Có thể kể ra đây một số công việc mà Việt Nam đã thực hiện, đó là: a Xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan Dựa theo 4 nguyên tắc nêu trên, tại thời điểm gia nhập, Việt Nam đã đệ trìn
Trang 1Họ và tên: Đinh Thiện Hiếu
Lớp: TCNH2A2
Bài thảo luận
Đường Lối Cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam
Câu 1: Quan hệ quốc tế, quan hệ song phương, quan hệ đa phương là gì?
Đa phương hóa, đa dạng hóa là như thế nào?
Quan hệ đối tác là gì?
Tìm hiểu ASEAN và quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN?
Tìm hiểu WTO và quá trình gia nhập WTO?
Tìm hiểu về APEC ?
Câu 2: An sinh xã hội là gì?
Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam? Kết quả và hạn chế? Câu 3: Đường lối, kết quả, quan hệ quốc tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay?
Bài làm
Câu 1:
Quan hệ quốc tế là:
Nững định nghĩa hiện có về khái niệm quan hệ quốc tế
1 Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, 2005: Quan hệ quốc tế (QHQT) là quan hệ giữa các nước trên thế giới với nhau
2 Từ điển Tiếng Hán hiện đại do Li Kaxin và Cheng Yanling biên tập, NXB Shangwu, Bắc Kinh, 2006: QHQT là quan hệ giữa các nước trên thế giới với nhau
Trang 2Quan hệ song phương :
Quan hệ song phương là quan hệ giữa hai quốc gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…để cùng nhau hợp tác phát triển
Quan hệ đa phương
Quan hệ đa phương là quan hệ đan xen giữa nhiều quốc gia, nhằm mục đích giải quyết những vấn đề chung như chiến tranh, hoà bình, hợp tác và đấu tranh để cùng tồn tại và phát triển Ngày nay, NGĐP có nhiệm vụ điều chỉnh mối quan hệ giữa nhiều chủ thể: quốc gia, tổ chức liên chính phủ quốc tế, tổ chức phi chính phủ, trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hoà bình và an ninh quốc tế, phát triển và bảo vệ môi trường, chống bệnh tật, đói nghèo và tội phạm, vv
Đa phương hóa
Đa phương hóa là quan hệ có tính chất của nhiều quốc gia, có sự thỏa thuận hoặc tham gia của nhiều bên
Đa dạng hóa là quan hệ giữa các quốc gia với nhau trên nhiều lĩnh vực khác nhau và dướinhiều hình thức khác nhau
Quan hệ đối tác: là quan hệ song phương, 2 bên bình đẳng như nhau, cùng hợp tác phát triển để đôi bên cùng có lợi
Tìm hiểu về ASEAN
ASEAN hiện có 11 nước (Brunei, Campuchia, Đông Timo, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Singapore) Diện tích toàn khối là 4.492.443 km2, chiếm 14,1% lãnh thổ châu Á và chiếm 3,3% diện tích toàn thế giới.
Quốc gia rộng nhất là Indonesia, tiếp đến là Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Philippines, Lào, Campuchia, Đông Timo, Brunei, Singapore Dân số giữa năm 2004 là 548,2 triệu người, chiếm dân số 14,1% châu Á và gần 8,6% toàn thế giới; đông nhất là Indonesia, tiếp đến là Philippines, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, Singapore, Đông Timo, Brunei.
Mật độ dân số đạt 122 người/ km2, tương đương với châu Á và gấp 2,6 lần thế giới Tỷ lệdân số thành thị đạt 38,4%, xấp xỉ tỷ lệ của châu Á và thấp hơn tỷ lệ 48% của toàn thế giới; cao nhất là Singapore, tiếp đến là Brunei, Malaysia, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Lào, Campuchia, Đông Timo.
Tỷ lệ sinh đạt 2,2%, tỷ lệ chết 0,7%, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,5%, cao hơn tỷ lệ 1,3% của châu Á và tỷ lệ 1,2% của toàn thế giới; thấp nhất là Singapore, tiếp đến là Thái Lan, Đông Timo, Myanmar, Việt Nam, Indonesia, Brunei, Philippines, Malaysia, Campuchia, Lào.
Trang 3Tuổi thọ bình quân đạt 68, cao hơn mức 67 của châu Á và thấp hơn mức 69 của toàn thế giới; cao nhất là Singapore, tiếp đến là Brunei, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam,
Philippines, Indonesia, Myanmar, Campuchia, Lào, Đông Timo.
