1. Trang chủ
  2. » Tất cả

DE CUONG BAO CAO TOT NGHIEP

51 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 340,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Melanorrhoea laciféra, được trồng nhiều ở Lào, Thái LanĐiện, thành phần chính của nhựa sơn là Usitata.Theo lời dẫn của Đỗ Ngọc Quỹ 1986 ở Việt Nam, Carl Von Linnes là người đầutiên xác

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sơn là một loại cây được trồng được con người khai thác và

sử dụng từ thời xa sưa Sơn không những có công dụng trong dược liệu như: Rễ Sơn chữa Hen, viêm gan, đau dạ dày Mà cây sơn còn có giá trị trong công nghiệp như: Nhựa sơn dùng để sản xuất các mặt hàng Công nghiệp và Thủ công nghiệp như: Đồ thờ, sơn mài, sơn dầu

Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cũng là một trong những huyện đi dầu về trồng và khai thác sơn, tuy nhiên người dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang canh tác và khai thác sản phẩm cây sơn theo lối canh tác truyền thống, không hiệu quả.

Nhận thấy được vài trò và tầm quan trọng của cây Sơn nên

tôi mạnh giạn thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân khoáng đến sự sinh trưởng của cây Sơn ta ở các

độ tuổi khác nhau tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang” Do hoành cảnh và thời gian có hạn nên đề tài của tôi

không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Học viên

Nguyễn Thị

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sơn (Rhus succdanea) là cây lấy nhựa để sử dụng nhựa câysơn để làm sơn quang dầu đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời,ngày nay tranh sơn mài, đồ mỹ nghệ đều sử dụng nhựa sơn đểpha chế Nhựa sơn ngày nay được sử dụng trong các ngành côngnghiệp đồ gỗ, công nghiệp giao thông đường thuỷ, thủ công mỹnghệ, hội hoạ Nghề trồng sơn đã có từ lâu đời ở nước ta và sơncũng được trồng ở một số nước trên thế giới nhưng chỉ có cây sơnViệt Nam trồng ở đất Phú thọ là có giá trị nhất, cây sơn đã tạonên một nét riêng cho Phú Thọ và đã tạo nên nét độc đáo tại ViệtNam Cây sơn Phú Thọ còn gọi là cây sơn ta đã được biết đến nhưnét riêng của Phú Thọ Hiện nay diện tích sơn ở Việt Nam vàokhoảng 700 ha tập chung Chủ yếu ở tỉnh Phú Thọ, ngoài ra sơncũng được trồng ở một số tỉnh như Tuyên Quang, Hà Tây, Yên Bái mới đây cây sơn Phú Thọ đã được đưa lên trồng tại Nà Pặc tỉnhBắc Cạn nhưng với diện tích không đáng kể Riêng tỉnh Phú Thọdiện tích trồng sơn của tỉnh là 566,3ha chiếm 4,44% diện tíchcây công nghiệp lâu năm Những năm gần đây diện tích sơn củatỉnh Phú Thọ liên tục tăng, nếu năm 2001 diện tích sơn là 386 hanăm 2004 là 499,1 ha thì đến năm 2005 diện tích là 566,3 hatăng 8,8% so với năm 2004 Song, thực tế cây sơn vẫn đang pháttriển tự phát và được trồng trọt theo kinh nghiệm dân gian Xu

Trang 3

hướng nhu cầu nhựa sơn để xuất khẩu và sử dụng trong nướcđang gia tăng, nhiều địa phương thuộc vùng Trung du Bắc Bộ,người dân bắt đầu tìm kiếm và tự phát trồng sơn Để kịp thờihướng dẫn kỹ thuật canh tác bền vững cây sơn ta trên đất đồivùng Trung du theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung theovùng cần phải đánh giá tuyển chọn cây đầu dòng làm vật liệu đểghép và nhân giống cũng như nghiên cứu các biện pháp kỹ thuậtnhằm xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cây sơn vừa đảm bảophát huy được tiềm năng sinh học của cây lấy nhựa mủ vừa đảmbảo bền vững về sinh thái theo hướng bảo tồn tài nguyên đất đaicủa vùng Trung du Bắc Bộ là rất cần thiết Xuất phát từ thực tế

trên, chúng tôi đã tiến hành thực hện đề tài: “Nghiên cứu ảnh

hưởng của bón phân khoáng đến sự sinh trưởng của cây Sơn ta ở các độ tuổi khác nhau tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang”.

1.2 Mục đích và yêu cầu đề tài

1.2.1 Mục đích

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón khoáng đến sự sinhtrưởng của cây sơn ta ở các độ tuổi khác nhau nhằm xác địnhđược loại phân bón, nồng độ bón,thời gian bón thích hợp để đạtđược hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được ảnh hưởng của phân bón khoáng tới từng

độ tuổi khác nhau của cây sơn ta

-Tìm ra được nồng độ thích hợp nhất cho từng độ tuổi

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 4

- Xác định cơ sở khoa học về ảnh hưởng của nồng độ và thờiđiểm bón phân khoáng thích hợp cho cây sơn ở các độ tuổi khácnhau.

- Góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật chăm sóc cây sơn

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao cho sản xuất.

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được nồng độ bón phân khoáng cho cây sơn ở các

độ tuổi khác nhau

- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao năng suất sơn từ

đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng sơn

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc, phân loại

2.1.1 Nguồn gốc

Cây sơn có nguồn gốc ở tiểu lục địa Ấn Độ (tức làBhutan, Nepal, miền Bắc Ấn Độ và miền bắc Pakistan) và Đông Á(Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Campuchia, Lào, Myanmar,Thái Lan, Việt Nam và phía Tây Indonesia)

Trên thế giới cây sơn dại được phát tại Thái Lan, MiếnĐiện, Trung Quốc, Ấn Độ ,Nêpan, và Nhật Bản Việt Nam vàTrung Quốc là hai nước sản xuất nhiều sơn trên thế giới [16],[17] Theo nghiên cứu của H.lecomte và Pierre Domart, cây sơnmọc ở Phú Thọ có tên khoa học là Rhus succedanea linne vardumoutieri Cây sơn của miền nam – Việt Nam và Campuchia có

Trang 5

tên là melanorrea laccifera pierre Hai giống Sơn này khác giốngsơn Nhật Bản-rhus ver- nicifera D.C

- Đỗ Ngọc Quỹ cũng cho biết (1986) cây sơn phát triểnnhiều ở Mông Cổ, Trung Quốc, Hi-ma-lay-a, Ấn Độ, Nhật Bản, Giava- Inđonexia, Lào, Việt Nam [10],

- Carl von linnes là người đầu tiên xác định tên khoa họccho cây sơn Phú Thọ là Rhus succedanea lin, tiếp theo đó các nhàthực vật học như H lecomte, cresvost lemarie, prerre domart,tardieu blot đã định tên và phân loại cây sơn Phú Thọ nhưsau[15], [16], [17], [18]:

Tên khoa học:Toxicodendron Succedanea(L) Moldenke =

Rhus succedanea (Linne)

Ngành ngọc lan (hạt kín) angisperma

Lớp ngọc lan (hai lá mầm) dicotyleonae

Bộ cam butale

Họ đào lộn hột anacardiaceae L

2.1.2 Phân loại cây sơn

Theo kết quả nghiên cứu của R Lu, Yoshimi Kamiya, et al.,(2007)

trên thế giới, cho đến nay người ta đã biết đến 4 loài sơn tự nhiênđược trồng ở các nước:

