Vì để làm được bài văn nghị luận, HS cần có được một tâm hồn nhạy cảm, vốn từ vựng phong phú và trong sáng, chuẩn mực, có vốn kiến thức về văn học, kiến thức về đời sống phổ thông và thu
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Khi bàn về việc học Văn, giáo sư Lê Trí Viễn đã từng khẳng định:
“Học Văn rõ ràng là khó Nói như vậy để nêu ra một sự thật Không phải nhằm hù doạ, càng không phải để làm ngã lòng.” Học Văn đã khó, song
làm được một bài văn nghị luận đúng yêu cầu và hay thì lại càng rất khó Vì
để làm được bài văn nghị luận, HS cần có được một tâm hồn nhạy cảm, vốn
từ vựng phong phú và trong sáng, chuẩn mực, có vốn kiến thức về văn học, kiến thức về đời sống phổ thông và thuần thục các kĩ năng xây dựng bài viết thì mới đưa ra được những lí lẽ sắc sảo, chứng cứ tiêu biểu, vững chắc làm cho sự lập luận (về một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn học) mạch lạc, chặt chẽ, lôgíc, thấu tình đạt lí và thuyết phục người đọc, người
nghe.
Nhưng qua nhiều năm giảng dạy, chấm bài Tập làm văn của HS (kể cả
một số bài viết của HS tham gia kì thi “Học sinh Giỏi cấp Huyện” được tổ
chức hàng năm (chúng tôi là Ban giám khảo), chúng tôi nhận thấy năng lực cảm thụ văn học và kĩ năng hành văn của HS còn nhiều yếu kém Hầu hết bài làm văn của các em còn hời hợt, sơ sài, tản mạn, lủng củng, thiếu mạch lạc và khô cứng cảm xúc; mắc nhiều lỗi dùng từ, đặt câu, dựng đoạn văn, liên kết câu và liên kết đoạn văn, chưa thuần thục các kĩ năng làm văn …
Có thể nói chính những yếu kém trên của HS không chỉ gây ra nhiều
khó khăn, trở ngại trong quá trình dạy của thầy và qúa trình học tập của trò
đối với môn Ngữ văn nói riêng cũng như các môn học khác nói chung mà
còn làm mất đi hiệu quả và tính ưu việt của nội dung, chương trình SGK
và phương pháp dạy - học theo hướng tích cực, tích hợp và sẽ xoá nhoà cuộc vận động “Hai không” của Bộ GD & ĐT đã đề ra trong năm học
2006-2007
Chính những điều nói trên đã thực sự thúc đẩy chúng tôi tiến hành phân tích, tìm hiểu nguyên nhân nhằm tìm ra giải pháp khắc phục những yếu
kém trong bài viết văn nghị luận của HS Từ đó, mạnh dạn đề xuất kinh
nghiệm: Một số vấn đề khi hướng dẫn HS viết văn nghị luận với tham
vọng góp một phần thiết thực lấp đầy những lỗ hổng trong bài viết Văn nghị luận của HS khối lớp 9 hiện nay
Do sự trải nghiệm chưa nhiều, do đối tượng tìm hiểu chỉ nằm trong phạm vi hẹp nên kinh nghiệm mà chúng tôi đề xuất có lẽ chưa được toàn diện và có sức thuyết phục cao Vì vậy rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô và quý đồng nghiệp gần xa
Trang 2II PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU:
1 Phạm vi đề tài:
Để tiến hành nghiên cứu và rút ra được kinh nghiệm cho đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu, phân tích ngay ở những bài viết Tập Làm Văn của HS
ở khối lớp 9 (cuối vòng 2 của chương trình) trường THCS Ngô Quyền, xã
Cưmta, huyện M’đrắk, tỉnh Đắk Lắk
2 Nguồn tư liệu:
Nguồn tư liệu chủ yếu của đề tài là những bài viết Tập Làm Văn trên lớp của HS khối lớp 9 qua các năm học: 2004 - 2005, 2005 - 2006, 2006 - 2007
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng nhóm 05 phương pháp chính như sau:
1 Phương pháp khảo sát và phân loại
2 Phương pháp thống kê
3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
4 Phương pháp phân tích
5 Phương pháp tổng hợp
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nội dung, chương trình Làm văn nghị luận bậc THCS được chính thức học ở lớp 9 (cuối vòng 2) và sẽ được học nâng cao ở cấp THPT, gồm
một số loại bài thông dụng: nghị luận về xã hội và nghị luận về văn học.