GDP tính bằng USD theo tỷ giá thực tế của ASEAN năm 2003 đạt khoảng 687 tỷ USD, chiếm 1,9% toàn thế giới; bình quân đầu người đạt khoảng 1.253,2USD, thấp xa so với mức 5.684,2 USD của toàn thế giới.
Nếu tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương, thì GDP bình quân đầu người năm
2001 cuả các nước trong khu vực như sau: Singapore 22.680 USD, (năm 2002 là 24.040),tiếp đến là Brunei 19.210, Malaysia 8.750 (năm 2002 đạt 9.120), Thái Lan 6.400,
Philippines 3.840, Indonesia 2.940, Việt Nam khoảng 2.100, Campuchia 1.860, Lào 1.620 (năm 2002 đạt 1.720), Myanmar 1.027.
Khu vực ASEAN cũng là khu vực có tốc độ tăng GDP cao của thế giới Tổng dự trữ quốc
tế của một số nước đạt khá và đang tăng lên Khu vực ASEAN cũng là khu vực có kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu so với GDP, xuất khẩu bình quân đầu người khá.
Quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam
Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước ASEAN từ tháng 7/1995 và bắt đầu thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ 1/1/1996, chương trình này kết thúc vào 1/1/2006 Do trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp so với một số nước trong khu vực, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, của nhiều ngành sản xuất và dịch vụ còn yếu… và thuế nhập khẩu vẫn còn là một trong những nguồn thu cho ngân sách, nên chương trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chính sau:
1. Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách
2. Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước
3. Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước
4. Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của Hiệp định CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Có thể kể ra đây một số công việc mà Việt Nam đã thực hiện, đó là:
(a) Xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan
Dựa theo 4 nguyên tắc nêu trên, tại thời điểm gia nhập, Việt Nam đã đệ trình 4 danh mục hàng hoá theo quy định của Hiệp định CEPT như sau:
a) Danh mục loại trừ hoàn toàn: bao gồm 139 dòng thuế không tham gia AFTA, đây là những mặt hàng có ảnh hưởng đến: an ninh quốc gia, sức khỏe con người, giá trị
Trang 4đạo đức, lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ… theo như quy định của Hội đồng AFTA Ngoài ra Việt Nam còn đưa vào danh mục loại trừ hoàn toàn một số mặt hàng mà hiện Việt Nam đang phải nhập từ các nước ASEAN song lại không có khả năng xuất khẩu, hoặc một số mặt hàng hiện đang có thuế suất cao trong biểu thuế nhập khẩu như: ô tô dưới 16 chỗ ngồi, ô tô tay lái nghịch, chất phế thải, các loại xăng dầu (trừ dầu thô Việt Nam đang xuấtkhẩu), đồ dùng đã qua sử dụng…
b) Danh mục loại trừ tạm thời: Danh mục này bao gồm 755 dòng thuế, được xây dựng theo quy định của CEPT và quy hoạch phát triển đến năm 2010 của các ngành kinh
tế trong nước, nhằm bảo hộ một số ngành đang có tiềm năng phát triển, đồng thời không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách Danh mục này chủ yếu gồm các mặt hàng
có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng có thuế suất thấp hơn 20% song được bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế quan như: các loại xe máy, ô tô (trừ loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi đã nằm trong danh mục loại trừ hoàn toàn), các loại sắt thép, sản phẩm cơ khí thông dụng, các loại mỹ phẩm và đồ dùng không thiết yếu…
Theo quy định của Hội đồng AFTA thì những mặt hàng nào đưa vào chương trình cắt giảm thuế và được hưởng thuế suất ưu đãi từ các nước thành viên khác thì đồng thời phải loại bỏ hàng rào phi thuế quan trong vòng 5 năm sau đó Do vậy, nếu mặt hàng nào được đưa vào danh mục loại trừ tạm thời thì sẽ có thêm thời gian để bảo hộ thông qua việc kéo dài thời hạn thực hiện các biện pháp phi thuế quan
Cũng theo quy định của CEPT thì các mặt hàng thuộc danh mục TEL này cần phải được chuyển sang danh mục cắt giảm thuế (IL) trong vòng 5 năm, sao cho đến thời hạn năm 2006 chúng cũng phải đạt mức thuế quan ưu đãi chung từ 0-5%
c) Danh mục cắt giảm thuế: Danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang có thuế suất dưới 20%, tức là các mặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi ngay theo Hiệp định CEPT Ngoài ra trong danh mục này còn bao gồm một số mặt hàng hiện
có thuế suất cao nhưng Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu, do vậy việc đưa các mặt hàng này vào danh mục giảm thuế sẽ không gây ảnh hưởng nhiều đến nguồn thu ngân sách, ngược lại nó sẽ kích thích đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc được hưởng thuế ưu đãi theo CEPT, khi hàng Việt Nam xuất qua các nước thành viên
d) Danh mục nông sản nhạy cảm: bao gồm 51 dòng thuế, là các mặt hàng nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo hộ cao như: các loại thịt, trứng, gia cầm, động vật sống,thóc, gạo lức, đường mía… các mặt hàng này hiện đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như quản lý theo hạn ngạch, quản lý của Bộ chuyên ngành…
Để làm căn cứ điều chỉnh cơ cấu trong nước và định hướng cho các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp, năm 1997, Chính phủ Việt Nam phê duyệt Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA/CEPT 1996-2006 Tiếp đó, theo công văn số 5408/VPCP-TCQT ngày 11/12/2000, Chính phủ thông qua Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể giai đoạn 2001-2006 Dựa trên các Lộ trình này, hàng năm Chính phủ đưa ra Danh mục hàng hóa và thuế suất của VN thực hiện CEPT (gọi tắt là Danh mục CEPT hoặc Nghị định CEPT)
Trang 5(b) Thực hiện giảm thuế
Dựa theo sự phân loại danh mục hàng hoá như trên, tiến trình cắt giảm thuế của Việt Nam đã được tiến hành như sau: Trong hai năm đầu 1996, 1997 Việt Nam chưa thực hiện việc cắt giảm thuế mà chỉ đưa 875 danh mục các mặt hàng đã có thuế nhập khẩu
từ 0-5% vào danh sách giảm thuế, đáp ứng một cách tự nhiên yêu cầu giảm thuế nhanh của Hiệp định CEPT, còn chương trình giảm thuế bình thường chỉ được bắt đầuthực hiện kể từ 1/1/1998 Các bước đi thận trọng này giúp cho Việt Nam có thêm thời gian cải tiến hệ thống thuế nội địa nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách và góp phần bảo hộ các nền kinh tế còn non trẻ của chúng ta
Như vậy, từ năm 1998 Việt Nam mới thực hiện những bước cắt giảm thuế đầu tiêntheo Nghị định 15/1998/NĐ-CP ngày 12/3/1998 Theo Nghị định này trong năm 1998 chúng ta đã đưa thêm 1.161 mặt hàng vào danh mục giảm thuế Sang năm 1999 theo Nghị định 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1999 Việt Nam đã nâng danh mục các mặt hànggiảm thuế lên đến 3.590 mặt hàng Và trong năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2000/NĐ-CP ngày 21/03/2000 về danh mục các mặt hàng giảm thuế theo chương trình CEPT
Theo nghị định này, trong năm 2000, Nhà nước Việt Nam đưa thêm 640 dòng thuế từ danh mục các mặt hàng loại trừ tạm thời sang danh mục giảm thuế, như vậy sẽ có 4.230/6.200 dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu được đưa vào danh mục cắt giảm thuế Trong tổng 4.230 dòng thuế thực hiện theo chương trình CEPT của năm 2000 này, có khoảng 2.960 dòng thuế có mức thuế suất từ 0-5% (trong đó có khoảng 1.690 dòng thuế có thuế suất 0%), còn lại 1.270 dòng thuế có mức thuế suất 5-50% Như vậy, đa số các mặt hàng trong danh mục giảm thuế năm 2000 là các mặt hàng có thuế suất dưới 20%, chỉ có một số ít là có thuế suất trên 20% Những mặt hàng có thuế suấtdưới 20% là những mặt hàng hoặc không có nhiều trong quan hệ ngoại thương của Việt Nam hoặc là các mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu Các mặt hàng cần bảo hộ như sắt thép, phân bón, giấy, kính xây dựng, ô tô, xe gắn máy, đường… vẫn còn được để trong danh mục TEL, GEL