- Rhus verniciféra, được trồng nhiều ở Nhật Bản, TrungQuốc, Hàn Quốc thành phần chính của nhựa sơn là Urushiol

- Rhus succedanea, được trồng ở Việt Nam thành phần

nhựa sơn là Laccon

- Melanorrheoa, được trồng nhiều ở Myanmar, Lào,Thailand,

Cambodia, thành phần chính của nhựa sơn là Thisiol

Trang 6

- Melanorrhoea laciféra, được trồng nhiều ở Lào, Thái Lan

Điện, thành phần chính của nhựa sơn là Usitata.Theo lời dẫn của

Đỗ Ngọc Quỹ (1986) ở Việt Nam, Carl Von Linnes là người đầutiên xác định tên khoa học cho cây sơn là Rhus succedaneaLin;tiếp theo đó các nhà thực vật học như Võ Văn Chi và Dương ĐứcTiến (1978), Phạm Hoàng Hộ (2001), Lê Huyên (1995), đã nghiêncứu để định tên và phân loại cây sơn như sau: ToxicodendronSuccedanea(L) Moldenke = Rhus succedanea (Linne) Thuộcngành Ngọc Lan (hạt kín) (Angispermae), lớp Ngọc Lan (hai lámầm, Dicotyleonae), bộ Cam (Butales) Họ đào lộn hộtAnacardiaceae L Chi Rhus, loài Succedanea Chi Sơn(ToxicodendronMill.) có quan hệhọhàng gần gũi với chi Muối(RhusL.) trong họXoài (Anacardiaceae) Tuy nhiên, chúng cũng cónhững đặc điểm khác nhau

rất rõ về hình thái, nhưquả ởcác loài trong chi Sơn(Toxicodendron) thường nhẵn, hạt phấn nhỏvà nhựa có độc tínhcao Sơn - Toxicodendron succedanea(L.) Mold

Ở nước ta, chi Sơn (Toxicodendron) có 2 loài: Sơn(Toxicodendron succedanea) và Sơn thái (T rhetsoides(Craib)Tardien) Loài Sơn (T succedanea) khá đa dạng; căn cứvào cácđặc điểm vềhình thái lá, người

trồng sơn thường chia làm 2 giống - (cultivar.):

- Sơn lá si: lá nhỏ, màu xanh lục Cây cho nhựa ít, nhưng cóchất lượng tốt Nhựa chảy đều và thời gian cho nhựa dài

- Sơn lá trám: lá to, màu xanh nhạt Cây cho nhựa nhiềuhơn so với dạng sơn lá si

Trang 7

2.2 Đặc điểm sinh vật học của cây sơn tự nhiên

2.2.1 Hình thái

Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 4-6(-10)m; vỏ thân có 2 lớp; lớpngoài dày hoặc mỏng tuỳ thuộc vào từng giống cũng như điềukiện môi trường sống (trung bình khoảng 3-5mm); lớp trong gồmrất nhiều ống dẫn nhựa Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, dài(1,5-)8-27cm; thường gồm (5-)7-9 lá chét, hình trái xoan thuônhay hình mác; kích thước 3-8x1,3-2,5cm; đầu thuôn nhọn; gốchình nêm, lệch; mép nguyên Cụm hoa dạng chuỳ, mọc ở kẽ lá,dài tới 20-24cm Hoa lưỡng tính, màu trắng kem; đài hợp 5 răng;

5 cánh hoa dạng hình trứng hoặc hơi thuôn; nhị 5, chỉ nhị mảnh;bầu gần hình cầu, nhẵn Quả hạch, hình cầu hoặc hình cầu dẹt,đường kính 5-8mm; khi chín có màu vàng nhạt, nhẵn bóng

2.2.2 Đặc điểm sinh học

Sơn là loài có biên độ sinh thái rộng, phân bố ở nhiều khuvực từ vùng Đông Á, Đông Nam Á tới Nam Á Trong tựnhiên, cóthể gặp sơn mọc rải rác trong rừng thưa ở độcao dưới 1.500m.Cây ưa khí hậu nóng, ẩm; nhiệt độtrung bình khoảng 20-300C làthích hợp nhất cho sinh trưởng của cây Song sơn cũng có thểchịuđược nhiệt độnóng tới 38-390C và nhiệt độlạnh tới 4-50C,câysinhtrưởng chậm và rụng lá vềmùa đông Cây ưa sáng, sinh trưởngởnơi quang đãng, được chiếu sáng đầy đủ cành lá mới xum xuê,vỏdày và sơn sẽcho nhiều nhựa Nắng còn làm tăng phẩm chấtnhựa sơn; chích nhựa vào ngày nắng ráo, nhựa sơn đỏ đẹp và cónhiều dầu

Sơn là cây ưa ẩm Tại các khu vực trồng sơn có truyềnthống ởPhú Thọ, lượng mưa trung bình hàng năm thường đạtkhoảng 2.000mm Sơn sinh trưởng tốt và cho nhiều nhựa vào các

Trang 8

tháng có mưa, độ ẩm không khí cao và nắng nhiều Sơn chịu hạn,nhưng không chịu ngập úng Đất trồng sơn cần tơi, xốp, nhiềumùn và chua (pH 4,5-5,5) Đất rừng mới khai phá, đất sau nươngrẫy, đất đỏ, đất pha cát nhẹ, sâu, dày, tơi, xốp, nhiều màu, đủ

ẩm, thoát nước tốt, chua rất thích hợp cho sinh trưởng của sơn

Bộ rễ của sơn ăn nông, nên cây dễ bị đổ do gió to hoặc bão

Sơn là cây sinh trưởng, phát triển nhanh Cây 28-30 thángtuổi, đã đạt chiều cao khoảng 2m, bắt đầu ra hoa, kết quảvà chothu hoạch nhựa Mùa hoa tháng 3-4, mùa quảtháng 8-9 Khi cây

ra hoa, mang quả thường ít nhựa Hoa quả càng nhiều nhựa càngít

2.2.3 Thành phần hóa học

Trong thân, lá, cuống lá đều chứa nhựa mủ Nhựa mủsơnsau khi thu vềchứa khoảng 44-45% urushiol (chất dầu sơn), 16-18% gôm (chất nhựa), 23-26% nước và 12-13% tạp chất

Thành phần hoá học chủyếu của urushiol là các hợp chấtpentadec(en)yl catechol; ngoài ra còn một lượng nhỏ 3-n-heptadec(en)yl catechol Trong không khí, chúng dễ bị oxy hoá

và trở thành hợp chất có màu đen bóng Lá và quả chứa mộtlượng nhỏ tinh dầu

Trong lá chứa 8-10% tanin với thành phần chủyếu làcorilagin, acid shikimic, rhoifolin, apigenin-7-rhamno-glucosid

Hạt chứa dầu béo (40-44% trong hạt hoặc 54-56% trongnhân) với các acid béo chủyếu là palmitic, oleic và linoleic Tronghạt còn chứa các hợp chất nhóm biflavonoid nhưamentoflavon,agathisflavon, hinokiflavon, robustaflavon, rhusflavon,succedaneaflavon và các acetat như : rhusflavon hexaacetat,succedaneaflavon hexaacetat Các chất biflavonoid đều có hoạttính kháng virus mạnh Những thửnghiệm in vitro cho biết, cáchợp chất robustflavon, hinokiflavon amentoflavon và

Trang 9

agathisflavon có hoạt tính kháng HIV-1.

