HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG
BÀI VĂN TỰ SỰ TRONG CHƯƠNG TRèNH NGỮ VĂN THCS
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Lớ do chọn đề tài:
Văn học là nhõn học, văn học là tấm gương phản ỏnh cuộc sống, vỡ thế văn học rất gần gũi với cuộc sống con ngời trong khi cuộc sống bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú Trong cái bộn bề, ngổn ngang
ấy, mỗi tác phẩm văn chơng chính là một mảng nhỏ của cuộc sống đã đợc nhà văn chọn lọc, phản ánh
Đã từ lâu, môn Văn trong nhà trờng có một vị trí rất quan trọng:
Nó là thứ vũ khí thanh tao, đắc lực có tác động sâu sắc đến tâm t, tình cảm của con ngời Nó bồi đắp cho tâm hồn con ngời trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn Có thể nói văn học đã "chắp đôi cánh" để mỗi chỳng ta đến với sự văn minh của mọi thời đại, tiếp cận với mọi nền văn hoá, từ đó xây dựng trong các niềm tin vào cuộc sống, vào con ngời; và hơn thế, nó còn trang bị cho các em học sinh vốn sống, vốn kiến thức để hớng các
em tới đỉnh cao vẻ đẹp của Chân, Thiện, Mỹ
Không chỉ thế, văn học cũn giỳp học sinh hỡnh thành và phỏt triển khả năng sản sinh những văn bản mới Nú cung cấp cho các em những kĩ năng cần thiết trong quá trình tạo lập văn bản Học sinh THCS đó và sẽ được tiếp cận
và tạo dựng văn bản văn theo ba dạng thức sau đây:
+ Dạng bài tự sự, trữ tỡnh như: miờu tả, tường thuật, kể chuyện … và một số thể thơ quen thuộc như : thơ 5 chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bỏt …
Trang 2+ Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận tác phẩm văn học
+ Dạng văn bản hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp đồng…
Đặc trưng cơ bản của dạng bài tự sự, trữ tình là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh Dạng bài nghị luận nhằm hình thành và phát triển tư duy lí luận với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục Dạng văn bản hành chính công vụ thì có đặc trưng là khuôn mẫu, công thức
Phân môn Tập làm văn là một phân môn quan trọng Khi giảng dạy, giáo viên cần nắm chắc mục tiêu ở phần kiến thức là : “Nắm được những tri thức và các kiểu văn bản thường dùng như: văn bản miêu tả, văn bản tự sự, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh và điều hành…; nắm được các tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó.”
Phân môn Tập làm văn giúp học sinh có kĩ năng nói, viết Tiếng Việt đúng chính tả, đúng từ ngữ, đúng cú pháp…; biết cách sử dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản đã học Đặc biệt học sinh biết vận dụng các kiểu văn bản được học phục vụ cho việc học tập ở nhà trường và phục vụ đời sống gia dình, xã hội
Trong chương trình Ngữ văn THCS, học sinh được học văn tự sự từ lớp 6 đến lớp 9 theo vòng tròn đồng tâm, có tính kế thừa và phát triển rất rõ Thực ra kiểu bài
tự sự đã quá quen thuộc với học sinh ở bậc Tiểu học Lên lớp đầu cấp THCS, các em được học kĩ, có nâng cao, mở rộng nhằm tạo một nền tảng vững chắc để sau này các
em có thể sử dụng chúng như công cụ hỗ trợ trong các kiểu bài khác Tuy nhiên, nhiều học sinh làm loại văn này vẫn chưa tốt Bài văn của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề Đoạn văn trong bài thường sai quy cách, chưa có sự liên kết, bố cục còn lủng củng…
Trang 3Cũng chính trên cơ sở những hạn chế đó của các em, với những vốn kinh nghiệm và kiến thức của bản thân, tụi đó tỡm được cho mỡnh một số biện phỏp vận dụng vào thực tế giảng dạy mụn Ngữ Văn Trong quỏ trỡnh giảng dạy nhiều năm,
tụi mạnh dạn đưa ra sỏng kiến kinh nghiệm : “Hướng dẫn học sinh cỏch viết đoạn văn, bài văn tự sự trong chương trỡnh THCS”.