Đây là hai loại bài Tập làm văn khó, yêu cầu HS vận dụng tổng hợp các kĩ năng lập luận, có nâng cao hơn các loại bài Tập làm văn đã học ở các lớp 6,7, 8
Nghị luận vừa là kiểu văn bản chính yếu của phân môn Tập làm văn trong nhà trường THCS, vừa là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống xã
hội, có mục tiêu rèn luyện cho HS kĩ năng lập luận về một vấn đề nào đó
trong đời sống hoặc trong văn học một cách mạch lạc, chặt chẽ, lôgíc, thấu tình đạt lí và thuyết phục người đọc, người nghe bằng những lí lẽ
Trang 3sắc sảo, chứng cứ tiêu biểu, vững chắc Vì vậy, nó chiếm tỉ lệ điểm rất cao,
từ 50% đến 70 % trong thang điểm của một bài thi, bài kiểm tra Có thể nói bài văn nghị luận là thước đo chuẩn mực, là tiêu chí tin cậy để GV có thể đánh giá một cách khách quan nhất, chính xác và thuyết phục nhất về năng lực cảm thụ, sự tích luỹ kiến thức văn học, về trình độ nhận thức và khả
năng trình bày một vấn đề của HS, từ đó có được những giải pháp thích
hợp hơn trong quá trình tổ chức và hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức đạt hiệu quả cao, đáp ứng tốt mục tiêu giáo dục đề ra.
Ngoài ra, xa hơn và lâu dài hơn, văn nghị luận còn trang bị cho HS kiến thức đáp ứng, giải quyết tốt những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là đáp ứng thực tiễn nhu cầu giao tiếp đời sống xã hội
Kết cấu của bộ môn Ngữ văn gồm ba phân môn (Văn-Tiếng Viêt-Tập làm văn) và có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau Ví dụ: Sau khi học các tác phẩm thơ văn, HS sẽ có được những gợi ý về đề tài và vận dụng nghệ thuật xây dựng truyện: tạo tình huống, miêu tả nhân vật, ngôi kể và lời kể … của các nhà văn đã học vào bài văn tự sự của mình hoặc sau khi học các yếu
tố miêu tả nội tâm, nghị luận … của phần Làm văn, HS có thể vận dụng và phân tích dễ dàng các yếu tố này trong các tác phẩm truyện …vv Vì vậy, nếu
HS làm tốt bài văn nghị luận thì chắc chắn rằng sẽ học tốt phần Tiếng Việt, phần Văn và ngược lại
II THỰC TRẠNG VỀ CÁC LỖI TRONG BÀI VIẾT VĂN NGHỊ
LUẬN CỦA HS LỚP 9 THƯỜNG MẮC PHẢI:
Muốn nghị luận mạch lạc, chặt chẽ, lôgíc, thấu tình đạt lí và thuyết phục người đọc, người nghe thì người viết phải biết dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, có những lí lẽ sắc sảo, chứng cứ tiêu biểu, vững chắc Nhưng trên thực
tế bài viết văn nghị luận của học sinh thường mắc rất nhiều lỗi rất thông dụng Từ bài viết của HS, chúng tôi thống kê được một số thực trạng phổ biến như sau:
1 Lỗi về hình thức:
- Có thói quen viết theo cách phát âm địa phương và mắc lỗi chính tả.
Ví dụ: “ cây che là một hình ảnh gần gũi, quen thuộc của nàng quê việt lam.”