2.3 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây sơn 2.3.1 Giá trị kinh tế

Sơn là mặt hàng truyền thống của tại các tỉnh Phú Thọ, YênBái, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Hà Tây

Năng suất nhựa có thể đạt 600-1.000 kg/ha năm (tuỳthuộcvào kỹthuật canh tác) Mỗi chu kỳcanh tác, cây thường cho thuhoạch trong 4-5 năm Sau đó phải phá đi đểtrồng lại Trước năm

1945, diện tích trồng sơn ởcác tỉnh Trung Du đã đạt khoảng12.000 ha Năm 1936 khối lượng sơn xuất khẩu từcác tỉnh Trung

Du phía Bắc lên tới 1.936 tấn Hiện nay, sơn vẫn là mặt hàng lâmsản ngoài gỗcó giá trị

Trong nhiều năm qua, một sốdoanh nghiệp vẫn thu mua vàxuất khẩu nhựa sơn sang thị trường Nhật Bản, Hồng Kông và một

số nước khác Nhưng hiện vẫn chưa có số liệu thống kê Giá xuấtkhẩu vào khoảng 6-7 USD/kg tuỳthuộc vào chất lượng nhựa

Sơn là một cây kinh tế có triển vọng nếu được quan tâmnghiên cứu phát triển, tạo dựng thị trường và đa dạng hoá sảnphẩm

2.3.2 Giá trị sử dụng

Nhựa mủ là nguồn nguyên liệu quý, rất cần thiết cho nhiềungành công nghiệp và thủ công nghiệp, như làm đồ mỹ nghệ(sơn,gắn các mặt hàng chắp bằng tre nứa, các sản phẩm thủ công,đồthờ, hàng sơn mài, sơn dầu…), sơn tàu thuyền, sản xuất cácvật liệu cách điện…

Rễ, lá, vỏ, quảdùng chữa trịbệnh hen khan, viêm gan mãntính, đau dạdày, đòn ngã tổn thương, dùng ngoài trịgãy xương,vết thương chảy máu, lao phổi và cảm

Các bộphận của cây đều có độc tính, có thểgây dị ứng sơn

Trang 10

(“sơn ăn”, “lởsơn”) sưng tấy, ngứa ngáy, lởloét… Theo kinhnghiệm dân gian có thể dùng rau dền, lá hoặc quả khế giã nhỏ,xát và đắp vào chỗ sưng đau Cũng có thể dùng lá cây bòn bọt(Glochidion eriocarpum Champ.) đun sôi rồi xông và rửa hoặcdùng vỏ cây núc nác (Oroxylum indicum(L.) Kurz.) nấu

thành cao để uống và bôi lên chỗ bị sưng, lở loét

2.4 Điều kiện sinh thái ảnh hưởng tới cây sơn

2.5.3 Ảnh hưởng của phân vi lượng

2.6 Tình hình nghiên cứu cây sơn trên thế giới và ở Việt Nam

2.6.1 Nghiên cứu trên thế giới

- Nghiên cứu về sinh hoá nhựa sơn, tác giả Brooks (11892

và sau đó Bertrand , Geoges Brooks(1934) cho biết công thứchoá học của chất laccol( urushiol) lả: RC6H6(OH)2 , gốc R=(CH2)14CH3; R=(CH2)7CH=(CH2)5CH3 [19].- Về kỹ thuật khaithác nhựa của cây Sơn: ở các nước trồng Sơn như Trung Quốc, Ấn

Độ, Nhật Bản, Campuchia, Nepal do việc tiêu thụ và sử dụngnhựa sơn còn ít nên việc nghiên cứu kỹ thuật trồng tỉa nói chungcòn ít ở Trung Quốc trên giống sơn Rhus

vernicifera (cây to và khỏe hơn giống Rhus fuccedanea ởViệt Nam), qua đúc kết kinh nghiệm nhân dân đã xác định lối thuhoạch theo hình mắt trâu là tốt nhất, một vài vùng có thu hoạch

Trang 11

theo hình lá liễu, chữ V nhưng không phổ biến ở Nhật Bản trêncùng 1 giống Sơn như Trung Quốc nhưng thu hoạch theo hìnhchữ V [9].

- Khi nghiên cứu về tính chất của màng sơn các nhà hoáhọc: Hirano bertrand Nhật Bản, georges brooks Pháp xác định:màng sơn có tính cách điện và cách nhiệt rất tốt, chịu được nhiệt

độ 4100c, chống chịu tốt đối với các loại vi sinh vật, các axít, nênbảo vệ tốt các vật liệu màng sơn có độ uốn dẻo cao nên rất dai,sơn dây kim khí bằng nhựa sơn, vặn xoắn sợi dây theo nhiềuhướng thì nước sơn vẫn bền, không bị vụn nát, nước biển khôngphá hoại được chất nhựa sơn năm 1874, chiếc tàu thuỷ Nil bịđắm ở bờ biển Nhật Bản, có chở những đồ vật bằng sơn, sau 18tháng ngâm nước biển dưới độ sâu 35 m, khi vớt lên những đồvật này vẫn còn ở trạng thái nguyên vẹn Vào khoảng thế kỷ XVI,các thương gia buôn bán ở vùng viễn đông đã sớm phát hiện ranhiều đặc tính quý báu của nhựa sơn, nên đã đem về Châu Âu sửdụng vào việc gắn đàn vĩ cầm stradivarius, làm vecni chống gỉ,chống mối mọt người Pháp khi xâm lược Việt Nam đã có nhiềuứng dụng thành công với nhựa sơn như: trong công nghiệp hàngkhông ( kết quả được công nhận của phòng thí nghiệm hàngkhông chayrlay meudon), trong thời chiến tranh nhựa sơn được

sử dụng để sơn chống ẩm cho vỏ đạn đại bác [18], [19]

- Nghiên cứu về công dụng của nhựa sơn ở Nhật Bản đãkhẳng định nhựa sơn có khả năng chống ẩm, chống nóng và cáchđiện tốt nên được dùng vào nghề chài lưới (gắn thuyền) sơn bàn,ghế (quang dầu), tranh mỹ nghệ (tranh sơn mài) Nhật Bản còn

sử dụng nhựa sơn trong công nghiệp sản xuất: thuốc nhuộm, bútmáy, ống dẫn dầu, thiết bị chống cháy, sơn cách điện và kỹ thuậtquốc phòng [6]

Trang 12

2.6.2 Nghiên cứu cây sơn ở Việt Nam

Nghiên cứu về giá trị sử dụng của nhựa sơn

- Kết quả nghiên cứu của Trần Vĩnh Diệu, Lê Thị Phái (1980)[10] về công dụng của nhựa sơn cho biết:

- Nhựa sơn được dùng dưới 3 dạng

+ Sơn quang dầu: sơn có pha thêm dầu trẩu, dùng để sơn

đồ gỗ, bàn ghế tủ, đồ thờ cúng và trang trí

+ Sơn gắn: sơn trộn với mùn cưa, để gắn đồ gỗ, mây trenứa, đóng giường, tủ, gắn thuyền gỗ, thuyền nan và các đồ dùngdân dụng khác