2 Mục đớch nghiờn cứu:
Khi viết sỏng kiến này, tụi muốn cung cấp cho học sinh một con đường nhanh
và dễ để tạo lập đoạn văn tự sự , văn bản tự sự trong khi làm bài viết; đồng thời giỳp cho cỏc em tỡm hiểu sõu hơn về cỏc vấn đề: Tỡm hiểu đề, viết đoạn văn trong văn bản tự sự, liờn kết đoạn văn trong văn bản tự sự, từ đú hỡnh thành cho mỡnh kĩ năng để gúp phần làm tốt bài văn tự sự vỡ kĩ năng là cụng cụ, là chỡa khúa để cỏc em
cú thể tự tin mở khúa cho cỏc đề bài cụ thể Ngoài ra với mục đớch để trao đổi cựng cỏc bạn đồng nghiệp để cựng nhau bổ khuyết, xõy dựng cho giải phỏp càng hoàn thiện hơn trong quỏ trỡnh ỏp dụng
3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu:
Đối với đề tài sỏng kiến này tụi chỉ dừng lại ở 4 vấn đề:
- Tỡm hiểu đề
- Viết đoạn văn trong văn bản tự sự
- Liờn kết đoạn văn trong văn bản tự sự
- Cỏc dạng bài văn tự sự thường gặp
Những biện phỏp này chỉ ỏp dụng trong phạm vi văn bản tự sự trong chương
trỡnh Ngữ văn THCS
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1 Cơ sở lớ luọ̃n của vấn đề:
Trang 4Môn Ngữ văn trong chương trình THCS có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4
kĩ năng c¬ b¶n: “ nghe - nói - đọc - viết” Trong đó, phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp s©u víi các phân môn khác Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản díi d¹ng bài nói, bài viết Nói và viết
là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua đó con người thực hiện
quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống lao động Ngôn ngữ (dạng nói, dạng viết) giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Chính vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Vấn đề đặt ra là: người giáo viên dạy Tập làm văn như thế nào để học sinh viết tốt bài văn của mình? Cách thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả như mong muốn?
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Ngữ văn Do đặc trưng phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản
ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể chuyện, biểu cảm, nghị luận, Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói, ngại viết
2 Thực trạng của vấn đề:
Thế kỉ XXI, xã hội phát triển, công nghệ thông tin bùng nổ, chỉ cần chúng ta ngồi ở nhà với một chiếc máy tính vào mạng là có thể truy cập tin tức khắp nơi trên thế giới Chính vì lí do dó mà phần lớn các em học sinh không yêu thích môn Văn, ngại học Văn, chỉ thích theo xu hướng học các môn tự nhiên nên việc đầu tư thời gian cho học tập không nhiều Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh lại lười đọc, lười nghĩ, và ngại viết Từ tất cả các khó khăn trên khiến cho các
em nghèo nàn về vốn từ nên khi viết cũng rất khó khăn.Thêm vào đó, nhiều học sinh
Trang 5chưa chú ý đến việc học, ý thức học chưa cao, về nhà không làm bài, ỷ lại vào sách văn mẫu, sách tham khảo nên khi làm bài văn các em thường vụng về, lúng túng …
Với những khó khăn như vậy, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp giúp học sinh nắm và làm tốt bài tập làm văn Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở:
“Làm sao giúp học sinh làm tốt bài tập làm văn ?” Qua quá trình dạy học,
tôi đã có được những biện pháp giúp học sinh viết tốt đoạn văn tự sự để từ đó các
em làm tốt bài văn tự sự trong chương trình THCS
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
3.1 Tìm hiểu đề:
Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua năm bước (Tìm hiểu
đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài văn, đọc và sửa bài), trong đó tìm hiểu đề là bước thứ nhất Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một
bài tập làm văn Tuy vậy đa số học sinh thường không chú ý, thậm chí các em còn
bỏ qua bước này mà viết luôn bài văn Vì vậy trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc lệch đề nên bài văn thường không có điểm cao
Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh được việc lạc đề, lệch đề; từ đó bài văn sẽ tốt hơn
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài học Yêu cầu học sinh gạch chân vào các từ “khóa” của đề bài Trên cơ sở đó các em
sẽ biến nó thành một kĩ năng cần thiết trước khi viết bài
Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học Người giáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập
* Ví dụ 1:
Đề bài : Đóng vai Thạch Sanh kể lại những thử thách mà mình đã trải qua.