Đến năm 2002, Việt Nam đã chuyển 5.550 dòng thuế vào IL (ban hành theo Nghị định số 21/2002/NĐ-CP ngày 28/2/2002 và Nghị định số 53/2002/NĐ-CP ngày 13/5/2002) (gọi tắt là Danh mục CEPT 2002), chiếm 85% trên tổng số 6.523 dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu (Danh mục Thuế quan Hài hòa Chung ASEAN –
(AHTN) là 8.770 dòng) Toàn bộ các mặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảm trong thời kỳ 2002-2006; trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5% với mức thuế suất từ 0 đến 20%, trong đó có khoảng 2/3 có mức thuế suất từ 0 đến 5% Nhóm này đến năm 2006 sẽ giảm mức thuế xuống 0 - 5% Nhóm thứ hai, là danh mụcloại trừ tạm thời gồm 755 dòng thuế (theo AHTN là 1.415 dòng thuế) sẽ chuyển sang danh mục cắt giảm IL từ 01/7/2003, các dòng thuế có mức thuế cao sẽ đưa xuống 20% và giảm dần xuống 0 - 5% vào năm 2006 Danh mục này bao gồm các nhóm hàng dầu thực vật, bánh kẹo, rau quả chế biến, clinker, xi măng, thiết bị vệ sinh, giấy báo, giấy in, giấy vệ sinh, hóa chất, mỹ phẩm, kính xây dựng, điện tử, điện lạnh, quần
áo, giày dép, Nhóm thứ ba, là danh mục nhạy cảm gồm hàng nông sản chưa chế biến, chủ yếu cần bảo hộ cao, như thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc gạo lức,
Trang 6đường mía Nhóm này có 53 dòng thuế (theo AHTN là 89 dòng thuế) bắt đầu giảm thuế từ 01/01/2004 và kết thúc vào 01/01/2013 với mức thuế cuối cùng là 0 - 5% Riêng mặt hàng đường sẽ kết thúc vào 01/01/2010 Nhóm thứ tư, là danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) gồm các sản phẩm không cam kết trong AFTA vì lý do an ninh quốcgia, đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống con người và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ học Việt Nam cũng đưa vào một số mặt hàng cần bảo hộ cao hơn như ô-tô, xe máy nguyên chiếc có dung tích dưới 250cc Nhóm này có 158 dòng thuế (AHTN là 415 dòng) Như vậy, lộ trình cắt giảm theo danh mục phải cắt giảm ngay IL và danh mục loại trừ tạm thời, lộ trình của Việt Nam chậm hơn sáu nước thành viên cũ là ba năm Hai nhóm nhạy cảm và loại trừ hoàn toàn thời gian dài hơn, đến năm 2010 hoặc 2015.
Theo những khuyến nghị của ASEAN về đẩy nhanh việc thực hiện AFTA, Bộ Tài chính đã xây dựng Lịch trình đẩy nhanh CEPT giai đoạn 2003-2006 (CV 7955
TC/QHQT ngày 19/7/2002) Tại Hội nghị Hội đồng AFTA (16/9/2002 tại Brunei) chophép các nước khó khăn được áp dụng cơ chế linh hoạt trong việc thực hiện đẩy nhanh AFTA/CEPT (đã được HNCC ASEAN 8 tháng 11/2002 thông qua) Do vậy, lịch trình cắt giảm thuế CEPT/AFTA giai đoạn 2003-2006 sẽ là 76% đạt thuế suất 0-5% vào 2003, 87% đạt thuế suất 0-5% vào 2005 và 100% đạt thuế suất 0-5% vào
2006 trong đó 56% đạt 0% Việt Nam cũng nhất trí nguyên tắc giảm toàn bộ thuế quan xuống 0% vào năm 2015 với một số linh hoạt đến 2018
Ngoài ra, từ tháng 7/2003, Việt Nam cam kết áp dụng Danh mục Thuế quan Hài hòa Chung ASEAN (AHTN), do đó Danh mục CEPT 2003 sẽ được chuyển đổi theo biểu thuế nhập khẩu mới Việc chuyển sang Danh mục Thuế quan Hài hòa Chung ASEAN
sẽ giúp các doanh nghiệp dễ tra cứu các mã số và tên hàng hóa khi thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu với các nước ASEAN
(c) Áp dụng các biện pháp phi thuế quan
Bên cạnh việc cắt giảm hàng rào thuế quan Việt Nam cũng đã chuẩn bị tiến tới việc cắt giảm hàng rào phi thuế quan theo quy định của CEPT, vì việc mở cửa thị trường
