Từ đó, một giai cấp mới hình thành từ những quan lại và nông dân giàu có, gồm những kẻ có nhiều ruộng đất tư gọi là địa chủ.. Trong chính sách xử lí ruộng đất công, đáng chú ý nhất là
Trang 1Môn: Lịch Sử Thế Giới Trung Đại Nhóm thuyết trình: Nhóm 2
Trang 2CÁC NỘI DUNG CHÍNH
I-Tình hình chính trị.
1-Tóm lược biên niên các triều đại.
2.Sự hình thành xã hội phong kiến và tổ chức bộ máy Nhà nước.
II – Tình Hình Kinh Tế.
1 Nông nghiệp.
2 Thủ công nghiệp và thương nghiệp.
3 Chế độ ruộng đất.
3.1 Ruộng đất của nhà nước - Chế độ quân điền.
3.2 Ruộng đất tư nhân.
a/Tình hình ruộng đất tập trung vào tay đại địa chủ.
b/Chế độ điền trang.
c/Ruộng đất của chùa
d/Những chính sách hạn chế ruộng đất tư của nhà nước.
III Quan hệ giai cấp.
1 Giai cấp địa chủ.
2.Giai cấp nông dân.
3 Tầng lớp công thương.
4 Tầng lớp nô lệ.
IV Phong Trào Nông Dân.
V Văn Hóa và Khoa Học Kĩ Thuật.
Trang 3I Tình Hình Chính Trị.
Trang 4Bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông
Trang 52 Sự hình thành xã hội phong kiến và tổ chức bộ máy Nhà nước.
Khoảng 2000 năm TCN, trên lưu vực
sông Hoàng, xã hội có giai cấp đầu tiên
của Trung Quốc đã được hình thành
Cư dân cổ Trung Quốc là những người
có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi, trông
kê, cao lương, dệt vải, đúc đồng Từ thế
kỉ XV TCN, người Trung Quốc bắt đầu
biết sử dụng công cụ bằng sắt Nghề
luyện sắt đã phát triển nhanh chóng
Các nơi Nam Dương, Hàm Đan, Lâm
Tri đều trở thành trung tâm luyện sắt
Việc sử dụng rộng rãi đồ sắt đã thúc
đẩy nông nghiệp phát triển và khai khẩn
thêm đất đai, mở rộng diện tích canh
tác, đẩy mạnh việc làm thủy lợi, giao
thông thuận lợi Nhờ đó năng xuất lao
động lên cao, xã hội ngày càng biến đổi
sâu sắc.
Trang 6Do sản xuất phát triển và đất đai được khai khẩn
ngày một tăng đã làm cho của cải tư hữu trong tầng lớp quan lại và nông dân giàu tăng lên Ngay thời
Chiến Quốc, ruộng đất tư ở Trung Quốc xuất hiện
ngày một nhiều Họ đã dùng cả quyền lực để chiếm đoạt ruộng đất công rồi biến thành ruộng đất tư Từ
đó, một giai cấp mới hình thành từ những quan lại và nông dân giàu có, gồm những kẻ có nhiều ruộng đất
tư gọi là địa chủ Giai cấp địa chủ ở Trung Quốc, cũng giống như ở các nước phương Đông, bao gồm hai
tầng lớp địa chủ yếu là địa chủ quan lại và đại chủ
thường.
Ngược lại, một số khá đông nông dân công xã ngày càng nghèo túng, bị mất hết hay mất phần lớn ruộng đất, phải xin nhận cấy thuê cho địa chủ Khi nhận
ruộng, họ đã trở thành tá điền của địa chủ và phải nộp một phần hoa lợi cho địa chủ gọi là tô ruộng đất,
thường bằng 5/10 thu hoạch Đó là tầng lớp nông dân lĩnh canh.
Trang 7Như thế, từ khi chế độ tĩnh điền tan rã, công xã bị rạn nứt, nông dân thời cổ cũng bị phân hóa Một bộ phận
đã trở thành nông dân lĩnh canh, còn một số nông dân vẫn giữ được đất đai của mình và trở thành nông dân
tự canh Họ là những người cày cấy trên ruộng đất
của mình (hoặc được nhà nước phong kiến cấp đất
cho theo chính sách quân điền) Họ là những người
được tự do, nhưng vẫn nộp thuế ruộng (thường bằng 1/10 thu hoạch) và phải tham gia lao dịch cho Nhà
nước.
Với sự hình thành giai cấp chính là địa chủ và nông
dân, quan hệ xã hội về chính trị và kinh tế đã thay
đổi Trước kia, khi chế độ công xã còn tồn tại, quan hệ chủ yếu là quan hệ bót lột của quý tộc đối với nông
dân công xã Quan hệ đó giờ đây đã dần dần nhường chỗ cho quan hệ bót lột tô của địa chủ đối với nông
dân lĩnh canh : quan hệ phong kiến bắt đầu hình
thành trong xã hội Trung Quốc.