Trang 6- Cã nhiều học sinh do không đọc kĩ đề bài nên các em đi kể về những việc
mà bản thân em ấy đã làm được vì đề bài có cụm từ “ mình đã trải qua” Như vậy do không đọc kĩ đề dẫn đến hiện tượng học sinh không hiểu đề bài yêu cầu vấn đề gì và cách kể như thế nào nên bài văn bị lạc đề hoàn toàn
- Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chân những
từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề; xác định các yêu cầu của đề
- Kiểu bài: Tự sự hay miêu tả, tường thuật hay giải thích, …
- Lời yêu cầu về kiểu bài: trực tiếp (như Hãy kể, đóng vai kể … ) hay đề mở (như Em thấy mình đã khôn lớn, Quê hương em đổi mới … )
- Đề bài và giới hạn: học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ để xác định giới hạn của đề bài Chỉ một sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài cũng có thể dẫn các em từ tản mạn, xa đề đến lạc đề…
- Việc xác định đúng ngôi kể là vô cùng cần thiết để tránh việc học sinh không xác định rõ ngôi kể dẫn đến bài làm lạc ý, lạc đề Trong văn tự sự thường có 2 ngôi
kể: Ngôi thứ 1(số ít: người kể xưng tôi, số nhiểu người kể xưng chúng tôi) và ngôi
kể thứ 3( người kể giấu mình đi để kể chuyện) Mỗi ngôi kể có tác dụng riêng, học sinh cần căn cứ vào yêu cầu của đề để xác định cho đúng
*
Ví dụ 2:
§Ò bµi: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu.
- Trước đề này, có rất nhiều học sinh kể ra hai, ba kỉ niệm, không có kỉ niệm nào được kể một cách đầy đủ (đề yêu cầu kể một kỉ niệm), dẫn đến bài văn lan man, chưa sâu sắc
- Để khắc phục được khó khăn đó và cho học sinh thực hiện tốt bước này, tôi
đã kết hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em để hướng dẫn và cho các
em thực hành
* Ví dụ 3:
Trang 7Đề bài: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc trong thời thơ ấu của em?
+ Yêu cầu trả lời :
- Kiểu bài của đề là gì?
- Lời yêu cầu ở đề là trực tiếp hay đề mở?
- Ngôi kể: ngôi thứ 1
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào (kể về một hay nhiều kỉ niệm)? + Giáo viên hướng dẫn các em làm:
* Kiểu bài:
- §Ò cã kiÓu bµi tù sù
- §Ò cã yªu cÇu trùc tiÕp
* Giíi hạn của đề bài: kể duy nhất một kỉ niệm, đó là kỉ niệm đáng nhớ nhất ở thời thơ ấu
- Xác định kiểu bài
- Xác định nội dung của đề bài
- Xác định giới hạn của đề bài
Sau khi hướng dẫn các em thực hiện xong giáo viên có thể ra đề yêu cầu các
em về nhà làm, trong tiết học tiếp theo giáo viên xem bài các em làm và cho điểm
* Ví dụ 4:
§ ề 1: Kể lại những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học.
- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu trực tiếp
- Giới hạn: những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học (chỉ trong ngày đầu tiên
mà thôi)
- Ngôi kể : ngôi thứ 1
§ ề 2: Người ấy (bạn, thầy, người thân, …) sống mãi trong lòng tôi
- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu gián tiếp
- Giới hạn: chỉ kể về một người thân (có thể là một kỉ niệm khó quên với người đó)
Trang 8- Kỉ niệm đó phải thật sâu sắc khiến em nhớ mãi không quên
- Trong khi viết bài giáo viên yêu cầu học sinh biết kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm Ví dụ miêu tả hình dáng, hoạt động của người thân, không khí, quang cảnh mà sự việc diễn ra Yếu tố biểu cảm là những cảm xúc chân thực, những suy nghĩ của bản thân trước những sự việc diễn ra Yếu tố biểu cảm có thể viết dưới dạng thán từ, câu cảm thán, câu hỏi tu từ…để bài văn thêm sinh động, hấp dẫn và tăng giá trị biểu cảm
- Trong quá trình dạy – học (nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy một cách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài tập làm văn Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạt
được điểm số cần thiết
Ví dụ giáo viên ra đề bài: Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy cô giáo buồn.
- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu trực tiếp
- Giới hạn: một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy cô giáo buồn
- Ngôi kể : ngôi thứ 1
Học sinh do chủ quan không đọc kĩ đề bài, bỏ qua bước tìm hiểu đề dẫn đến việc các em cứ viết theo cảm xúc mà chưa xác định đúng đối tượng hướng tới của
đề bài Nhiều học sinh kể về lần mắc lỗi của em khiến bạn em buồn, khiến bố mẹ em buồn…
Chính vì những lí do trên nên tìm hiểu đề là một bước mất ít thời gian của tiết học nhưng nó mang lại hiểu quả rất tốt cho học sinh
3.2 Viết đoạn văn trong văn bản tự sự :
Thế nào là đoạn văn? Đoạn văn là đơn vị cấu tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành Đoạn văn thường có câu chủ đề hoặc từ ngữ chủ đề Ta thường có đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song hành, …
Trang 9Đoạn văn là đơn vị cấu tạo nên văn bản Vì vậy viết tốt đoạn văn là một trong những điều kiện để có một bài văn hay
Trong chương trình Ngữ văn THCS, học sinh được học cách xây dựng đoạn văn trong đó học sinh đã nắm được kiến thức về hình thức và nội dung của đoạn
văn Trên cơ sở đó, các em đã có kiến thức về cách xây dựng đoạn văn Từ đó tôi thường xuyên cho học sinh luyện tập nhận diện đoạn văn cũng như viết đoạn văn ở trên lớp và ở nhà
Trước hết, giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận điện đoạn văn Đây là bước giúp học sinh nhận biết cũng như khắc sâu kiến thức về đoạn văn Trong
SGK Ngữ văn có rất nhiều đoạn văn chuẩn, dựa vào ưu điểm này giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận diện
* Ví dụ 1:
Học sinh đọc đoạn văn giới thiệu về Nam Cao trong SGK Ngữ Văn 8:
“ Nam Cao( 1915- 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, tuyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập
và người trí thức nghèo sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ Sau cách mạng, Nam Cao chân thành, tận tụy sáng tác phục vụ kháng chiến Ông đã hi sinh trên đường công tác ở vùng sau lưng địch Nam Cao được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ
Chí Minh về văn học nghệ thuật( năm 1996) Tác phẩm chính: các truyện ngắn “
Chí Phèo”, “Trăng sáng”, “Đời thừa”, “Lão Hạc”, “Một đám cưới”
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đoạn văn trên rồi xác định các đoạn văn đó được viết theo cách nào?
Học sinh trả lời:
- Đoạn giới thiệu về Nam Cao được viết theo lối song hành (từ ngữ chủ đề là
Nam Cao, ông), đối tượng là Nam Cao.
Trang 10- Giáo viên định hướng cho học sinh hiểu đoạn văn trình bày theo cách song hành là đoạn văn không có câu chủ đề, chỉ có từ ngữ chủ đề Các câu trong đoạn ngang hàng nhau cùng làm nổi bật đối tượng
- Một đoạn văn nếu câu chủ đề đứng ở vị trí đầu đoạn thì đó là đoạn văn được trình bày theo cách diễn dịch
- Một đoạn văn nếu câu chủ đề đứng ở vị trí cuối đoạn thì đó là đoạn văn được trình bày theo cách quy nạp
- Một đoạn văn nếu câu chủ đề đứng ở vị trí vừa đầu đoạn vừa cuối đoạn thì
đó là đoạn văn được trình bày theo cách tổng phân hợp
Học sinh trả lời được như vậy là đã nắm được “Thế nào là đoạn văn” và cách trình bày nội dung của đoạn văn Điều này không chỉ có ích trong việc giúp
học sinh xây dựng đoạn văn tự sự mà còn giúp các em xây dựng các đoạn văn nghị luận xã hội, nghị luận văn học…
- Khi học sinh nhận diện đúng đoạn văn tức là các em đã nắm được kiến thức
về đoạn văn Từ đây giáo viên bắt đầu cho các em thực hành viết đoạn văn Trong quá trình học, học sinh được tiếp xúc và tìm hiểu rất nhiều văn bản thuộc phương thức tự sự Trong đó bao gồm: văn học dân gian, văn học viết (trung đại và hiện đại), tác phẩm tự sự của nước ta và cả những tác phẩm tự sự nước ngoài Có thể nói đây
là những ví dụ có tính điển hình để các em có thể hiểu rõ, hiểu sâu những đặc điểm, yêu cầu của kiểu bài tự sự Đó cũng chính là điều kiện đầu tiên giúp các em viết tốt đoạn văn tự sự, bài văn tự sự
- Khi cho học sinh thực hành viết đoạn văn giáo viên cũng cần chia làm hai giai đoạn: trước hết cho học sinh viết đoạn văn với câu chủ đề cho trước, tiếp theo mới là viết theo yêu cầu mà không có câu chủ đề (học sinh tự đặt câu)
* Ví dụ 2 :