(Chưa biết viết hoa ở chữ đầu câu, đầu đoạn văn và các danh từ riêng; có thói quen viết theo cách phát âm địa phương: tre che, làng quê nàng quê… )
- Lẫn lộn giữa các từ gần âm và hiểu sai nghĩa của từ Ví dụ: “ Nhân vật
Trương Sinh trong truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn
Dữ) là hiện thân của thủ tục gia trưởng, vũ phu của xã hội phong kiến.”
Trang 4Hoặc:
“Trong đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” (trích “Truyện
Kiều”-Nguyễn Du), Mã Giám Sinh hoàn toàn bàng quang trước tâm trạng buồn tủi
của Thuý Kiều – người vợ tương lai của hắn.”
(HS thường ít để ý đến việc sử dụng từ ngữ, nghĩ sao viết vậy mà không biết chính xác nghĩa của từ mình đang dùng là gì: hủ tục thủ tục, bàng quan bàng quang.)
- Lặp từ vô thức Ví dụ: “Sau khi học xong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến, em thấy nhà thơ Nguyễn Khuyến là người có quan niệm
về tình bạn rất lành mạnh, tiến bộ nên em rất yêu quý nhà thơ Nguyễn
Khuyến, và em cũng rất thích đọc bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của
Nguyễn Khuyến
(Sử dụng từ ngữ trùng lặp khiến đoạn văn rườm rà, nặng nề, lủng củng.)
- Chưa biết sử dụng hoặc sử dụng không hợp lí các dấu câu Ví dụ:
“Bánh trôi nước Chuyện người con gái Nam Xương Truyện Kiều Truyện Lục Vân Tiên là những tác phẩm đề cập đến vẻ đẹp tâm hồn số phận
khổ đau của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến”
( HS không biết dùng dấu phẩy để ngăn cách tên các tác phẩm trong chuỗi liệt kê và không biết dùng dấu chấm khi kết thúc câu, kết thúc đoạn
văn- lỗi này thường tập trung nhiều ở HS dân tộc thiểu số.)
Hoặc:
“ Qua bài thơ Anh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy Em rút ra được
nhiều điều bổ ích trong cuộc sống của bản thân em sẽ luôn giữ gìn và trân trọng những kỉ niệm của quá khứ.”
(Đoạn văn sử dụng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy không hợp lí)
- Viết thiếu thành phần câu Ví dụ:
“ Qua truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” cho thấy Vũ Nương là nhân vật có nhiều đức hạnh tốt đẹp nhưng cuộc đời lại oan trái, khổ đau.”
Hoặc:
“Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thời
phong kiến.”
(Chưa xác định được và nhầm lẫn các thành phần chính và thành phần phụ của câu.)
- Xây dựng đoạn văn không đúng quy cách Ví dụ:
“ - Nhân vật Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp.
Từ khi lấy chồng, cô luôn giữ gìn khuôn phép với chồng nên chưa từng để xảy ra chuyện thất hoà Khi Trương Sinh đi lính rồi, Vũ Nương luôn thương
Trang 5nhớ và một lòng chung thuỷ với chồng Chăm lo mẹ chồng khi ốm đau cũng
như lúc ma chay rất chu đáo…”
( Xây dựng đoạn văn không có dấu hiệu mở đầu và câu nêu luận điểm thường bị tách ra đứng độc lập một cách vô thức hoặc cả bài không tách một đoạn văn nào.)
- Các đoạn văn trong văn bản thường rời rạc, lỏng lẻo, không chặt chẽ.
