Viêm thận - mô kẽ cấp tính do thuốc, mô kẽ phù nề, thấm nhập tế bào đơn nhân, bạch cầu ái toan... Nhú thận bị hoại tử do thuốc trực tiếp làm tổn thương tế bào; hoặc gián tiếp do thuốc ức
Trang 2GIẢI PHẪU – MÔ HỌC
Trang 10Viêm thận – bể thận cấp
Trang 13Viêm thận - mô kẽ cấp tính do thuốc, mô kẽ phù nề, thấm nhập tế bào đơn nhân, bạch cầu ái toan
Trang 14Methicilline, thiazide…, có thể thấy phản ứng viêm hạt với u hạt và đại bào trong mô kẽ
Trang 15Nhú thận bị hoại tử do thuốc trực tiếp làm tổn thương tế bào; hoặc gián tiếp do thuốc ức chế tác dụng giãn mạch của prostaglandin, gây ra thiếu máu nhú thận.
Bệnh thận do thuốc giảm đau
Trang 16Nhú thận hoại tử đông, rải rác có các ổ calci hoá nghịch
dưỡng; mô kẽ viêm,
xơ hoá; có hình ảnh dày màng đáy ở các mạch máu nhỏ
Trang 17HOẠI TỬ ỐNG THẬN CẤP
Trang 18Patterns of tubular damage
in ischemic and toxic acute kidney injury In the
ischemic type, tubular
necrosis is patchy,
relatively short lengths of tubules are affected, and straight segments of
proximal tubules (PST) and ascending limbs of Henle's loop (HL) are most
vulnerable In toxic acute kidney injury, extensive necrosis is present along the proximal convoluted tubule segments (PCT) with many toxins (e.g., mercury), but necrosis of the distal tubule,
particularly ascending HL, also occurs In both types, lumens of the distal
convoluted tubules (DCT) and collecting ducts (CD) contain casts.
Sơ đồ: vùng ống thận tổn thương
trong hoại tử ốg
thận cấp do thiếu máu và do ngộ độc
Trang 19Thận sưng to, vùng vỏ nhợt nhạt, vùng tủy sung huyết.
Trang 20Hoại tử ống thận cấp do thiếu máu: Rải rác từng tế bào ống thận riêng lẻ
bị hoại tử bong ra (mũi tên), để lộ màng đáy (A) ;
Hoại tử ống thận cấp do độc chất, hoại tử lan toả ống thận gần (*) (B)
Trang 22Ổ nhồi máu trắng hình tam giác, có đáy tựa trên bề mặt vỏ bao thận.
Trang 23Sẹo lõm trắng do nhồi máu thận
Trang 24Thận teo, bề mặt có hạt mịn (A); hẹp lòng tiểu động mạch thận do lắng đọng hyalin (B)
Trang 29U THẬN
U LÀNH
- U tuyến nhú thận (Renal papillary adenoma)
- U mỡ - cơ trơn – mạch máu (Angiomyolipoma)
U ÁC
- Carcinôm tế bào ống thận (Renal cell carcinoma)
- U Wilms (U nguyên bào thận – Nephroblastoma)
-Carcinôm tế bào niệu mạc (tế bào chuyển tiếp) của bể thận
(Transitional cell carcinoma)
Trang 39NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP CARCINOM NIỆU MẠC
DO DÙNG THUỐC LÀM ỐM CÓ ACID ARISTOLOCHIC
TÓM TẮT
Chúng tôi báo cáo một trường hợp carcinoma niệu mạc sau
khi sử dụng thuốc làm ốm từ thảo dược Trung Quốc có chứa Acide Aristolochic (AA) trong những năm 1990 – 1991 ở
Nice, Pháp Nghiên cứu giải phẫu bệnh cũng cho thấy tổn
thương đặc thù loại xơ hóa mô kẽ giảm dần từ vùng vỏ đến
vùng tủy thận, tuy nhiên việc xác định chẩn đoán dựa vào
việc tìm ra chất gắn AA – AND từ mô bệnh phẩm Phẫu thuật cắt bỏ thận – niệu quản 2 bên dựa vào việc phát hiện những
tế bào bất thường trong nước tiểu và ghép thận hoặc chạy
thận nhân tạo sau đó là giải pháp hiện nay Điều này giúp
cho các nhà lâm sàng thận trọng khi dùng thuốc làm ốm có
chứa dược thảo.
BS Huỳnh Ngọc Linh
Trang 40interstitial fibrosis degrading from the cortex to the medulla but the final diagnosis is made by detecting adduct AA – DNA from the specimen
tissues Bilateral uretero – nephrectomy prevention depend on detecting atypical epithelial cells in urinary cytology and renal transplantation or hemodialysis after the surgery is the current solution That makes the carefulness of physicians on slimming regimen including herbal
medication.
Trang 41Đầu thập niên 90, các tác giả ở bệnh viện Erasme, Bruxelle, Bỉ có báo cáo
43 trường hợp dùng thuốc “làm ốm” có chứa cỏ Trung Quốc sau đó bị suy thận mạn không hồi phục(9)
Nghiên cứu sinh hóa cho thấy dược thảo Stephania tetranda trong thuốc
“làm ốm” bị thay thế tình cờ bằng một dược thảo khác là Aristolochia
fangchi do sai lầm trong pha chế (vì phát âm theo tên Trung Hoa tương đối
giống nhau: Guang Fang Ji và Han Fang Ji)(6,8)
Cả hai dược thảo này đều được các tác giả Trung quốc cho là có tính lợi tiểu, kháng sinh nhẹ(7)
Riêng dược thảo Aristolochia fangchi chứa acide aristolochique (AA) là dẫn
chất của nitrophenanthren gây độc cho thận người và sinh ung thư ở loài gậm nhấm như chuột(1,3,9).
Cơ chế sinh ung thư trên thực nghiệm cho thấy vai trò sinh đột biến của chất chuyển hoá từ AA gắn vào AND của một số cơ quan như thận, niệu quản, bàng quang, dạ dày(3,5)
Gần đây một số tác giả khác đã tìm thấy bằng chứng liên quan giữa việc dùng loại thuốc “làm ốm” chứa AA và sự phát sinh carcinoma đường niệu mạc ở người(6) Bài viết này xin được báo cáo một trường hợp có biểu
hiện tương tự ở Nice, Pháp.
Trang 42
Carcinom niệu mạc vùng đài – bể thận