sẽ không có ý nghĩa nếu như hàng rào thuế quan được cắt giảm song hệ thống phi thuế quan vẫn được duy trì Cụ thể một mặt hàng dù được cam kết giảm thuế từ 100%xuống 0% vẫn không thể kinh doanh được nếu như nó bị áp đặt cấm nhập khẩu Hiện Việt Nam đang áp dụng các biện pháp phi thuế như: hạn ngạch, giấy phép, phụ thu đến bảo hộ thị trường nội địa Các biện pháp này không đạt hiệu quả cao như một số các biện pháp khác mà các nước thường sử dụng như: sử dụng các quy định vềtiêu chuẩn vệ sinh, bao bì, về mức độ gây ô nhiễn môi trường cho phép… Do vậy, việc dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan là rất phức tạp và chỉ có thể thực hiện thông qua việc hài hoà hoá hoặc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế chung hay công nhận các tiêu chuẩn của nhau Hiện Việt Nam đang cùng các nước thành viên ASEAN khác tiến hành hài hòa hóa các biện pháp phi thuế quan nhất là các biện pháp mang tính kỹ thuật và quản lý chất lượng
(d) Cải tiến hệ thống hải quan
Trang 7Để thực hiện tốt yêu cầu của CEPT đẩy mạnh quá trình tự do hoá thương mại giữa cácnước thành viên thuộc ASEAN, việc cải tiến hệ thống hải quan có ý nghĩa quan trọng.Chế độ hải quan của Việt Nam có nhiều điểm còn cách biệt so với các nước thành viên ASEAN, vì vậy từ năm 1996 đến nay Hải quan Việt Nam đã và đang phối hợp với các nước thuộc ASEAN để giải quyết những vấn đề có liên quan tới Hải quan như:
1 Thống nhất danh mục biểu thuế quan của các nước ASEAN
2. Thống nhất phương pháp xác định trị giá để tính thuế
3. Thống nhất về thủ tục hải quan giữa các nước thành viên ASEAN
4. Triển khai Hệ thống luồng xanh để nhanh chóng hoàn thành các thủ tục hải quan cho các sản phẩm của chương trình CEPT
5. Lập tờ khai hải quan chung
Tóm lại, từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã thực hiện được những bước đi quan trọng vừa đảm bảo tính thận trọng, tránh được sự xáo trộn lớn trong hoạt động và điềuhành nền kinh tế, vừa nhanh chóng kịp thời thực hiện lịch trình tham gia AFTA theo Hiệp định CEPT nhằm đảm bảo tham gia hội nhập một cách có hiệu quả
Tìm hiểu về WTO
WTO – Hiệp hội thương mại thế giới là sân chơi chung cho thị trường toàn cầu Là Tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh điều chỉnh những hoạt động buôn bán đa phương mang tính chất tương đối tự do, công bằng và tuân thủ những luật lệ rõ ràng
Là Tổ chức Quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế,
đó là những hiệp định đã và đang tiếp tục được đàm phán và ký kết giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ quan thuế thành viên
WTO hiện chiếm 97% giao dịch thương mại thế giới
HỆ THỐNG
Được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 1995 theo vòng đàm phán Urguay ( 1896- 1994).Trụ sở chính: Geneva, Thụy Sĩ
Thành viên: 149 quốc gia ( 11/2005_
Quỹ ngân sách: 175 triệu Franc Thụy Sĩ vào năm 2006
Trang 8Hội đồng thư ký: 635 thành viên
Người đứng đầu: Pascal Lamy (Director-General)
Hội phí của mỗi thành viên được tính theo mức % thương mại của nước đó trong tổng kim ngạch thương mại thế giới
CHỨC NĂNG CƠ BẢN
Chức năng cơ bản:
-Quản lý, điều hành các hiệp định thương mai WTO
-Diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại
-Giải quyết các tranh chấp thương mại
-Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia thành viên
-Trở giúp về mặt kỷ thuật và đào tạo cho các nước đang phát triển
- Từ đó đến nay, GATT đã trãi qua 8 vòng đàm phán chủ yếu Tuy nhiên, do thương mại không ngừng phát triển, các vấn đề trong các cuộc đàm phán ngày càng mở rộng Với tư cách là một sự thỏa thuận GATT có những hạn chế về quyền hạn
- Để chấm dứt tình trạng nan giải đó, các bên tham gia GATT quyết tâm thành lập WTO với đầy đủ tư cách là một tổ chức Quốc tế toàn cầu, đặt nền móng cho một hệ thống thương mại đa phương bền vững trong tương lai
- Ngày 15 tháng 04 năm 1994 tại Marốc, các nước thành viên đã ký hiệp định thành lập
tổ chức thương mại thế giới Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ
Trang 9thống Liên hiệp quốc và đi vào hoạt động từ 01 tháng 01 năm 1995.
1) Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định bao gồm :
- Hội nghị Bộ trưởng ( Ministerial Conference) là cơ quan quyền lực cao nhất, nhóm họp
ít nhất hai năm một lần Là đại diện cấp Bộ trưởng thương mại của các quốc gia thành viên Có thẩm quyền quyết định mọi vấn đề, mọi quyết định phải thông qua 3/4 số phiếu của các thành viên
2) Cơ quan thường trực:
-Đại Hội đồng, có chức năng giải quyết và điều phối mọi hoạt động của WTO
Đồng thời đóng vai trò là "Cơ quan giải quyết tranh chấp" ( Dispute Settlement Body) và
"Cơ quan rà soát chính sách" (Trade Policy Review Body)
-Là các quan chức tương đương cấp thứ trưởng của các quốc gia thành viên Nhóm họp khi có yêu cầu (trung bình 9 lần/năm)
-Dưới Đại hội đồng là các Hội đồng trực thuộc và các Ủy ban tương ứng như:
Hội đồng Thương mại hàng hóa ( Council for Trade in Goods )
Hội đồng Thương mại dịch vụ ( Trade in Sevices)
Hồi đồng về quyền sở hữu trí tuệ (Council for Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights)
và các Ủy ban trược thuộc tương ứng (hình trên)
Các hội đồng trên chịu trách nhiệm việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thươngmại tương ứng Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên
Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS;
3) Cuối cùng là các cơ quan thực hiện chức năng hành chính:
- Ban Thư ký WTO gồm 1 Tổng giám đốc và 4 phó tổng giám đốc Được lập bởi Hội nghị bộ trưởng
-Tổng Giám đốc là đại diện hợp pháp của WTO, chức danh và nhiệm kỳ của TGĐ được quyết định bở Hội nghị Bộ trưởng
Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một
số trường hợp, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu
Trang 10Khác với các tổ chức khác, mỗi thành viên chỉ có quyền bỏ 1 phiếu và các phiếu có giá trịngang nhau
NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
Toàn bộ hoạt động của WTO dựa trên một loạt các văn bản pháp lý đề cập tới rất nhiều lĩnh vực thương mại
Tuy nhiên các văn bản pháp lý này chỉ dựa trên một số nguyến tắc sau:
- Không phân biệt đối xử
- Thương mại ngày càng tự do thông qua đàm phán
-Xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán
- Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng
- Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam (WTO)
Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam
- 4-1-1995: Đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam được Đại hội đồng tiếp nhận
- 31-1-1995: Ban xem xét công tác gia nhập (WP) của Việt Nam được thành lập với chủ tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO
- 24-8-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương VN và gửi tới Ban thư kýWTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác
Năm 1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời với ban xem xét công tác xét duyệt
Đầu năm 2002: Việt Nam gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO và bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bản chào ban đầu
về thuế quan và dịch vụ
- 9-10-2004: Việt Nam và EU đạt thỏa thuận về việc Việt Nam gia nhập WTO
- 9-6-2005: Việt Nam và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mở đường cho Việt Nam sớm gia nhập WTO
- 12-6-2005: Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang Washington trước thềm chuyến thăm Mỹ chính thức của Thủ tướng Phan Văn Khải với quyết tâm đi đến kếtthúc đàm phán song phương
- 18-7-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để Việt Nam gia nhập WTO
-31-5-2006: Ký thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương với Mỹ - nước cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
- 26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các nước Cuộc đàm phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không thể kết thúc được cho đến phút
Trang 11chót
- Ngày 07 tháng 11/2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chức này
Thủ tục gia nhập WTO bao gồm các bước (hoặc các giai đoạn):
- Nộp đơn xin gia nhập;
- Ðàm phán gia nhập;
- Kết nạp
a Nộp đơn xin gia nhập:
Nộp đơn là bước đầu tiên và bắt buộc đối với một nước xin gia nhập WTO
Ðồng thời với việc tham gia Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng 1995; là thành viên đồng sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) vào tháng 3-1996; tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11-1998; Việt Nam đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
7-1-1-1995, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO WTO tiếp nhận đơn xin gia nhập củaWTO của Việt Nam và Việt Nam trở thành quan sát viên của tổ chức này
31-1-1995, Nhóm công tác (của WTO) về việc Việt Nam gia nhập WTO được thành lập
b Ðàm phán gia nhập:
Ðể gia nhập WTO, tất cả các thành viên xin gia nhập đều phải tiến hành các cuộc đàm phán Nói cách khác, để gia nhập WTO, các nước xin gia nhập phải cam kết đưa ra nhữngnghĩa vụ (cam kết mở cửa thị trường, cam kết tuân thủ các hiệp định của WTO) mà mình
sẽ chấp thuận khi trở thành thành viên của WTO để đổi lấy những quyền (những ưu đãi
do các nước thành viên của WTO dành cho, được hưởng lợi từ hệ thống thương mại đa biên với các luật chơi của WTO, được sử dụng các quy tắc giải quyết tranh chấp của WTO ) mà WTO đem lại Ðể gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải thực hiện các cuộc đàm phán xin gia nhập
Giai đoạn đàm phán bao gồm các bước sau:
- Minh bạch hoá chính sách:
Trang 12Minh bạch hoá chính sách là việc chính phủ nước xin gia nhập phải thông báo, mô tả (phác hoạ) bức tranh chung về các cơ chế, chính sách thương mại, kinh tế của nước mình
có liên quan đến các hiệp định của WTO Việc minh bạch hoá chính sách được thực hiện thông qua việc Việt Nam gửi bản Bị vong lục về cơ chế ngoại thương của Việt Nam (trình bày về hệ thống chính sách thương mại - kinh tế của Việt Nam) tới Nhóm công tác
về việc Việt Nam gia nhập WTO (sau đây gọi là Nhóm công tác) để Nhóm công tác xem xét Tất cả các thành viên đều có thể tham gia Nhóm công tác này Nhóm công tác là tổ chức chịu trách nhiệm thụ lý đơn xin gia nhập
Trong quá trình Nhóm công tác xem xét, tất cả các nước thành viên WTO đều có thể yêu cầu trả lời những câu hỏi mà họ quan tâm
Việt Nam đã trả lời khoảng 2.600 nhóm câu hỏi do các thành viên WTO đưa ra và đã thông báo hàng chục ngàn trang văn bản cho các thành viên WTO về hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan đến các lĩnh vực thuế, đầu tư, nông nghiệp, thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ
Theo quy định của WTO, khi việc xem xét của Nhóm công tác đã có những bước tiến đáng kể, nước xin gia nhập có thể bắt đầu các cuộc đàm phán.
- Ðàm phán mở cửa thị trường:
Việc đàm phán được thể hiện ở 2 phương diện: đàm phán đa phương và đàm phán song phương
Ðàm phán đa phương: về mặt hình thức chính là các cuộc họp giữa Việt Nam với
Nhóm công tác Các cuộc họp này được tiến hành ở Geneva, trụ sở của WTO Về mặt thực chất, đây là các cuộc họp nhằm tổng kết hoá các cam kết của Việt Nam Tính đến 12-2005, Việt Nam đã tiến hành 10 phiên đàm phán đa phương.
Ðàm phán song phương: là đàm phán giữa Việt Nam (nước xin gia nhập) với từng thành
viên khác nhau của WTO bởi vì mỗi nước thành viên có những lợi ích thương mại và yêucầu, toan tính khác nhau Như đã nói ở trên, về mặt bản chất, khi gia nhập WTO, Việt Nam có quyền tiếp cận thị trường của tất cả các thành viên WTO, được hưởng quyền ngang với các thành viên khác của WTO, trong đó bao gồm cả việc được hưởng những kết quả đàm phán giữa các thành viên khác với nhau, theo nguyên tắc tối huệ quốc của WTO
Mặc khác, Việt Nam cũng phải đưa ra mức thuế suất thấp và loại bỏ các hàng rào phi thuế để các thành viên khác tiếp cận được thị trường Việt Nam Ðồng thời, Việt Nam phải cam kết tuân thủ các quy định trong các hiệp định của WTO liên quan đến việc mở cửa thị trường cho các đối tác thương mại
Do vậy, nói một cách khác, các cuộc đàm phán song phương nhằm xác định các lợi ích
mà các thành viên của WTO có thể thu được từ việc gia nhập của một thành viên mới Khi các cuộc đàm phán song phương này kết thúc và Việt Nam trở thành thành viên