Ví dụ:
“ Người lính thời chống Pháp xuất thân từ nhiều vùng quê khác nhau nhưng có cùng ảnh nghèo khó, lam lũ:
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Họ cùng làm một nhiệm vụ, cùng chung lí tưởng, cùng chịu đựng những gian lao, thiếu thốn nên họ trở thành đôi tri kỉ, người đồng chí của nhau:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
( Đoạn văn sau cần phải có từ, cụm từ liên kết chỉ ý đối lập: nhưng, tuy vậy… để liên kết chặt chẽ với đoạn văn trước, nhưng lại không được sử dụng)
- Kết cấu bài văn không tuân theo một trình tự lôgíc, không mạch lạc,, không cân đối trong bố cục trình bày HS thường làm bài theo kiểu “đầu voi đuôi chuột”, không ăn nhập vào nhau
2 Lỗi về nội dung:
- Lạc ý, xa đề Ví dụ: Viết một đoạn văn thân bài.
“ (1) Thuý Kiều là tiêu biểu cho người phụ nữ phong kiến tài sắc
vẹn toàn (2) Gia đình Kiều bị vu oan, cha và em trai bị bọn sai nha đánh
đập tàn nhẫn (3) Không chịu nổi cảnh ấy, Kiều đã quyết định từ bỏ mối tình đầu của mình với chàng Kim, bán mình chuộc cha:
“ Để lời thộ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành
Quyết tình nàng mới hạ tình,
Rẽ ra cho thiếp bán mình chuộc cha”
(4) Và Kiều phải sống cuộc đời lưu lạc mười lăm năm chìm nổi, nhục nhã, ê chề “ thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần.”
(Các câu 2,3,4 trong đoạn văn không hướng vào để làm sáng tỏ nhận định nêu ở luận điểm “tài sắc vẹn toàn”(câu 1) mà sa vào lòng hiếu thảo và nỗi khổ đau của Thuý Kiều)
Trang 6- Thừa lời, thiếu ý Ví dụ: Viết đoạn mở bài.
“Chính Hữu sinh năm 1926, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Chính Hữu đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000 Bài thơ
“Đồng chí” sáng tác vào năm 1948.”
( Đoạn văn tuy dài nhưng chưa đảm bảo yêu cầu cần và đủ cho phần
mở bài của bài nghị luận phân tích tác phẩm văn học.)
III NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG
Qua thống kê và phân tích những lỗi về hình thức và nội dung mà HS
thường mắc phải trong nhiều bài văn nghị luận, chúng tôi đã rút ra được một
số nguyên nhân cơ bản như sau:
1.Đối với học sinh:
- Do hổng kiến thức ở các lớp dưới Xét riêng ở bậc THCS, kết cấu nội
dung - chương trình SGK theo hai vòng giống như những bậc thang, lớp trên
kế thừa và nâng cao lớp dưới Nếu nấc dưới “gãy” thì không thể “ trèo” lên
tiếp nấc trên
- Do ít trau dồi và rèn luyện vốn từ nên vốn từ còn nghèo nàn, khô cứng;
kiến thức văn học và kiến thức đời sống phổ thông còn thiếu và yếu Một
nét tâm lí dễ nhận biết ở HS là thường chơi lúc không đến trường, ít chịu khó tìm tòi, đọc các loại sách báo và nghe nhìn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tích luỹ kiến thức và trau dồi vốn từ
- Do chưa biết tích hợp và vận dụng sự hỗ trợ của phân môn Văn và
Tiếng Việt trong quá trình làm bài.
- Do mặt bằng trình độ nhận thức không đồng đều; khả năng tiếp nhận
văn chương còn sơ sài; ý thức tích luỹ, vận dụng còn yếu
- Do có thói quen lười suy nghĩ, ỷ lại, phụ thuộc SGK, vở ghi, phụ thuộc
tài liệu (sao chép, “chụp ảnh” bài văn mẫu, sách tham khảo các loại …).
- Do chưa nắm vững cách làm bài và chưa vận dụng thuần thục các kĩ
năng: tìm hiểu đề bài, tìm ý và làm dàn bài.
