha đối với con Đó là lời gọi trìu mến, lời nhắn nhủ thiết tha Điều ngời cha dặn con thật ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc

Con ơi tuy thô sơ da thịt/ Lên đ

ờng/ Không bao giờ nhỏ bé đợc/ Nghe con ” Ngời cha muốn nhắc nhở con là phải biết tự hào về những truyền thống quê hơng, sống sao cho

đẹp, xứng đáng với những phẩm chất của “ngời đồng mình” và phải tự tin vững bớc trên

đờng đời, phải nhớ về cội nguồn dinh dỡng, cội nguồn quê hơng đất nớc Đó là cái lôi nuôi dỡng con ngời khôn lớn trởng thành Thể thơ tự do, nhịp điệu lúc bay bổng nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ đã tạo ra sự cộng hởng hài hoà với những thang bậc tình cảm khác nhau khiến lời ngời cha truyền thấm sang con

Những phơng tiện ngôn ngữ, những hình thức diễn đạt của ngời miền núi đã góp công lớn trong việc diễn tả tình cảm yêu thơng con của ngời cha Bài thơ đã góp phần tạo nên một tiếng nói riêng độc đáo về tình cảm gia đình, tình cảm quê hơng trong làng thơ Việt Nam

(Cao Thị Huyền Trang Lớp 9H – THCS Cửa Nam – TP.Vinh – Nghệ An)

Ngày đăng: 17/07/2013, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w