Trang 8Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, Hoàng đế
có quyền tuyệt đối Dưới Hoàng đế là hệ
thống quan lại được tổ chức chặt chẽ từ trug
ương đến địa phương Ở triều đình, dưới vua
có các chức quan, cao nhất là Thừa tướng giúp vua trông coi việc chung, giải quyết việc chính trị và Thái úy trông coi việc binh Cùng với hai quan văn, quan võ còn còn có Ngự sử đại phu phụ trách văn thư và giám sát các quan Ba
chức này gọi là Tam công Dưới nữa là Cửu
khanh gồm 9 chức quan phụ trách các công
việc cụ thể khác nhau như: thuế, hình pháp,
điền chương, lễ nghi, tài chính… Hoàng đế còn
có quân đội để duy trì trật tự xã hội, trấn áp bên trong và bành trướng xâm lược ra bên ngoài.
Trang 9Hoàng đế
Các quan văn Các chức Các quan võ
Trang 10Các hoàng đế Trung Hoa rất kêu ngạo về quyền
hành và sức mạnh của mình Ỷ thế nước lớn, đông
dân, có nền văn minh phát triển cao, họ tự cho mình
là chúa tể của thiên hạ Tham vọng bành trướng, bá quyền luôn luôn có trong ý thức và hành động của các hoàng đế Trung Quốc Họ coi mình là trung tâm thế
giới, uy quyền “bao trùm thien hạ” “tỏa đến vạn ban”,
do đó họ muốn “muôn nước ở bốn phương đều chạy đến thần phục, tụ họp dưới sân rồng”.
Từ đất gốc Trung Hoa (vùng trung lưu sông Hoàng), các vua Tần rồi Hán lần lượt chiếm đoạt các vùng
xung quanh, đem quân đi thôn tính các nước láng
giềng, trong đó có các nước Việt cổ Nhưng họ đã bị người Âu Việt, Lạc Việt chống trả quyết liệt Quân Tần
bị thua,, tướng Đồ Thư tử trận, buộc phải rút lui
Ý đồ làm bá chủ thế giới của Trung Quốc đã bị thất bại
Trang 11Khởi nghĩa của Hai bà Trưng chống lại nhà Hán năm 40
Trang 12chu kì của các triều đại.
Trang 13Trong nông nghiệp, ruộng tư ngày càng mở rộng ; bên cạnh đó, ruộng công vẫn tiếp tục tồn tại Khi mới thiết lập triều đại của mình, các vua phong kiến Trung Quốc đều thi
hành một số chính sách nhằm khôi phục, phát triển sản xuất và xoa dịu mâu thuẫn giai cấp Đó là việc kêu gọi nhân dân lưu tán trở về quê củ làm ăn, giảm nhẹ tô thuế, sưu dịch
và sửa chữa, xây dựng các công trình thủy lợi ; đồng thời, kĩ thuật
sản xuất cũng không ngừng được cải tiến, kinh nghiệp sản xuất được viết thành sách và phổ biến cho
nhân dân Diện tích gieo trồng
được mở rộng, do đó, năng xuất và tổng sản lượng đều tăng
Trang 14Dưới thời Đường, kinh tế phát triển cao hơn các thời đại trước
về mọi mặt Đặc biệt nhà
Đường thực hiện thực hiện việc lấy đất công và ruộng bỏ hoang đem chia cho nông dân Đó là
chế độ quân điền
Ở thời Nguyên, nông nghiệp
cũng đạt được một số thành
tựu, nhất là nghề trồng bông Dưới thời Minh, nông nghiệp có một số tiến bộ về kĩ thuật gieo trồng, một số giống cây trồng mới được đưa vào Trung Quốc như thuốc lá Đến nhà Thanh, lúc đầu cũng rơi vào cảnh tiêu điều cho đến thời vua Càng
Long nông nghiệp mới được
phục hồi
Trang 15Nhìn toàn bộ, nông nghiệp Trung Quốc thời phong kiến có nhiều thành tựu Nhưng trong quá trình phát triển, cùng với sự thịnh suy
có tính chất chu kì về chính trị, nền nông nghiệp cùng các ngành kinh tế khác cũng phát triển và suy thoái một cách tương ứng
Vì vậy, Mác đã nhận định: “… Ở các nước Châu Á, nông nghiệp
bị suy sụp dưới sự cai trị của
chính phủ này, nhưng lại được khôi phục dưới sự cai trị của một chính phủ khác Ở đây, thu
hoạch cũng là tùy ở chính phủ tốt hay xấu, giống như các nước
Châu Âu mức thu hoạch là do
thời tiết tốt hay xấu”
Trang 16
Nền thủ công nghiệp của Trung Quốc sớm phát triển Đầu thời phong kiến, một số nghề tăng nhiều, quy mô sản xuất mở rộng, kĩ thuật ngày một tinh xảo.