2.Đối với giáo viên:
Qua nhiều tiết đi dự giờ của nhiều giáo viên Ngữ văn, chúng tôi nhận thấy một phần nhỏ của thực trạng đã nêu trên trong bài viết của HS là do người dạy Cụ thể:
- Chỉ chú trọng soạn giáo án bài dạy của mình làm sao cho xong (nhiều
giáo án dường như là “chụp ảnh” nguyên xi sách giáo viên và sách thiết kế)
Trang 7chứ không chú ý rằng với cách soạn đó có phù hợp với trình độ của HS lớp
mình dạy hay không? Học sinh có hiểu được hay không? Nếu có hiểu thì sẽ hiểu đến mức độ nào? …
- Có tâm lí coi sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng là chân lí tuyệt đối,
bất di bất dịch, là “bùa hộ mệnh” cho trang giáo án lên lớp.
-Trong mỗi bài dạy trên lớp, chỉ chú ý cung cấp tri thức lí thuyết như trong sách giáo khoa mà ít chú trọng hướng dẫn HS tự tìm tòi chân lí (một số thì
e ngại thiếu tự tin mà không dám khơi gợi cái mới từ bài học ?!) Đây cũng
là nguyên nhân làm cho HS chán nản, không tha thiết học.
- Một số GV chỉ được nhà trường phân công dạy HS trong khoảng thời
gian một hoặc hai năm học nên chưa nắm được một cách đầy đủ về sở trường, sở đoản của HS trong học tập để kịp thời điều chỉnh phương pháp
giáo dục Ví dụ như lớp 6 thì phân thầy A dạy, lên lớp 7 thì đổi cho cô B dạy , lớp 8 thì lại đổi cho cô C dạy …
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN:
Hưởng ứng cuộc vận động “Hai không” của Bộ GD & ĐT, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, làm khâu đột phá tạo nên những chuyển
biến tích cực, chống bệnh thành tích trong toàn ngành giáo dục, chúng tôi đã
áp dụng một số giải pháp như sau:
1 Chú trọng tích cực hoá “văn hoá đọc”, “văn hoá nghe, nhìn” cho học sinh.
Đối tượng của Văn học là hiện thực cuộc sống Vì vậy, để cảm thụ Văn học thì điều quan trọng nhất là phải biết đọc, đọc là một hình thức tự
học tập rất quan trọng của môn Ngữ văn Để tích cực hoá “văn hoá đọc, văn
hoá nghe - nhìn” cho HS, chúng tôi có một số giải pháp như:
- Thường xuyên liên hệ với phụ huynh HS qua từng nhóm, từng cụm theo địa bàn thôn, buôn (GV phân nhóm và cử người chịu trách nhiệm chính mỗi nhóm qua phiên họp phụ huynh đầu năm) và tuyên truyền, động viên phụ huynh mua sắm cho con em các loại sách tài liệu tham khảo, giành một lượng thời gian hợp lí để nghe và xem các chương trình bổ ích trên
ra-đi-ô, truyền hình (Chiếc nón kì diệu, Ai là triệu phú, Đường lên đỉnh Ôlimpia, Đấu trường 100 … trên VTV3, Câu lạc bộ yêu thơ … trên VTV1) nhằm vừa
bổ sung, nâng cao kiến thức chuyên sâu, kiến thức phổ thông, vừa trau dồi vốn từ vựng và cách sử dụng ngữ pháp phục vụ các nhu cầu giao tiếp nói -viết
- Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi luôn khơi gợi ở HS thói quen tự giác đọc - nghe - xem các loại tài liệu liên quan Sau mỗi giờ dạy, giới thiệu
Trang 8danh mục các loại tài liệu cần đọc bổ sung cho bài học Ví dụ: Dạy bài “ Ngắm trăng” (Hồ Chí Minh), chúng tôi giới thiệu và hướng dẫn HS đọc thêm các bài thơ khác của tập thơ “Nhật kí trong tù” có liên quan để làm dữ
liệu bổ sung cho nghị luận về bài thơ, như: Trung thu, Dây trói, Trên
đường…
- Tích cực tham mưu và phối hợp với nhà trường, với Đoàn - Đội tổ chức cho HS đọc báo, các loại truyện được cấp phát theo lớp qua một số giờ
sinh hoạt 15 phút đầu giờ hoặc mượn đọc (do trường chưa có chuyên trách