+ Sơn mài: sơn pha thêm nhựa thông, bột màu và một sốbột độn vô cơ khác, màng sơn được mài bóng sẽ tạo ra đượcnhiều màu bóng đẹp

- Nhựa sơn được sử dụng trong công nghiệp:

+ Giao thông đường biển: đóng thuyền, sơn vỏ tàu biển,thuyền nan, thuyền thúng

+ Công nghiệp điện: sơn cách điện các sợi dây kim khí + Công nghiệp thực phẩm: làm bao bì vận chuyển thựcphẩm lỏng (nước mắm, rượu mùi, nước giải khát) thiết bị chứađựng vận chuyển lớn bằng bê tông cốt thép có màng sơn bảo vệ

sẽ chống ăn mòn, bảo đảm vệ sinh thực phẩm dựa trên côngtrình nghiên cứu của trần vĩnh diệu, lê thị phái, tổng công ty thựcphẩm đã sơn các xitec lớn (1.000 lít) vận chuyển nước mắm, rấtbền, rất tốt [2]

+Thủ công mỹ nghệ: làm hàng sơn mài (mỹ thuật côngnghiệp và nghệ thuật tạo hình) Năm 1925, tại trường mỹ thuậtđông dương, nghệ nhân Đinh Văn Thành và hoạ sỹ Trần Văn Cẩn

đã kế thừa kinh nghiệm của ông cha ta ngày trước để tiếp tụcnghiên cứu và đã thu được một số thành công trong lĩnh vực sơnmài, tạo ra được những mẫu sản phẩm rất bóng đẹp Từ đó, hàng

Trang 13

mỹ thuật sơn mài đã được phát triển mạnh mẽ, như lọ hoa, khaytrà, đĩa tre, mây nứa, tranh tứ bình, tranh sơn thuỷ, tranh tố nữ.

Sau 1930, các hoạ sỹ danh tiếng như: Tô Ngọc Vân, TrầnVăn Cẩn đã bắt đầu dùng sơn mài trong nghệ thuật tạo hình cónội dung và tư tưởng phong phú về các đề tài kháng chiến xâydựng và bảo vệ tổ quốc, về đất nước, con người Việt Nam.Những bức tranh sơn mài này đã tham gia triển lãm nghệ thuậttạo hình của các nước xã hội chủ nghĩa tại Maxcơva, đã làm chocông chúng và các tác giả nghệ thuật nước ngoài cảm kích, khâmphục có thể nói, ngoài cây đàn bầu, những bức tranh sơn mài đãđóng góp tính chất độc đáo vào kho tàng nghệ thuật của thế giới

2.6.3.Nghiên cứu về kỹ thuật trồng Sơn ở Việt Nam

Từ xưa tới nay, khi gieo trồng sơn vẫn chưa xác định rõđược kỹ thuật theo qui chuẩn, chưa khẳng định được việc gieohạt thẳng tại hố hay gieo hạt ở vườn ươm rồi mới đem trồng thìtốt hơn Nông dân trồng sơn theo cách thông thường từ trước đếnnay là gieo hạt tại hố, làm như vậy có thể đỡ được công trồng.nhưng gieo ươm cây trong vườn ươm rồi mới đem trồng thể hiệntính hơn hẳn so với việc gieo trồng tra hạt thẳng vào hố điềuquan trọng là làm thế nào để xác định tốt phương pháp gieotrồng sơn như thế nào để sơn được thu hoạch sớm, thời gian cắtđược lâu, có phẩm chất tốt năng suất cao [11]

*Nghiên cứu về vai trò của giống sơn đối với sản xuất

Việc lựa chọn hạt giống sơn là một khâu không thể bỏ quakhi trồng sơn, nó không chỉ ảnh hưởng đến tỉ lệ nảy mầm, sinhtrưởng, phát triển mà còn ảnh hưởng đến năng suất nhựa củacây sơn Sơn có nhiều giống nhưng thường trồng hai giống cónăng suất cao là sơn lá si và sơn lá trám Cả hai loại giống đềuđưa vào sản xuất, nhưng khi chọn để lấy hạt làm giống phải chọn

Trang 14

những cây xanh tốt nhiều cành, nhiều lá, ít sâu bệnh, ít hoa, quả,trong thời gian thu hoạch nhựa chảy đều, chảy nhiều, tỉ lệ mặtdầu cao, vỏ cây dày 5-6 mm, sần sùi, vỏ có màu hồng thu hoạchquả vào tháng 9 - 10, chọn những quả to, chắc đem phơi 2-3nắng, xát sạch vỏ rồi đem gieo, trung bình 1 ha cần từ 6 - 7kghạt giống Thời vụ hái quả sơn: tháng 9, khi quả sơn chín thì thuhoạch quả, thu cả chùm sơn mang về rồi lựa chọn hạt tốt để làmgiống mỗi ha cần 12 đến 15 kg chùm quả (để có 6 – 7 kg hạtgiống) (Nguyễn Đức Ban [1] Người dân trồng sơn có kinhnghiệm xử lý quả sơn: chùm quả sơn hái về, phơi 2 đến 3 nắngnhẹ, bảo quản nơi khô ráo, trước khi gieo trồng phải vặt quả sơnkhỏi chùm quả, sau đó xát cho tróc lớp vỏ ngoài và lớp vỏ lụa,sàng, sẩy sạch cho hạt vào cối giã nhẹ cho mỏng bớt lớp vỏtrong, sau đó đem gieo trực tiếp vào hố, hoặc ngâm ủ rồi gieovào bầu Một số vùng sơn, có kinh nghiệm khi gieo hạt, trộn vớidầu sở, dầu trẩu hoặc dầu dọc, để chống mối và kiến, trước khigieo ngâm nước vo gạo để hạt dễ mọc mầm.

Những kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ năm 1954 thì trước khigieo hạt sơn, ngâm nước 48- 60 giờ, loại bỏ những hạt nổi có chấtlượng kém, ngâm nước 50 oc, hạt nảy mầm nhanh hơn so vớinước lã 5- 11 ngày, không được ngâm trong nước sôi 100oc (ĐỗNgọc Quỹ (1986) [10]

* Nghiên cứu về thời vụ trồng sơn

- Báo cáo tổng kết kinh nghiệm kỹ thuật trồng sơn của trạithí nghiệm trồng trọt- Phú Hộ cho biết: tốt nhất là nên chuẩn bị

hố vào tháng 8 – 9, sau khi đã phát nương và cuốc vỡ xong rồi,nếu chậm thì để đến tháng 11-12, không nên để đến tháng 2 - 3

vì lúc đó nắng nhiều, độ ẩm thấp gieo sơn lâu mọc không tốt nếu

có điều kiện thì cuốc nương rồi đánh hố thì tốt hơn, sau này thìxới xáo thêm 2- 3 lần kết hợp vun gốc thì sơn bền và tốt [12]

Trang 15

Thời vụ gieo hạt sơn thích hợp từ tháng 9 - 10 và tháng 2 hàngnăm Gieo hạt vào tháng 9 thì sơn mọc chậm nhưng hạn chếđược dế cắn phá cây non vào tháng 4 Sơn gieo tháng 9 thì nênđánh hố để gieo hạt trước rồi cuốc đất sau, vì nếu cuốc đất trướcthì khi hạt sơn mọc mầm gặp mưa to, đất xô xuống hố lấp hạtsâu sau đó đất bị lèn chặt sơn không mọc được Gieo sơn tháng 2thì sơn mọc nhanh, nhưng đến tháng 3 khi sơn mới mọc thường

bị dế cắn, nên cần phải chú trọng chăm sóc ngay khi cây sơn cònnhỏ để sơn mọc nhanh giảm tỉ lệ sâu bệnh phá hoại ( Đỗ NgọcQuỹ )[9]

*Nghiên cứu về mật độ trồng.

Khi nghiên cứu về mật độ trồng sơn Đỗ Ngọc Quỹ (1986)[10] cho rằng, cây sơn cũng như các loại cây trồng khác, vấn đềmật độ có quan hệ mật thiết với năng suất, chất lượng, và hiệuquả kinh tế Tuỳ từng giống sơn khác nhau, tuỳ điều kiện đất đai

và các điều kiện kinh tế khác nhau để xác định mật độ cây trungbình cũng khác nhau: giống sơn trắng, sơn mỡ gà: 2.000 cây/ ha;giống sơn đỏ (sơn giềng): 1.900 cây/ ha Xác định mật độ thíchhợp cần quan tâm đến nhiều yếu tố như: giống, chất lượng câycon, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, tình hình về gió bão, độ ẩm,ánh sáng, mật độ và khoảng cách hàng Khoảng cách thay đổi từ0,1 đến 0,2 m tùy thuộc vào đất xấu và đất tốt Khoảng cáchhàng hẹp áp dụng với nơi có đất xấu, thời tiết khô hạn, trình độthâm canh thấp, phân bón ít Khoảng cách hàng rộng, thường ápdụng cho những nơi có đất tốt, chủ động tưới tiêu, trình độ cơ giớicao, phân bón nhiều, người dân có trình độ thâm canh cao Theotác giả Tô Tử Đông [5], trên một đơn vị diện tích, mật độ câytrồng chiếm một vị trí khá quan trọng, sản lượng sơn hàng nămphụ thuộc vào số cây hữu hiệu, mật độ là yếu tố chi phối nhiềunhất đến sinh thái cây sơn, ở đây một vấn đề cần giải quyết là

Trang 16

xác định mật độ thích hợp nhất trên một diện tích để đạt năngsuất cao Thực tế cho thấy mật độ cây trồng càng cao, khoảngcách giữa các cây trồng càng ngắn lại thì vỏ sơn càng mỏng, mật

độ ống nhựa càng ít và tiết diện ngang toàn phần của ống càng

bé lại nên năng suất thực tế trên một cây ít hơn so với trồngthưa Nhưng vì nhiều cây trên một diện tích nên thể tích tươngđối của ống nhựa tăng cao hơn ở mật độ trồng thưa, do đó năngsuất thực tế cũng tăng theo mật độ trồng dày Đặc điểm của câysơn trồng ở nước ta là cây nhỏ, tán lá ít, đó chính là điều kiệnthuận tiện cho việc nâng cao mật độ Khi nâng cao mật độ trêndiện tích, phải đồng thời với tăng cường chăm sóc thật kỹ, nhất làviệc khống chế sự phát triển chiều cao bằng cách ngắt ngọnnhằm tạo cho sơn có một bộ khung tán tốt có độ cao cây vừaphải, tránh cao vóng Theo Đỗ Ngọc Quỹ [9], cây sơn cần phảitrồng với khoảng cách vừa phải mới nhiều cành, nhiều lá, cây to,

vỏ dầy đất mới khai hoang hay còn gọi là “đất nhựa” trồng sơnvới khoảng cách cây cách cây từ 2,5 -3 m, đất đã trồng sơn nhiềuchu kỳ được coi là “đất cũ” trồng sơn với khoảng cách cây 2m,những nương sơn trồng với mật độ cao, sơn thường bị vóng,mỏng vỏ, ít nhựa, nhiều cây không có nhựa “bị rọm” Theo Tô TửĐông và Đỗ Ngọc Quỹ cho biết về mật độ trồng sơn: trồng dày(2500-3333cây/ha) kết hợp với bón phân chuồng (2kg/ gốc) chothu hoạch với sản lượng cao nhất, mặc dù sản lượng theo đơn vịcây thấp hơn trồng thưa, vì số cây trồng được nhiều hơn, phẩmchất sơn không thay đổi rõ rệt, cây cao, tán nhỏ, vỏ mỏng ítcành, nhưng có nhiều cây bị sâu bệnh hại sơn so với trồng thưa,

do thiếu ánh sáng, cây cao vóng kéo theo sự mất cân bằng các

cơ quan như gốc, rễ, thân cành nên ở những nơi gió mạnh cây dễ

bị đổ gẫy[6] Nâng cao mật độ trồng sơn 1 cách thích hợp, đi đốivới việc tăng số lượng phân bón theo mật độ trồng phẩm chất

Trang 17

nhựa sơn không hề thay đổi đáng kể nhưng làm tăng được sảnlượng sơn khi thu hoạch (Tô Tử Đông )[7],

* Nghiên cứu về bón phân

Đỗ Ngọc Dũng cho biết: trong thực tế sản xuất cây sơn chỉđược chú trọng chăm sóc khi cây còn nhỏ, từ lúc mới gieo hạt vào

hố đến lúc chuẩn bị cho thu hoạch “ mở chóc”, nông dân có xớixáo vun xung quanh gốc bón phân cuốc đảo phân, nhưng từ khibắt đầu thu hoạch đến khi kết thúc thu hoạch thì không bónphân, nên cây sơn thời gian khai thác nhựa ngắn hay nói khác làcây sơn chóng tàn “kiệt sức” bón được phân, cây sơn mọc xanhtốt, bộ lá xanh thẫm nên cây trẻ lâu, nhiều nhựa kéo dài thời giankhai thác nhựa bón phân nhựa tốt ra nhiều sơn đỏ tỷ lệ lacconcao “mặt dầu”, bón phân ít sơn trắng, bón phân trong vụ rét câysơn cũng không chết mà còn tốt hơn[3] Báo cáo cải tiến kỹ thuậttrồng sơn của trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ cho rằng, cần đặcbiệt chú ý chăm bón sơn ngay khi mới mọc để sơn mọc nhanh,phát triển mạnh, khi mới gieo bón mỗi hố 0,1 kg tương ứng với

“một vốc” tro bếp + nước giải, khi 3-4 lá bón thêm mỗi hố 3kgphân ải “tương đương 1/4 giành”, sơn được 1 năm thì xới gốc, tỉabớt để mỗi hố 1 cây, dặm những cây chết, bón nước giải hayphân ải trộn nước vo gạo mỗi hố 2kg, san phẳng đất lấp hố.không nên bón phân lợn, phân bắc cục vì sơn bị khô vỏ, cứng vỏhay còn gọi là sơn “mề gà”, ít nhựa, tốt nhất là sử dụng phântrâu, bò ải để bón cho sơn[14] Nguyễn Đức Ban [1] cũng chobiết: sơn là một cây công nghiệp lâu năm thu hoạch bằng nhựa,cho nên yêu cầu phân bón cho sơn rất cần thiết, phân càngnhiều, năng suất càng cao Các loại phân bón cho sơn là: phânchuồng, phân xanh, tro bếp, các bùn ao, khô dầu trước khi trồngmỗi ha chuẩn bị 19 - 27 tấn phân chuồng, 1,2 – 2,5 tấn tro bếp,0,3 – 0,8kg dầu sở (khô dầu sở, tro bếp bón ngay lúc gieo) bón

Trang 18

phân cho sơn, phải căn cứ vào đời sống sinh trưởng của câytrồng, ở từng thời kỳ, cần căn cứ vào đất đai thời tiết để lựa chọnloại phân bón thích thích hợp cho cây sơn phát triển

+ Bón lót nhằm mục đích tăng nhiệt độ, tăng độ ẩm củađất làm cho hạt chóng nảy mầm yêu cầu bón lót cho sơn cầnbón phân chuồng ải vào hàng hoặc vào hố

+ Bón thúc: căn cứ vào sự phát triển của sơn mà xác địnhthời gian bón cho thích hợp, bón thúc cho cây sơn khi cây cònnon đến thời kỳ đầu thu hoạch nhựa (thời kỳ sơn hố, sơn dạ, sơnnon và sơn thững) nhằm mục đích cho cây phát triển mạnh vềchiều ngang và chiều cao để nâng cao sản lượng sơn, dựa theonhu cầu của sơn mà ta định thời gian bón cho thích hợp Theo Tô

Tử Đông về kỹ thuật bón phân cho cây sơn ở các thời kỳ nhưsau[5]:

+ Bón phân cho sơn mới trồng năm thứ nhất “ sơn hố” vàokhoảng tháng 2-3, khi tỉa sơn lần thứ nhất nên bón mỗi gốckhoảng 1-1,5 kg phân trâu, bò hoặc phân xanh đã được ủ cho ảitrộn với 5-10g đạm, lần thứ hai nên bón vào tháng 8-10, sau lầntỉa cuối cùng, mỗi hố bón 2-3kg phân chuồng ải kết hợp xới xáoxung quanh gốc để trộn đều phân hoai, nếu có điều kiện thì cuốclật toàn bộ nương sơn sâu khoảng 20-30 cm

+ Bón phân cho sơn năm thứ 2 “ sơn rạ”: việc bón sơn rạnên chia làm hai lần như bón sơn hố vào tháng 2- 3 kết hợp vớicày hoặc cuốc đảo, bón mỗi hỗ khoảng 1 kg phân chuồng, lầnthứ hai cũng bón vào tháng 8-9, mỗi hố khoảng 2-3 kg phânchuồng, nếu cày hai lần, thì lần thứ nhất cày ngang, bón phân vềphía trên, lần sau cày dọc bón phân bên cạnh hố nếu nương quádốc không cày được thì đào rãnh và bón phân như trên để bộ rễphát triển cân đối, mỗi lần bón có thể trộn 5-10g đạm (để chuẩn

bị cho thu hoạch sơn vào tháng 2 năm sau) đến tháng 12 bón

Trang 19

thêm một lần nữa nhân dân gọi đó là bón đón nhựa, mỗi gốc nênbón 3-5 kg phân chuồng, nếu trường hợp đủ phân, bón càngnhiều càng tốt bởi vì lúc này bón nhằm tăng chất dinh dưỡng chocây, mặt khác làm cho cây sinh trưởng mạnh làm cho nhiều cành

lá, chiều ngang và chiều cao phát triển mạnh, vỏ cây dày mềm

+ Bón phân cho sơn kinh doanh: Năm thứ ba sơn bắt đầuđược thu hoạch, nhân dân nhiều nơi hầu như là không bón phânnữa, nhưng một vài nơi hoặc tại Phú Thọ vẫn tiếp tục bón phâncho cây sơn trong thời gian kinh doanh, thì cây có thể cho thuhoạch được đến năm thứ sáu, bón cho mỗi hố 2-3 kg phânchuồng cây sơn sẽ bền nhựa, kéo dài thời gian thu hoạch Thực tếnhân dân việc bón phân cho sơn chưa thành một tập quán, việc

sử dụng các loại phân bón cho sơn cũng chưa phổ biến, ngoàiphân trâu, phân bò ải được nhân dân cho là tốt nhất dùng để bóntrong thời gian đầu lúc sơn chưa thu hoạch thời kỳ kiến thiết cơbản do quan niệm như vậy nên lượng phân bón chuẩn bị hàngnăm không đủ cho diện tích trồng mới, thông thường 2 năm đầu,lúc sơn chưa cho thu hoạch, mỗi ha được bón từ 4-6 tấn phânchuồng, những năm sau, khi sơn được thu hoạch thì không bón.Một số nơi dựa hoàn toàn vào độ phì nhiêu của đất đai trong suốtquá trình từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch một số khác có bónphân cho sơn trong giai đoạn đầu, nhưng lại trồng xen lúa, ngô,sắn, vừng nên lượng phân bón bị những cây hoa màu trồng xennày sử dụng mất phần lớn, vì vậy cây sơn luôn ở trong tình trạngthiếu phân bón Giải quyết tốt vấn đề phân bón chẳng nhữngcung cấp cho cây sơn những chất dinh dưỡng cần thiết trong quátrình sinh sống mà còn góp phần cải tạo đất trồng sơn Trênnhững nương sơn đang cho thu hoạch có hiện tượng sụt giảm sảnlượng nhựa sau một thời gian khai thác, bởi vì cây sơn có nhu cầudinh dưỡng rất lớn để vừa nuôi thân vừa cung cấp nhựa để khai

Trang 20

thác, nên nếu không bổ sung dinh dưỡng cho đất để cung cấpcho cây sẽ làm cho đất tàng kiệt, cây thiếu dinh dưỡng cây pháttriển kém, năng suất sản lượng giảm như vậy, có thể khẳng địnhviệc bón phân thúc hàng năm cho cây sơn trong giai đoạn sơnkinh doanh là một biện pháp làm tăng năng suất nhựa sơn.

Tại trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ, nhờ bón phân thúchàng năm đã làm tăng sản lượng hơn so với không bón 40% vàkéo dài hơn thời gian thu hoạch so với nhân dân từ 2-3 năm Câysơn khi bước vào thời kì thu hoạch chính là thời kì bất lợi, về mặtsinh trưởng, bởi thương tổn trong khi thu hoạch và lượng nhựaluyện được để nuôi cây phần lớn bị lấy mất, cho nên sơn rất cầncác chất dinh dưỡng liên tục có sẵn trong đất để sinh trưởng bónthúc cho sơn trong thời kì này chính là để đáp ứng yêu cầu đó.Thời gian bón thúc hàng năm chính là mùa xuân, tháng 1-2, với

hố đào cách gốc 50cm, sâu 20 cm với số lượng 4-6 tấn / ha Kếtquả nghiên cứu của Đỗ Ngọc Quỹ [8] tại trại thí nghiệm trồng trọtPhú Hộ cho biết trong 1 năm bón phân cho sơn kinh doanh 1 lần,kết hợp 3 lần làm cỏ, xới xáo và sử dụng cây phân xanh như: cốtkhí, sài đất, bèo, điền thanh, phủ xung quanh gốc sơn, sau đó cắthết hoa, quả, tỉa bỏ cành vượt để cây sơn phát triển tán rộng.năng suất nhựa sơn tăng 54 % so với diện tích không bón phân.tuy nhiên, để hạn chế mối gây hại và chống xói mòn, rửa trôi đấtnên giai đoạn sơn non thì bón thúc 4 lần (2 lần cho sơn hố, 2 lầncho sơn rạ) loại phân bón sử dụng tốt nhất là phân bò ải, tro bếp+ nước giải, bùn ao phơi khô đập tơi trộn với nước giải để bón,ngoài ra các thứ phân như phân trâu, phân bắc, phân xanh, phânhoá học là những thứ phân phổ biến mà nhân dân cho là bón chosơn không tốt, sơn hỏng Kết quả nghiên cứu bước đầu của Tô TửĐông [7] cho thấy : mật độ trồng càng dày, phân bón càng tăng,phẩm chất nhựa giữa trồng thưa và trồng dày thay đổi không

Trang 21

đáng kể Bón thúc bằng phân chuồng phẩm chất nhựa kém hơnbón sufat đạm rõ rệt, hàm lượng nước trong nhựa sơn khi thuhoạch ở những nương sơn bón phân chuồng cao hơn bón đạm.

Thực tế sản xuất phần lớn người dân trồng sơn theophương pháp quảng canh, không sử dụng bất kỳ loại phân bónnào từ khi trồng đến hết chu kỳ khai thác cây sơn một số ít hộnông dân có sử dụng phân bón cho cây sơn, nhưng bón theo kinhnghiệm, loại phân bón sử dụng là phân trâu, bò hoặc tro bếpngâm nước giải để bón lót cho cây khi trồng, sau đó thì chỉ khaithác nhựa mà không bón, nên sau nhiều chu kỳ khai thác đấttàng kiệt dần, năng suất, chất lượng nhựa sơn giảm Phân bón làyếu tố tác động đến tốc độ sinh trưởng phát triển và tạo sinh khốibất kỳ loại cây trồng nào, nên việc nghiên cứu xác định liềulượng, phương pháp bón phân cho cây sơn là rất cần thiết

* Nghiên cứu về tỉa cành, bấm ngọn, cắt hoa, quả sơn:

Kết quả nghiên cứu của Đỗ Ngọc Dũng [3] tại trại thínghiệm trồng trọt Phú Hộ đã xác định được 2 nguyên nhân cơbản làm giảm năng suất nhựa sơn khi thu hoạch đó là hiện tượngsơn ra hoa, ra quả và hiện tượng sơn mọc vóng, vỏ sơn mỏng.Tháng 6, 7 có những đợt nắng kéo dài không mưa, cây sơn thuhoạch dài nhựa ít dần “sút nhựa”, có những cây chết khô, hiệntượng này thường xảy ra khi gặp phải khô hạn kéo dài, khi đó chothu hoạch nhựa với sản lượng cao sau đó giảm đột ngột, nhận xétthấy phần nhiều sơn ra nhiều hoa quả nên vận hết nhựa sơn đếnkhô kiệt, nông dân ta cũng đã nhận thấy tác hại của quả sơn nên

có nơi đã bẻ những cành sơn thấp, hiện tượng phát dục hay còngọi là hiện tượng ra hoa kết quả là trái với mục đích trồng sơn, vìbao nhiêu nhựa dành cho thu hoạch lại phải nuôi quả, vừa cắtnhựa vừa nuôi quả, cây sơn lại gặp hạn thì năng suất nhựa giảm

Trang 22

nhiều, có thể cây sơn bị chết khô Những biện pháp chính nhằmtăng năng suất nhựa là:

+ Cắt bỏ những hoa và quả sơn thì cây không phải cungcấp nhựa để nuôi hoa quả

+ Sử dụng giống sơn chậm ra hoa và ra ít hoa như giống lá

si thường ít hoa quả nhựa tốt, chảy bền

+ Bấm ngọn tạo tán: khi sơn cao khoảng 1-1,5 m cần bấmngọn cho cành phát triển nhiều mỗi cây nên để 2-3 cành mọccấp 1, khi cây cao 1,8-2m cần bấm ngọn lần nữa để cho tán tođều tuỳ theo việc trồng dày hay thưa để tạo tán cho thích hợp.song song với việc tạo tán cần cắt bỏ những cành mọc ngangthân từ mặt đất trở lên đến 1,5 m để chuẩn bị cho việc cắt nhựa[1]

Theo Đỗ Ngọc Quỹ [9], phần nhiều những cây sơn xấu,mỏng vỏ, ít nhựa là do có nhiều hoa quả, có nhiều cây ra hoaquả, quả nhiều, lượng nhựa tiêu hao lớn nên cây bị chết khô.nhiều vùng trồng sơn đã chú ý đến việc cắt hoa quả sơn, trongthời gian thu hoạch nhựa sơn, nhưng chỉ cắt được những cànhthấp nên kết quả thu được cũng không đáng kể, không tạo nên

sự khác biệt rõ ràng thời gian đó trại thí nghiệm trồng trọt Phú

Hộ đã nghiên cứu 1 cái kéo cắt hoa quả sơn, cắt được ở các cànhcao trên ngọn cây cắt cũng nhanh, những cây sơn nhiều quả ládụng hết, cây khô dần, đem cắt hết quả non, cây xanh trở lại

* Nghiên cứu thu hoạch nhựa sơn:

Các vùng trồng sơn ở miền Bắc nước ta đều áp dụng lối cắthình chữ V trong thu hoạch, bởi ưu điểm của nó là nhựa chảy tậptrung vào chóc hứng Tuy lối cắt chữ V có nhược điểm nhưng vẫn

coi là hình thức cắt tốt nhất các vùng trồng sơn *Nghiên cứu sâu bệnh hại sơn:

Kết điều tra của Bùi Huy Đáp [4] về sâu bệnh hại sơn cho

Trang 23

biết: Về sâu có sâu ăn lá và hoa xuất hiện vào mùa ra hoa và látức là từ tháng 2 – 3 gọi là sâu nhớt không nguy hiểm sâu ăn lánon và già thường phá toàn bộ 1 cây rồi mới lan sang cây khácxuất hiện suốt năm từ tháng 12 và 1 sơ bộ phân loại: họnoctuidae chưa xác định được tên loài cụ thể đối tượng sâu hạinày phá hoại nghiêm trọng cây sơn, khi đó đã sử dụng DDT phunphòng trừ, sau khi phun 2 giờ sâu chết 100% Sâu đục gốc câysơn: xuất hiện mùa xuân tháng 3 đến tháng 4 gặm hết vỏ ngoàicủa gốc cây chết loại sâu này rất khoẻ, lúc đó đã sử dụng thuốctrừ sâu 666 bột trộn với đất (tỷ lệ phối trộn là 1/5) để phòng trừ

đã diệt được sâu hại Ngoài ra còn có bọ vòi đục ngọn làm héocây, có những năm gây hại rất nặng; sâu hút nhựa ở thân Vềbệnh: có bệnh thối đen làm nứt vỏ cây chảy nhựa cây chết, chưa

có biện pháp phòng trừ, gây tác hại nhiều năm thường về mùahanh khô [13]

2.7 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và ở Việt Nam

2.7.1 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới

Từ lâu nhân dân ta đã có câu "người đẹp vì lụa, lúa tốt vìphân" Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng

năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới Tuy

nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, vàngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước

có sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhauqui định mà chủ yếu là do điều kiện tài chính cũng như trình độhiểu biết về khoa học, dinh dưỡng của cây trồng qui định Còntrong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khácnhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậukhác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các

chủng loại phân khác nhau để bổ sung.