Trước hết phải kể đến nghề luyện sắt, đúc gang, luyện thép của Trung
Quốc Người Trung Quốc biết dùng
đồ sắt từ sớm , là người đầu tiên chế tạo ra gang , lại là người đầu tiên
luyện gang thành thép Họ gọi gang
là “sinh thiết”, thép là “đại thiết” và
rèn sắt là “thục thiết” Để làm “chín” sắt, người Trung Quốc đã biết phải làm mất đi một số chất cơ bản mà
người ta gọi là “sinh diệt mệnh” Cuối Hậu Chu, vua Thế Tông (951-960)
đã cho dựng một bức tượng thú lớn cao 6m gọi là “đại thiết sư” ở Thương Châu (Hà Bắc) để kỉ niệm chiến
thắng Hung nô năm 954 Tãi Đương Dương (Hồ Bắc), có tháp Ngọc
Tuyền hoàn toàn bằng gang cao 13m được dựng vào năm 1601.
Trang 17Đồ gốm cũng xuất hiện sớm Tại khu lăng mộ Tần Thủy
Hoàng, người ta đã phát hiện
8000 binh mã là tượng gốm hỗn hợp cả xa, kị, bộ binh
với hành ngủ chỉnh tề, như dàn thành tế trận Đến thời Đường, nghệ thuật gốm sứ
có những bước tiến mới Đồ
sứ ba màu là sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước
Qua thời Tống, đến thời
Minh, đồ gốm, sứ của Trung Quốc đạt đến trình độ kỉ
thuật và chất lượng nghệ
thuật cao Đến thế kỉ XV, khi
đồ sứ của Trung Quốc phát triển thì ở Châu Âu thứ này còn gọi là vật quý hiếm.
Trang 18GỐM SỨ THỜI MINH
Trang 19GỐM SỨ THỜI MINH
Trang 20Nghề đóng thuyền ở Trung Quốc
cũng phát triển sớm Họ đã đóng được nhiều loại thuyền cao đến 5 tầng Do vậy, mà hành hải Trung Quốc cũng có bước tiến Từ thời Đường, qua thờ Tống, các hoạt
động giao thương trên biển được
mở rộng Triều Minh đã tổ chức
nhiều cuộc thám hiểm hàng hải,
đưa các hạm đội và thủy thủ đến tận Đông Phi
Các nghề làm giấy, đồ sơn, dệt vải, in… cũng đều phát triển từ rất sớm, trong đó một số nghề giữ vai trò
quan trọng trong đời sống xã hội ở Trung Quốc Các hình thức
phường hội thủ công, cùng với việc lập đền thờ những người đầu tiên truyền nghề của phường hội cũng
đã xuất hiện
Trang 21Do nông nghiệp và thủ công nghiệp
sớm phát triển, nên nội thương và
ngoại thương của Trung Quốc
cũng có những bước tiến Trung
Quốc không chỉ buôn bán với các
nước vùng Trung Á, mà buôn bán
với phương Tây theo “con đường
tơ lụa” Con đường này được duy
trì trong 10 thế kỉ, nó đã góp phần
to lớn vào sự giao lưu kinh tế, văn
hóa với các dân tộc trên thế giới
Hàng hóa khác bằng trúc, bằng
sứ… cùng với kĩ thuật nuôi tằm,
dệt lụa của Trung Quốc được đưa
sang Trung Á và Châu Âu Ngược
lại, Trung Quốc còn du nhập nền
văn minh của các dân tộc khác
Trên cơ sở phát triển của công
thương nghiệp, các thành thị của
Trung Quốc thời phong kiến cũng
trở nên đông đúc, nhộn nhịp Con đường tơ lụa
Trang 22Con đường tơ lụa từ Trung Quốc đến Ấn Độ -Lưỡng Hà và Địa Trung Hải
Trang 23Đến cuối thời Minh, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu xuất hiện Nhiều công trường thủ công được ra đời trong các ngành luyện sắt, đồ sứ, làm
giấy…, các chủ xưởng là những người giàu
có nắm trong tay hàng vạn bạc vốn, thuê hàng chục thợ Những người thợ này “làm công ăn lương” cho chủ của họ Quan hệ của họ là “chủ xưởng xuất vốn, còn thợ thì xuất sức” Hoạt động của những người lái buôn vào cả lĩnh vực nông nghiệp Họ xuất vốn cho nông dân trồng mía vào mùa xuân
và thu lại bằng đường vào mùa đông Song cho đến thế kỉ XIX, mầm mống tư bản chủ nghĩa còn nhỏ yếu, chưa gây được ảnh
hưởng trong xã hội Trung Quốc Nền kinh
tế tự nhiên trước sau vẫn chiếm địa vị
thống trị Các thành phố lớn như: Tràng An, Lạc Dương (thời Tùy, Đường), Bắc Kinh, Nam Kinh (thời Nguyên, Minh, Thanh) mặc
dù đông vui, phồn thịnh nhưng vẫn là trung tâm chính trị Do sự rối loạn về chính trị có tính chất chu kì, nên kinh tế công thương nghiệp Trung Quốc, mặc dù đạt được nhiều thành tựu to lớn và có những mặt đứng
hàng đấu thế giới (tơ lụa, sứ), vẫn không phát triễn được nhanh chóng, thuận lợi.