thư viện và ở một số trường học thế mạnh này chưa được chú ý khai thác thích đáng)
2 Vận dụng linh hoạt phương pháp tích hợp và tích cực
Xuất phát từ tình hình thực tế về trang thiết bị hỗ trợ quá trình
dạy-học trên lớp còn nhiều thiếu thốn, để tránh dạy chay dạy-học chay và tạo tính
trực quan sinh động, hạn chế lãng phí thời gian trên lớp, chúng tôi luôn
chuẩn bị một số bảng phụ(tự mua sắm, tự làm) ghi sẵn các dữ liệu quan cần bám sát phân tích
Ví dụ: Khi phân tích thơ thì chuyển nguyên văn lên bảng phụ hoặc
phân tích truyện thì ghi sẵn bố cục hoặc dạy phần Tiếng Việt, Tập làm văn
thì ghi sẵn ngữ liệu cần phân tích của bài học
Hơn thế, trong một lớp học thường có nhiều đối tượng HS khác nhau
để cả ba đối tượng cùng chủ động, tích cực tìm hiểu và lĩnh hội đầy đủ, sâu sắc bài học, chúng tôi thường chủ động, tích cực dựa vào hệ thống câu
hỏi sau mỗi bài học trong SGK để suy nghĩ, tìm tòi, cải tiến câu hỏi làm sao
cho dể hiểu nhất và phù hợp với trình độ nhận thức của HS lớp mình dạy.
Vì hệ thống câu hỏi hướng dẫn học tập sau mỗi bài học trong SGK thường
chỉ là những định hướng học tập nên rất khái quát, nếu “bê” nguyên mà
không chia nhỏ câu hỏi thì những HS có học lực trung bình, yếu kém (đây là
số đông trong một lớp học) rất khó có thể trả lời và cảm nhận sẽ hời hợt,
ảnh hưởng xấu đến kết quả bài văn nghị luận văn học (dạng bài phổ biến trong nhà trường)
Ví dụ:
Khi học truyện ngắn “Làng” (Kim Lân), SGK Ngữ văn 9 có câu hỏi:
“Thuật lại diễn biến tâm trạng, hành động của ông Hai từ khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây làm Việt gian Vì sao ông lại đau đớn, tủi nhục,hổ thẹn?”
Đây là câu hỏi mà những HS khá, giỏi mới có thể trả lời được Để đáp
ứng trình độ nhận thức của ba đối tượng – em nào cũng có thể tham gia trả
lời, chúng tôi chia nhỏ câu hỏi hướng dẫn HS học tập như sau:
Trang 91 Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, tâm trạng và hành động của ông Hai được miêu tả như thế nào?
2 Khi về đến nhà, tâm trạng và hành động, lời nói của ông Hai ra sao?
3 Mấy ngày sau đó, tâm trạng và hành động của ông Hai được miêu tả có gì khác trước?
4 Với cách miêu tả đó, tác giả cho em thấy nhân vật ông Hai trong truyện
có phẩm chất nào đáng quý?
3 Soạn thảo nội dung, chương trình dạy- học môn Tự chọn hoặc để phụ đạo HS yếu kém:
Môn Tự chọn được được áp dụng trong nhà trường THCS đến nay đã gần 05 năm học (kể từ khi đổi mới nội dung, chương trình SGK và phương pháp dạy - học đại trà của Bộ GD & ĐT) đã có tác dụng tích cực trong việc
hỗ trợ hoạt động dạy & học Song, bộ môn này vẫn chưa có một nội dung,
chương trình chuẩn thống nhất của Bộ mà chỉ có một vài tài liệu do GV bộ
môn trong một trường tự soạn thảo Xuất phát từ tình hình nói trên và căn
cứ vào tình hình HS của nhà trườngTHCS Ngô Quyền, chúng tôi đã mạnh
dạn biên soạn tài liệu dạy học làm văn nghị luận theo chủ đề bám sát Nội
dung tài liệu tập trung ở một số kiến thức trọng tâm nhằm rèn luyện kĩ
năng làm văn nghị luận cho HS như sau:
a Tìm hiểu đề:
Như đã nêu trên, văn nghị luận thường có nhiều loại, dạng đề bài khác nhau cho nên việc tìm hiểu đủ và đúng yêu cầu của đề là một việc làm có ý nghĩa quyết định nền móng ban đầu cho bài văn, tránh lạc đề, xa đề (tức là đảm bảo tính định hướng) Để nắm vững yêu cầu đề bài, chúng tôi thường hướng dẫn HS nắm vững:
a 1 /Thế nào là đề văn nghị luận?