Trang 24

Ở các nước trên thế giới, vai trò của phân bón trongviệc tăng năng suất, phẩm chất cây trồng và tăng độ phì nhiêucủa đất đã được xác định.

Tác dụng của bùn ao, khô dầu…cũng được nêu lên từ thế

kỷ 13 trong cuốn “Nông trang tạp yếu” của Quang Phương, đờiNguyên Than bùn chứa đầy đủ các hợp chất hữu cơ, vô cơcũng như các loại phân hữu cơ khác, trong đó chất hữu cơchiếm từ 39,5% - 60,5%, trong chất hữu cơ tỷ lệ axit humickhá cao

Các số liệu khảo sát cho thấy: bình quân các nướcChâu Á sử dụng nhiều phân bón hơn bình quân thế giới Tuynhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng íthơn bình quân Châu Á Trong đó, Trung Quốc, Nhật Bản lại sửdụng phân khoáng nhiều hơn bình quân Châu Á Hà Lan là nước

sử dụng phân khoáng ít nhất Tuy nhiên, lượng phân bón chủyếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau, và hoa để thu sản lượng chấtxanh cao Và Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phânkhoáng trong số các nước ở Đông Nam Á

Số liệu tham khảo năm 2004 về bình quân sử dụng phân khoáng

ở khu vực Đông Nam Á như sau:

TT Tên quốc

gia

Bình quân (kg NPK/

Trang 25

Qua bảng số liệu trên, nhận thấy Campuchia, Lào,Myanma sử dụngphân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia.

Nhà bác học người Rumani Davideson (5/1957) trong hộinghị quốc tế đã nói: “Cơ sở nông nghiệp là độ phì nhiêu của đất

và cơ sở của độ phì nhiêu của đất là phân bón Nhờ có phânbón mà diện tích nhỏ cho năng suất cao”, với 26 năm kinhnghiệm nghiên cứu tại viện khoa học, ông đã chứng minh rằngkhông có cách nào hiệu quả hơn nâng cao năng suất bằng cách

sử dụng phân bón, ông nêu lên vai trò của phân bón trong việcnâng cao năng suất và chất lượng nông sản khi mà diện tíchđất đai ngày càng thu hẹp dần Năm1989, toàn thế giới đã sửdụng 147 triệu tấn phân bón hoá học Song việc bón phân hoáhọc về lâu dài làm tỷ lệ mùn giảm, đất chai cứng, gây ô nhiễmmôitrường, dẫn đến năng suất, chất lượng nông sản giảm, đồngthời trong nông sản tích tụ nhiều độc tố gây hại đến sức khoẻcủa con người, vì vậy bón phân vô cơ không phải là phương ántối ưu khi sản xuất về lâu dài

Do vậy trong sản xuất nông nghiệp cần kết hợp bón phân

vô cơ và phân hữu cơ Phân hữu cơ tạo ra sản phẩm chất lượngcao, an toàn cho người tiêu dùng (thành phần kim loại nặng và

hàm lượng NO3‾ đều rất thấp) Hiện nay trên thề giới đangquan tâm đến việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ (phân bónsinh học) và các chế phẩm sinh học bao gồm các loại phânchuồng, phân ủ, phân xanh các loại, phân vi sinh Ở Ấn Độ,hàng năm sản xuất ra khoảng 265 triệu tấn phân ủ, lượng bónbình quân 2 tạ/ha/năm, tương đương với 3,5-4 triệu tấn NPK và

Ngày đăng: 12/09/2017, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Ban (1969). Báo Cáo Cây sơn điều tra đúc kết lên quy hoạch trong kỹ thuật trồng sơn 1969 - 1970.Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo Cây sơn điều tra đúc kết lên quy hoạch trong kỹ thuật trồng sơn 1969 - 1970
Tác giả: Nguyễn Đức Ban
Năm: 1969
2. Trần Vĩnh Diệu, Lê Thị Phái (1-1980). Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng đóng rắn oligome epoxy bằng lacon. Tạp chí hóa học, tập 18. Viện khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng đóng rắn oligome epoxy bằng lacon
3. Đỗ Ngọc Dũng (1955). Chương trình nghiên cứu sơn. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nghiên cứu sơn
Tác giả: Đỗ Ngọc Dũng
Năm: 1955
4. Bùi Huy Đáp (1952). Kỹ thuật trồng sơn .– Tủ sách Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng sơn
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Năm: 1952
5. Tô Tử Đông (1960). Các biện pháp làm tăng năng suất sơn. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp làm tăng năng suấtsơn
Tác giả: Tô Tử Đông
Năm: 1960
6. Tô Tử Đông, Đỗ Ngọc Quỹ (1960). Mật độ trồng sơn. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mật độ trồng sơn
Tác giả: Tô Tử Đông, Đỗ Ngọc Quỹ
Năm: 1960
8. Đỗ Ngọc Quỹ (1959). Một vài kết quả đầu tiên về công tác thí nghiệm sơn. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài kết quả đầu tiên về công tác thí nghiệm sơn
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ
Năm: 1959
9. Đỗ Ngọc Quỹ (1981). Kỹ thuật trồng sơn. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng sơn
Tác giả: Đỗ Ngọc Quỹ
Năm: 1981
15. Crévost Lemarie (1927). Catalogne des produits de l’Indochine 1927. Tome 4.I.D.E.O. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Catalogne des produits de l’Indochine 1927
Tác giả: Crévost Lemarie
Năm: 1927
17. Pierre Domart (1929). Lesespices utiles du genre Rhus Etude Botanique et Pharmacognosique. Saint Clond.Imprimerie Girault. 1929 (p. 222 – 233) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lesespices utiles du genre Rhus Etude Botanique et Pharmacognosique. Saint Clond
Tác giả: Pierre Domart
Năm: 1929
18. Crévost (Charles), (1905). Les laquiers de l’Indochine. Edit H.S Shneider. Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les laquiers de l’Indochine
Tác giả: Crévost (Charles)
Năm: 1905
10. Đỗ Ngọc Quỹ(1986) Cây Sơn và kỹ thuật trồng, NXBNN Khác
11. Đỗ Ngọc Quỹ( 10/1989), Báo cáo tổng kết khoa học. Trại thí nghiệm trồng trọt Phú Hộ Khác
12-Trại thí nghiệm Phú Hộ.Báo cáo kinh nghiệm kỹ thuật trồng Sơn Khác
13. Trại thí nghiệm Phú Hộ( 1962). Các báo cáo tình hình Sơn,Tủ sách Phú Hộ Khác
14. Trại thí nghiệm Phú Hộ( 1982). Báo cáo cải tiến kỹ thuật trồng Sơn,Tủ sách Phú Hộ.II. Tiếng Pháp Khác
16. H. Lecom. Flore générale de l’Indochine Tome II (1) 1908 – 1923 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w