Trang 243 Chế độ ruộng đất.
Thời cổ đại, cũng như ở các nước phương đông khác, ruộng đất
ở Trung Quốc thuộc quyền sở hữu của nhà nước Đến thời
Xuân Thu-Chiến Quốc, chế độ thái ấp và chế độ tỉnh điền dần dần tan rã, ruộng đất tư hữu bắt đầu ra đời và không ngừng
phát triển Do vậy, từ thời Tần đến thời Thanh, ở TQ có 2 hình thái sở hữu ruộng đất cùng tồn tại, đó là ruộng đất của nhà
nước và ruộng đất của tư nhân
3.1 Ruộng đất của nhà nước-Chế độ quân điền.
Bộ phận ruộng đất thuộc quyền quản lí trực tiếp của nhà nước trong sử sách TQ thường được gọi bằng các tên như : Công điền,Vương điền ,quan điền Nguồn gốc của loại ruộng đất vôn
do nha nước quản lí còn có ruộng đất vắng chủ sau những thời
kì chiến tranh bạo loạn Do vậy, thông thường trong thời kì đầu, các triều đại phong kiến TQ nắm được rất nhiều ruộng đất
Trên cơ sở ấy, các triều đại phong kiến đem ruộng dất ban cấp cho các quý tộc, quan lại, 1 bộ phận thì tổ chức thành đồn điền, điền trang để sản xuất hoặc giao cho nông dân dưới hình thức quân điền để thu thuế
Trang 25Trong chính sách xử lí ruộng đất công, đáng chú ý nhất
là chế độ quân điền tồn tại từ cuối TK V đến TK
VIII.Tuy về quy định cụ thể, chính sách quân điền của các triều đại có ít nhiều khác nhau, nhưng tinh thàn
chung là :
Nhà nước đem ruộng đất do mình trực tiếp quản lí
chia cho nông dân cày cấy (Thời Bắc Ngụy, đàn ông
từ 15 tuổi trở lên được cấp 40 mẫu ruộng trồng lúa gọi
là "lộ điền" và 20 mẫu ruộng trồng dâu; đàn bà được cấp 20 mẫu ruộng trồ úa; nô tì cũng được cấp như
người tự do; bò cày được cấp mỗi con 30 mẫu Nếu ruộng đất thuộc loại ruộng đất phải dể nghỉ 1-2 năm
thì được nhận gấp đôi hoặc gấp 3 Thời Đường quy
định, đàn ông từ 18 tuổi trở lên thì được cấp 80 mẫu ruộng trồng lúa gọi là ruộng "khẩu phần" và 20 mẫu
ruộng trồng dâu gọi là ruộng "vĩnh nghiệp"; cụ già,
người tàn tật, ốm yếu được cấp 40 mẫu ruộng khẩu phần, bà góa được cấp 30 mẫu ruộng khẩu phần, nếu
là chủ hộ thì được cấp 1/2 suất của tráng đinh )
Trang 26Các quan lại, tùy theo chức vụ cao thấp, được cấp
ruộng đất làm bổng lộc (Thời Bắc Ngụy, quan lại thấp nhất được cấp 6 khoảnh, cao nhất được cấp 15
khoảnh Thời Đường, Quý tộc, quan lại, tùy theo địa
vị, công lao, chức tước mà được ban cấp ruộng vĩnh nghiệp,"ruộng thưởng công" , "ruộng chức vụ" ).
Ruộng trồng lúa từ 60 tuổi phải trả lại cho nhà nước,
ruộng vĩnh nghiệp và ruộng trồng dâu được phép
truyền lại cho con cháu Ruộng chức vụ của quan lại khi thôi chức phải để lại cho người kế nhiệm Trừ
ruộng ban thưởng cho quan lại và quý tộc ra, nói
chung ruộng đất cấp cho nông dân là không được
chuyển nhượng Tuy nhiên trong một số trường hợp
có thể mua bán ruộng đất trồng dâu Nếu nông dân
rời từ chỗ ít ruộng đất sang nơi nhiều ruộng đất thì
được bán cả ruộng khẩu phần
Trang 27Trên cơ sở được cấp ruộng đất theo tiêu chuẩn, nhà nước bắt
nông dân phải chịu nghĩa vụ ngang nhau về mặt thuế khóa và lao dịch Đến thời Tùy, Đường, nghĩa vụ đó được chuyển sang chế độ "tô, dung, điệu"
"Tô" : là thuế đánh vào ruộng khẩu phần, nông dân phải nộp
bằng thóc lúa
"Dung" là thuế hiện vật thay cho nghĩa vụ lao dịch
"Điệu" là thuế đánh vào đất trồng dâu, nhân dân phải nộp bằng
tơ lụa, vải bông
Như vậy, mục đích của chế độ quân điền là nhằm đảm bảo cho nông dân có đất cày cấy, do đó đảm bảo nguồn thuế khóa cho nhà nước
Sau khi thi hành chế độ quân điền, những nông dân không có hoặc có ít ruộng đất, những người đi lưu tán trở về quê hương đều được cấp ruộng đất.Họ trở thành nông dân cày cấy ruộng đất công, thoát khỏi sự lệ thuộc vào địa chủ Hơn nữa, do việc giao ruộng đất cho nông dân, toàn bộ ruộng đất bị bỏ hoang lại được phát triển Vì vậy , thu nhập của nhà nước được tăng lên, đời sống cua nhân dân dược cải thiện
Trang 28Chế độ quân điền là một chính sách chung của cả nước, nhưng thời Tùy, Đường, chế độ đó thực
sự chỉ được thi hành ở miền Bắc-nơi co nhiều
đất vô chủ hơn nữa, ngay cả ở miền bắc, chế
độ này cũng không dược thi hành triệt để.
Cho đến cuối chế độ phong kiến, bộ phận ruộng đất của nhà nước vẫn tồn tại nhưng ngày càng
bị thu hẹp Với số ruộng đất do nhà nước trực
tiếp quản lí, các triều đại từ Tống về sau chỉ đem ban cấp cho quan lại, một bộ phận thì lập đồn
điền, điền trang được gọi là "hoàng trang",
"quan trang", "tỉnh trang", chứ không có chính sách gì mới.
Trang 293.2 Ruộng đất tư nhân.
a/Tình hình ruộng đất tập trung vào tay đại địa chủ.
Bắt đầu từ thời Chiến Quốc, ruộng đất tư nhân ở TQ xuất hiện ngày một nhiều, đến thời Tần, Hán, phần lớn ruộng đất trong
nước đều tập trung vào tay địa chủ
Cùng với sự tiến triển của lịch sử, giai cấp địa chủ ngày càng
giàu, đồng thời ngày càng xuất hiện nhiều địa chủ lớn chiếm
hữu rất nhiều ruộng đất Thời Hán, các địa chủ thuongf có hàng trăm khoảnh ruộng Từ thời Đường về sau, việc phong cấp
ruộng đất lại càng phóng tay hơn Ngoài số ruộng đất được cấp, các địa chủ còn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, tìm cách biến ruộng công thành ruộng đất của mình
Hiện tượng tập trung vào tay giai cấp địa chủ đời Nguyên lại
càng nghiêm trọng hơn vì các thân vương, quý tộc Mông Cổ
được vua ban cho rất nhiều ruộng đất(vd; Bá Nhan-2 vạn
khoảnh) Nhân tình hình đó các địa chủ Hán tôc cũng đua nhau chiếm đoạt ruộng đất
Đầu thời Minh, Chu Nguyên Chương có quy định, ruộng đất ban tặng cho các công thần, công hầu, thừa tướng nhiều nhất là 100 khoảnh, còn thân vương được 1000 khoảnh Đến cuối thời
Minh, con số đó lên tới hang ngàn, hàng vạn khoảnh (Phúc
Vương-2 vạn khoảnh, Ngụy Trung 1 vạn khoảng …
Trang 30b/Chế độ điền trang.
Trên cơ sở ruộng đất phần lớn tập trung vào tay các đại địa chủ, từ thời Đông
Hán,tổ chức điền trang đã ra dời và tồn tại lâu dài trong lịch sử.
Tương tự như trang viên phong kiến ở Tây Âu, điền trang là nhưng đơn vị tự
cung tự cấp,tự túc Trong các điền trang, ngoài các loại cây lương thực còn có các vườn cây ăn quả, ao cá, các bãi chăn nuôi, Trồng các loại cây cung câp nguyên liệu cho thủ công như đay,dâu Trong các điền trang còn có các nghề thủ công như nuôi tằm dệt lụa, dệt vải, làm công cụ, làm binh khí có thể cung cấp đủ các nhu cầu hàng ngày cho chủ điền trang và trang dân Những người lao động trong các điền trang từ Đông Hán đến Nam Bắc triều đều là "điền khách", "bố khúc" của điền trang.
"Điền khách" là nông dân lĩnh canh của điền trang, có nghĩa vụ nộp tô cho chủ.
"Bộ khúc" la những điền khách được luyện tập quân sự, ngày thường thì sản xuất nông nghiệp, khi có chiến sự thì trở thành lực lượng tự vệ của điền trang.
Ngoài điền khách và bộ khúc, nô tì vẫn giữ vai trò khá quan trọng trong sản xuất, nhất là trong thủ công nghiệp.
Trong những thời kì chính quyền trung ương suy yếu, đất nước loạn li, các điền trang trở thành cơ sở của các lực lượng phong kiến, mang ít nhiều tính chất độc lập, nhưng nói chung điền trang ở Trung Quốc tồn tại trong điều kiện có bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương nên nó không phải là các đơn vị hành chính và tư pháp.
Đến thời Đường, Tống, số điền trang trong nước ngày càng nhiều, tính chất tự
nhiên của kinh tế điền trang co phần giảm sút Mặt khác, thân phận của lực lượng sản xuất chủ yếu trong các điền trang thuần túy là những tá điền của địa chủ.
Do không co sự đột biến về kinh tế-xã hội, hình thức điền trang còn tồn tại lâu dài, nhưng những thay đổi trên là những biểu hiện của sự tan rã dần dần trong chế độ điền trang ở Trung Quốc.
Trang 31c/Ruộng đất của chùa, quán.
Bên cạnh địa chủ tư nhân, các chùa quán Phật giáo và Đạo giáo cũng chiếm nhiều ruộng đất Đến thời Nguyên,chế độ Phật giáo và Đạo giáo ngày càng mạnh Ruộng đất của chùa, quán tăng nhanh chóng Ngoài ruộng đất được ban,các nhà
sư còn chiếm đoạt ruộng đất của dân
Ngoài ruộng đất của địa chủ và các chùa
quán,còn có ruộng đất của nông dân tự canh Bộ phận đất này tuy ít ỏi và quyền tư hữu ruộng đất của nông dân bấp bênh nhưng vẫn tồn tại trong
suốt thời trung đại của Trung Quốc.
Trang 32d/Những chính sách hạn chế ruộng đất tư của nhà nước.
Trong thời kì lịch sử hơn 2000 năm từ Tần đến Thanh , nói chung phần lớn ruộng đất đều thuộc sở hữu của giai câp địa chủ Tình hình ấy ảnh hưởng tới sự vững chắc của chế
độ tập quyền chuyên chế, đến nguồn thuế khóa, lao dịch của nhà nước Vì vậy các triều đại pk TQ đã nhiều lần ban hành các chính sách nhằm hạn chế sự chiếm hữu ruộng đất một cách vô hạn độ của địa chủ VD:
Chính sách hạn điền của Vương Mãng.
Chính sách quân điền từ Bắc Ngụy đến Tùy Đường.
Chính sách cấm chiếm đoạt ruộng đất của Chu Nguyên
Chương.
Nhưng những chính sách ấy hoặc không thực hiện được, hoặc chỉ đạt được hiệu quả nào đó trong một thời gian
nhất định, do đó hiện tượng giai cấp địa chủ tìm mọi cách
để chiếm đoạt ruộng đất trở thành một xu thế không thế
ngăn chặn được.
Trang 33III Quan hệ giai cấp.
Do đặc điểm của chế độ ruộng đất và nền kinh tế,cơ cấu giai cấp thời trung đại ở Trung Quốc tương đối phức tạp,trong đó bao gồm các giai cấp và tầng lớp sau đây:
1 Giai cấp địa chủ.
Cũng như ở một số nước phương đông khác, giai cấp địa chủ ở
Trung Quốc có thể chia thành hai tầng lớp chủ yếu là địa chủ
quan lại và địa chủ bình dân.
Trong tầng lớp địa chủ quan lại có một bộ phận giàu sang nhất,
có thế lực nhất,đó là loại địa chủ quý tộc phong kiến Loại này bao gồm vương hầu, tôn thất, công thần….Đến thời Tấn, địa
chủ quý tộc trở thành một đẳng cấp đặc biệt gọi là địa chủ môn
phiệt, còn gọi là địa chủ sĩ tộc hay địa chủ thế tộc Đẳng cấp này
có sự phân biệt rất rõ rệt với địa chủ quan lại lớp dưới gọi là địa
chủ hàn môn Về chính trị, họ đời đời giữ những chức vụ lớn và
được quan niệm là thanh cao trong chiều đình.Vì vậy,lúc bấy giờ có câu: “phẩm cao không có hàn môn, phẩm thấp không
có thế tộc”.Về quan hệ xã hội họ không kết thông gia, không đi lại chơi bời tiệc tùng chè chén với địa chủ hàn môn
Trang 34Địa chủ quý tộc là một tầng lớp tồn tại suốt chiều dài của chế độ phong kiến, nhưng do sự thay đổi chiều đại, các dòng họ quý tộc cũng luôn luôn thay đổi.
Địa chủ bình dân là tầng lớp không giữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước.Tuy vậy, bằng biện pháp chiếm đoạt ruộng dất, bóc lột nông dân, có kẻ còn kiêm việc buôn bán, nên một số cũng rất
Nhân khi chính quyền trung ương suy yếu, trật tự xã hội rối
loạn,những nhà phú hào này bắt điền khách luyện tập quân sự để bảo vệ điền trang của mình.Một số đã phát triển thành những tập đoàn quân phiệt rồi đánh lẫn nhau, có khi cũng tham gia vào cuộc đấu tranh triều đình.Nếu thành công, họ liền giữ lấy quyền cao
chức trọng và chuyển thành địa chủ quan lại.
Ngoài ra, từ thời Nam Bắc triều về sau, Phật giáo và Đạo giáo
phát triển nhanh chóng, do đó bên cạnh địa chủ thế tục còn có địa chủ nhà chùa Tầng lớp này cũng có nhiều ruộng dất và nô dịch nhiều nông dân, nhưng ở Trung Quốc vai trò của họ về kinh tế và chính trị không quan trọng lắm.
Trang 352.Giai cấp nông dân.
Từ khi chế độ tỉnh điền tan rã,giai cấp nông dân thời cổ đại phân hóa thành hai loại: một số vẫn giữ được phần đất của mình và
biến thành nông dân tự canh,một số khác bị mật ruộng đất và trở thành nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ Sau đó tuy
ruộng đất và thân phận của nông dân luôn xáo động nhưng hai loại nông dân ấy vẫn tồn tại trong suốt xã hội phong kiến
Nông dân tự canh là nhưng người cày ruộng đất của mình hoặc
của nhà nước cấp cho theo chính sách quân điền Họ co nghĩa
vụ phải nộp thuế thường là bằng 1/10 thu hoạch và phải đi lao
dịch cho nhà nước Về địa vị chính trị họ được coi là dân tự do, nếu có điều kiện học hành và thi cử đỗ đạt thì có thể trở thàh quan lại
Tuy vậy,do áp bức bóc lột của nhà nước phong kiến và do trình
độ của sức sản xuất còn thấp, thiên tai thường xuyên xảy
ra,nên đời sống của họ hết sức cực khổ
Nếu bị phá sản,họ sẻ trở thành nông dân lĩnh canh ruộng đất
của địa chủ, nô tì hoặc phải rời bỏ quê hương đi tha phương cầu thực
Trang 36Nông dân lĩnh canh là người không có hoặc có rất ít ruộng
đất, nên phải trở thành tá điền của địa chủ Họ có nghĩa vụ
phải nộp tô cho chủ ruộng thường là bằng 5/10 thu hoạch
Tuy mức bóc lột thì trước sau không thay đổi, nhưng về thân phận thì tùy theo từng thời kì mà có ít nhiều khác nhau
Thời Tây Hán, loại nông dân tá điền này vẫn là thần dân của nhà nước,nhưng từ thời Đông Hán về sau, trong các trang điền,họ được gọi là điền khách bộ khúc và chỉ lệ thuộc vào địa chủ chứ không có ngĩa vụ đối với nhà nước nữa
Đến thời Nguyên, nông dân lĩnh canh phải nộp tô nặng hơn trước và mức độ lệ thuộc cũng chặt chẽ hơn Nông dân
muốn rời khỏi ruộng đất của địa chủ là một việc rất khó khăn
Ở một số nơi còn có hiện tượng địa chủ can thiệp vào hôn nhân của tá điền và tự ý nô dịch con cái của họ, thậm chí
còn bán tá điền theo ruộng đất Pháp luật triều Nguyên quy định nếu địa chủ đánh chết tá điền thì bị phạt 107 gậy, trong khi đó đánh chết nô tì thì bị phạt 87 gậy
Vua Thái Tổ nhà Minh vốn xuất thân từ bần nông nên tỏ ra chú ý đến đời sông nông dân Ấy vậy mà nếu tá điền gặp
chủ ruộng không kể tuổi tác, phải lấy lễ của người ít tuổi đối
xử với người nhiều tuổi
Trang 37Trong hai loại nông dân nói trên, nông dân tự canh
là lực lượng nộp thuế và nghĩa vụ lao dịch cho nhà nước,còn nông dân tá điền là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai cấp địa chủ.Vì vậy nhà nước muốn duy trì đến mức tối đa tầng lớp nông dân tự canh, còn giai cấp địa chủ thì muốn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và bắt họ lệ thuộc vào mình; do đó dẫn
đến sự giành giật ruộng đất và nông dân giữa nhà nước phong kiến và giai cấp địa chủ.
Do bị áp bức bóc lột nặng nề,nên nông dân Trung
Quốc thường xuyên nỗi dậy khởi nghĩa.Trong các phong trào ấy, thủ lĩnh của họ thường xuyên xưng vương,lập triều đình văn võ giống như chính quyền phong kiến.Một số phong trào đã giành được thắng lợi, do đó tướng lĩnh của họ đã biến thành một tập đoàn phong kiến mới.
Trang 38Thợ thủ công cũng bị nhà nước phong kiến bóc lột nặng
nề.Họ có nghĩa vụ phải nộp thuế và phải làm nghĩa vụ lao
dịch bằng nghề nghiệp của mình Ví dụ,đầu thời Minh thợ thủ công cá thể chia làm hai loại: loại ở kinh đô mỗi tháng phải làm việc cho nhà nước 10 ngày,và các loại ở địa phương cứ
3 năm phải làm cho nhà nước 3 tháng
Những thợ thủ công nghèo khổ không có tư liệu sản xuất thì phải làm thuê cho nhà nước Từ thế kỉ XVI về sau ở một số thàh phố vùng Đông Nam đã xuất hiện thợ làm thuê cho các chủ xưởng tư nhân
Chính sách bóc lột của nhà nước cũng đã dẫn đến sự đấu
tranh của thợ thủ công như trốn lao dịch,đến cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII đã xuất hiện những cuộc bạo động chống các quan hoạn đến thu thuế công thương
Trang 39Xuất phát từ quan niệm nghề buôn là nghề ngọn,
không phải là cơ sở của nền kinh tế phong kiến, vì
vậy các triều đại phong kiến ở Trung Quốc đều thi
hành chính sách kiềm chế sự phát triển kinh tế của
họ như thu thuế nặng,nhà nước giữ độc quyền một
số mặt hàng quan trọng, đồng thời dìm thấp địa vị
chính trị của họ như không cho họ làm quan,xếp họ vào loại cuối cùng trong “tứ dân”
(sĩ,nông,công,thương) Tuy vậy trong những thời kì thái bình, kinh tế phát triển tầng lớp này cũng ngày càng đông đảo, trong đó có một bộ phận rất giàu có,
cho nên pháp luật khinh lái buôn ma lái buôn vẫn
giàu sang, trọng nông phu ma nông phu vẫn nghèo hèn”.
Nhưng do chính sách coi thường nghề buôn, một số nhà buôn giàu có thường mua ruộng đất và trở thành đại thương gia kiêm đại địa chủ Tình hình ấy đã ảnh hưởng nhanh chóng của nền kinh tế hàng hóa và sự nảy sinh quan hệ sản xuất mới.
Trang 404 Tầng lớp nô lệ.
Tầng lớp nô lệ thời trung đại còn gọi là nô tì vẫn còn khá
đông đảo Nguồn nô lệ chính là tù binh, những người
phạm tội và những người quá nghèo khổ phải bán thân
hoặc vợ con Thân phận nô lệ tuy có khá hơn thời cổ đại, nhưng họ vẫn bi coi là một loại hàng hóa để mua bán và trao tặng.Đời Hán giá một nữ tì là 20.000 tiền,bằng giá 5 con ngựa So với thời Tây Chu giá 5 nô lệ mới bằng 1 con ngựa và 1 cuộn tơ,thì giá trị của nô tì lúc này đã hơn trước nhiều Đến đời Nguyên việc mua bán nô tì càng thịnh
hành Ở kinh thành có chợ bán người công khai như chợ bán ngựa cừu.
Sức lao động của nô tì tuy cũng có bị sử dụng vào các
nghành sản xuất như nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công
nghiệp nhưng phần lớn là dùng vào việc hầu hạ trong gia đình quý tộc, địa chủ.Số lượng nô tì trong cac gia đình đó thường rất nhiều.Vi dụ: Lương Kí thời Đông Hán có mấy nghìn nô tì, Thạch Sùng đời Tấn có 800 nô tì.