Đề văn nghị luận là loại đề yêu cầu người nói, người viết sử dụng nhiều dẫn chứng và lí lẽ để bàn, đánh giá, giải quyết cho rõ và thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn học
a 2 / Các dạng đề văn nghị luận thường gặp:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống gần gũi, quen thuộc đáng khen hoặc đáng chê trong gia đình, địa phương, nhà trường, xã hội
Ví dụ: Trường ta có nhiều tấm gương vượt khó và đạt thành tích cao trong học tập (như bạn Nguyễn Thị Thuỷ lớp 8C là con gia đình hộ đói, chịu
khó học tập, đạt danh hiệu “Học sinh Giỏi toàn diện”, bạn H Trang Niê lớp
Trang 109D là con mồ côi, tự giác sáng tạo trong học tập, đạt danh hiệu “Học sinh
Giỏi toàn diện”, bạn Y Vê Ksơr học lớp 9B, nhà ở Thác Bay nhưng vẫn
chuyên cần, chăm chỉ học tập, đạt danh hiệu “Học sinh tiên tiến” …) Em
hãy viết bài văn nêu suy nhĩ của mình về những bạn học sinh ấy.
- Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí qua một số câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn có ý nghĩa khuyên răn, giáo dục cao.Ví dụ:
Nói về tình cảm của con cái với cha mẹ, cha ông ta có câu ca dao:
Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Hãy nêu suy nghĩ của em về câu ca trên
- Nghị luận về nhân vật văn học, về thơ văn Ví dụ: Phân tích
hai khổ thơ cuối của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)
a 3 / Cấu tạo của đề văn nghị luận:
Cấu tạo của đề văn nghị luận thường có hai phần: phần nêu tư tưởng của đề bài, phần chỉ định công việc phải làm
Ví dụ: “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ), “Truyện
Kiều” (Nguyễn Du) là hai trong nhiều tác phẩm văn học có chung tiếng nói
trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và đồng cảm với số phận khổ đau, bất
hạnh của người phụ nữ thời phong kiến / Em hãy phân tích làm sáng
tỏ nhận định trên
Từ việc xác định được cấu tạo của đề HS có thể nắm ngay được loại,
dạng đề (nghị luận văn học), phép lập luận (phép lập luận phân tích, chứng
minh), đối tượng nghị luận (tiếng nói trân trọng, ngợi ca và đồng cảm về
tâm hồn và số phận người phụ nữ phong kiến, qua hai nhân vật Vũ Nương,
Thuý Kiều) phạm vi tư liệu (hai tác phẩm “Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du)
b / Tìm ý và làm dàn ý:
Tìm ý và làm dàn ý là công đoạn quan trọng quyết định trực tiếp đến tính chính xác, toàn diện, sâu sắc và tính mạch lạc của bài viết Có thể coi tìm ý như là tìm nguyên vật liệu, làm dàn ý như là bản vẽ thiết kế cho ngôi
nhà sắp xây Vì vậy, chúng tôi thường hướng dẫn và hình thành cho HS một
quy tắc tìm ý, làm dàn ý như sau:
Căn cứ vào cấu tạo đề bài, dạng đề bài có thể rút ra quy tắc: