lô mét”, sự kiện càng gần càng quan trọng, cảm xúc sự xúc động của người đọc trước một vấn đề nào đó, tâm lí những tin tức tác động đến dục vọng, bản năng của con người sẽ được độc giả q
Trang 11) * Tính thời sự
-Sự kiện thông tin nhanh, kịp thời (có khi tức thời) được gọi là tính thời sự Trước đây báo chí diễn ra hằng ngày, được gọi là tin tức cập nhật Báo ra hằng ngày được gọi nhà nhật báo Càng ngày độc giả càng đòi hỏi thông tin nhanh vàkịp thời hơn do đó hình thành báo buổi sáng và báo buổi chiều
* Tính trung thực
-Tính trung thực của báo chí có nghĩa là cung cấp những thông tin đứng và chính xác cho người đọc, người nghe Đây vừa là chức năng của báo chí vừa là đạo đức, nguyên tắc, nghĩa vụ của nhà báo Do đó, chỉ cần có những chi tiết không chính xác, báo cũng phải đính chính
lô mét”, sự kiện càng gần càng quan trọng), cảm xúc( sự xúc động của người đọc trước một vấn đề nào đó), tâm lí( những tin tức tác động đến dục vọng, bản năng của con người sẽ được độc giả quan tâm như tình dục , tiền bạc…), thời gian( Tin tức thời sự ưu tiên cho thời hiện tại hơn quá khứ nhưng thời hiện tại lại lu mờ trước tương lai), văn hoá ( luật này áp dụng nguyên tắc “ Đồng thanh tương ứng, đồng khi tương cầu”), cuộc sống ( Những vấn đề lớn của nhân loại luôn hấp dẫn nếu được trình bày dễ hiểu và cụ thể như cuộc sống, sức khoẻ, nỗiđau khổ), thực hành ( về phương diện này con người bao giờ cũng quan tâm đếnhoạt động thực hành trong cuộc sống hằng ngày)
2) * Tính chính xác: Đối với ngôn ngữ báo chí, đây là tính chất đặc biệt quan trọng Vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội Chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất cũng có thể làm cho độc giả hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng không lường trước được Có thể đưa ra dẫn chứng: Sau chuyến tháp tùng một quan chức cao cấp sang thăm Trung Quốc,
Trang 2một nhà báo đã viết một bài phóng sự, trong đó có câu: “Chúng tôi chia tay với tình hữu nghị dạt dào của hai nước Việt - Trung” Rõ ràng từ “với” ở đây được dùng sai (vì cụm từ “chia tay với…” biểu đạt ý nghĩa “từ bỏ, từ giã”), cần phải thay nó bằng từ “trong”.
* Tính cụ thể: Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí được hiểu là khi nhà báo miêu
tả, tường thuật sự việc, phải cụ thể, cặn kẽ đến từng chi tiết nhỏ Có như vậy người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong bài báo Mỗi sự kiện được
đề cập trong tác phẩm báo chí phải gắn liền với một không gian, thời gian xác định; với những con người xác định (có tên tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, giới tính…cụ thể) Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế tối đa việc dùng từ cótính chất mơ hồ như: “một người nào đó”, “ở một nơi nào đó”, “vào khoảng”,
“hình như”,…
* Tính đại chúng Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng Tất cả mọi người trong xã hội, không phụ thuộc nghề nghiệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi,…đều là đối tượng phục vụ của báo chí Đây vừa là nơi để họ tiếp nhậnthông tin, vừa là nơi để bày tỏ ý kiến Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho đại chúng, có tính phổ cập rộng rãi như theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nổi tiếng người Nga V.G.Kostomarov đã từng nói: “Ngônngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu”
* Tính ngắn gọn: Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn và súc tích Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, ngườinghe Thêm vào đó, nó còn làm tốn thời gian của cả người viết lẫn người đọc,
dễ dẫn đến các lỗi sai về mặt ngôn từ
* Tính định lượng: Các tác phẩm báo chí thường bị giới hạn về mặt thời gian hay diện tích xuất hiện trên báo, đó là tính định lượng Vì thế, việc lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý để phản ánh đầy đủ lượng
sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về thời gian và không gian Theo bài: “Đặt tít ngắn có dễ?” trên trang web Nghề báo (nghebao.com), có những títbáo rất dài, như: “Hội thảo đổi mới giáo dục đại học Việt Nam - Hội nhập và
Trang 3thách thức” (tít này dài 64 ký tự), sau khi được sửa lại là: “Hội thảo đổi mới giáo dục đại học” (chỉ còn 33 ký tự) Chúng ta có thể nhận ra tít sau khi sửa chỉ dài gần bằng phân nửa tít trước nhưng nội dung chính vẫn được giữ nguyên Vậy tại sao lại bắt độc giả ngồi đọc những dòng chữ dài lê thê và khiến cho họ cảm thấy “tức mắt” như vậy ?! Bài viết trên cũng đã đưa ra chuẩn mực cho một tít báo là khoảng dưới 50 ký tự, theo đó là một vài gợi ý nhỏ khi viết tít: Bỏ những từ thừa Bỏ những từ “có cũng như không” như “của”, “về”, “được”,
Bỏ “các”, “những” nếu có thể “Chặt” chữ trong từ nếu được: “thành lập”, “sangthăm”, “phòng chống”, “tham dự”, Tránh câu bị động Không nhất thiết lúc nào cũng phải nói là Việt Nam
* Tính biểu cảm: Tính biểu cảm trong ngôn ngữ gắn liền với việc sử dụng những từ ngữ mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân…Ví dụ như: “Sông
Tô mà không lịch” (Báo Văn Hoá, 17/05/1999) Nếu ngôn ngữ báo chí không
có tính biểu cảm, chỉ là những chuỗi thông tin khô khan thì nó khó có thể thu hút được sự chú ý của độc giả Tính biểu cảm tác động mạnh mẽ tới tâm hồn người nghe, làm cho họ có những trạng thái cảm xúc nhất định theo như người viết mong đợi 7) Tính khuôn mẫu: Trong văn phong báo chí, ta rất hay gặp những dạng tin như: - Theo AFP, ngày…tại…trong cuộc gặp gỡ…Tổng bí thư…đã kêu gọi…
3) 1 PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ:
b/ Các phương tiện diễn đạt:
– Về từ vựng: sử dụng các lớp từ rất phong phú, mỗi thể loại có một lớp từ vựng đặc trưng
Trang 4– Về ngữ pháp: Câu văn đa dạng nhưng thường ngắn gọn, sáng sủa, mạch lạc.– Về các biện pháp tu từ: Sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tăng hiệu quả diễn đạt.
c/ Đặc trưng của PCNN báo chí:
– Tính thông tin thời sự: Thông tin nóng hổi, chính xác về địa điểm, thời gian, nhân vật, sự kiện,…
– Tính ngắn gọn: Lời văn ngắn gọn nhưng lượng thông tin cao [ bản tin, tin vắn, quảng cáo,…] Phóng sự thường dài hơn nhưng cũng không quá 3 trang báo và thường có tóm tắt, in đậm đầu bài báo để dẫn dắt
– Tính sinh động, hấp dẫn: Các dùng từ, đặt câu, đặt tiêu đề phải kích thích sự
Trang 5+ VBKH phổ cập: báo, sách phổ biến khoa học kĩ thuật… nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học cho mọi người, không phân biệt trình độ -> viết dễ hiểu, hấp dẫn.
– Ngôn ngữ KH: là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là các VBKH
Tồn tại ở 2 dạng: nói [bài giảng, nói chuyện khoa học,…] & viết [giáo án, sách, vở,…]
b/ Đặc trưng phong cách ngôn ngữ khoa học:
– Tính khái quát, trừu tượng :
+ Ngôn ngữ khoa học dùng nhiều thuật ngữ khoa học: từ chuyên môn dùng trong từng ngành khoa học và chỉ dùng để biểu hiện khái niệm khoa học
+ Kết cấu văn bản: mang tính khái quát (các luận điểm khoa học trình bày từ lớn đến nhỏ, từ cao đến thấp, từ khái quát đến cụ thể)
– Tính lí trí, logic:
+ Từ ngữ: chỉ dùng với một nghĩa, không dùng các biện pháp tu từ
+ Câu văn: chặt chẽ, mạch lạc, là 1 đơn vị thông tin, cú pháp chuẩn
+ Kết cấu văn bản: Câu văn liên kết chặt chẽ và mạch lạc Cả văn bản thể hiện một lập luận logic
– Tính khách quan, phi cá thể:
+ Câu văn trong văn bản khoa học: có sắc thái trung hoà, ít cảm xúc
+ Khoa học có tính khái quát cao nên ít có những biểu đạt có tính chất cá nhânNhận biết : dựa vào những đặc điểm về nội dung, từ
3 PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN:
a/ Ngôn ngữ chính luận:
Trang 6– Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính luận hoặc lời nói miệng trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,… nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,…theo một quan điểm chính trị nhất định.
– Có 2 dạng tồn tại: dạng nói & dạng viết
b/ Các phương tiện diễn đạt:
– Về từ ngữ: sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng có khá nhiều từ ngữ chính trị
– Về ngữ pháp: Câu thường có kết cấu chuẩn mực, gần với những phán đoán logic trong một hệ thống lập luận Liên kết các câu trong văn bản rất chặt chẽ [Vì thế, Do đó, Tuy… nhưng….]
– Về các biện pháp tu từ: sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tăng sức hấp dẫn cho
lí lẽ, lập luận
c/ Đặc trưng phong cách ngôn ngữ chính luận:
Là phong cách được dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội
– Tính công khai về quan điểm chính trị: Văn bản chính luận phải thể hiện rõ quan điểm của người nói/ viết về những vấn đề thời sự trong cuộc sống, không che giấu, úp mở Vì vậy, từ ngữ phải được cân nhắc kĩ càng, tránh dùng từ ngữ
mơ hồ; câu văn mạch lạc, tránh viết câu phức tạp, nhiều ý gây những cách hiểu sai
– Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Văn bản chính luận có hệ thống luậnđiểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, mạch lạc và sử dụng từ ngữ liên kết rất chặt chẽ: vì thế, bởi vây, do đó, tuy… nhưng…, để, mà,…
– Tính truyền cảm, thuyết phục: Thể hiện ở lí lẽ đưa ra, giọng văn hùng hồn, thathiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết
Cách nhận biết ngôn ngữ chính luận trong đề đọc hiểu :
-Nội dung liên quan đến những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,…
Trang 7-Có quan điểm của người nói/ người viết
-Dùng nhiều từ ngữ chính trị
– Được trích dẫn trong các văn bản chính luận ở SGK hoặc lời lời phát biểu của các nguyên thủ quốc gia trong hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự , …Câu 4:Từ ngữ tiếng nước ngoài tồn tại dưới hai dạng
+ tên riêng tiếng nước ngoài:
+các từ ngữ tiếng nước ngoài khác
Cơ sở lý luận Tiếng Việt đang chịu tác động mạnh mẽ từ các tiếng nước ngoài khác, đặc biệt là tiếng Anh từ trong hệ thống cấu trúc đến chức năng giao tiếp Báo chí một công cụ giao tiếp đại chúng cũng chịu tác động bởi các “làn sóng” hội nhập Hiện nay, trên báo chí các từ nước ngoài được thể hiện theo nhiều phương diện, cách thức khác nhau
Đối với tên riêng nước ngoài, được hiểu như là các danh từ riêng, được viết theo 8 dạng:
✓ Viết nguyên dạng: dùng nguyên ngữ cho các quốc gia sử dụng tiếng Anh Đối với các quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính thì tên riêng đó đượcviết lại nguyên dạng như: The Opera, Abbey Ahern, Washinton, See You
Again…các tên riêng viết theo dạng này được sử dụng với tần số rất lớn,
thường có trong các mục về thể thao, kinh tế, chuyên mục về giáo dục có sự liên kết hợp tác với nước ngoài
✓ Viết theo tiếng Anh và tiếng Pháp đối với tên riêng không dùng văn tự
Latinh: Vladimir Putin, Anzhi Makhachkala, George Madhavan
✓ Phiên âm dùng dấu gạch ngang nối và dấu thanh (hoặc không): Phiên âm tiếng Anh hoặc Pháp với các quốc gia không dùng kí tự La tinh Đối với những quốc gia không sử dụng hệ chữ cái La tinh mà dùng hệ thống chữ tượng hình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga… thì tên riêng được viết theo tiếng Anh và Tiếng Pháp việc viết lại như thế này có thể đọc và nhớ tên dễ hơn
so với việc sử dụng nguyên thể thức ngôn ngữ của nước đó
Trang 8Vd:Coca-cola, Sơ-mi-rơ- moóc, Pierre-et-Marie-Cuire
✓ Viết dưới dạng chuyển từng con chữ từ nguyên dạng sang con chữ Việt tươngđương: Kazakhstan,
✓ Viết dưới dạng tắt theo quy ước quốc tế: COC (Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông), TPP( Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương)
✓ Viết theo âm Hán Việt : Để giúp cho công chúng được tiếp cận một cách dễ dàng thì các nhà báo cũng ưu tiên dùng các tên riêng nước ngoài theo âm Hán Việt
vd: “Triều Tiên”, “ Bình nhưỡng”
: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc
✓ Viết dưới dạng dịch nghĩa: giu Báo Thời đại (The Times)…
✓ Vừa phiên âm vừa nguyên dạng: Khmer Đỏ Vừa phiên âm vừa chuyển chữ:Saône-et-Loire, Vừa dịch nghĩa vừa phiên âm: Xứ Wales, Tạp chí Forbes, Đạihọc Havard, Hãng tin Reuters,
>Đối với các từ ngữ nước ngoài khác được viết theo 6 dạng:
✓ Từ ngữ nước ngoài được báo trích nguyên dạng kèm dịch nghĩa hoặc giải thích nghĩa: tweet (trạng thái)
✓ Từ ngữ nước ngoài được nhân vật nào đó nói ra và báo chí trích dẫn lại
✓ Từ ngữ nước ngoài được sử dụng như uyển ngữ, thay thế cho từ tiếng Việt đã
có sẵn để giảm thiểu sự thô tục, chẳng hạn: toilet, WC thay cho nhà vệ sinh;
✓ Từ ngữ nước ngoài được sử dụng để gây ấn tượng với công chúng, tạo ra sự hấp dẫn cho bài báo, tờ báo
✓ Từ ngữ nước ngoài được sử dụng để chơi chữ, vui đùa
✓ Từ ngữ nước ngoài được sử dụng vì đã quen dùng, cách tác giả tạo sự gần gũi với độc giả, viết như cách độc giả nói thường ngày: video clip, tour,
fanpage, format
Trang 9vd: … thu hồi một email đã gửi
b) vấn đề về việc sử dụng thuật ngữ khoa học trong báo chí
- đối với tạp chí chuyên ngành, phải dùng thuật ngữ nhất quán theo1 hệ thống đối với những thuật ngữ gốc ngại cần dùng theo một giải pháp thống nhất, nghĩa là viết nguyên dạng hoặc phiên âm theo một cách thống nhất khi dùng nguyên dạng thuật ngữ gôc ngoại , nên nhất quán dùng theo một ngôn ngữ
- đối với báo chí dùng cho đông đảo công chúng cần tính đến những điểm sau khi dùng thuật ngữ;
* nên dùng thuật ngữ chung Tránh dùng thuật ngữ chuyên ngành hẹp
( trừ những tin khoa học kĩ thuật)
* cần dùng thống nhất thuật ngữ theo một hệ thống , đặc biệt không dùng các biến thể khác nhau của một ngôn ngữ trong cùng một bài báo
* không dùng thuật ngữ theo sở thích cá nhân cũng như không tùy tiên rút gọn cấu trúc của thuật ngữ
* không dùng thuật ngữ khoa học để diển đạt nội dung thông thường trong báo, tránh mà rối nghĩa của thuật ngữ
>> kí hiệu khoa học
Là những chữ cái kèm theo con số, dấu phụ( hoặc không) theo quy ước quốc
tế hoặc quốc gia dùng trong các ngành khoa học
Vd: m, Hz, s
b) việc dùng kí hiệu khoa học trong báo chí
Trang 10dùng kí hiệu khoa học trong báo chí có nhiều ưu điểm
ngắn gọi , tiết kiệm chỗ in trên giấy
đảm bảo chính xác lượng thông tin
có khả năng thông tin và hiểu như nhau trên một phạm vi rộng
có tính ổn định cao, được sử dụng lâu dài
Khó khăn
Có những kí hiệu chỉ dùng trong phạm vi hẹp như kí hiệu áp suất ( N/m2)
Việc sử dụng kí hiệu khoa học trong báo chí
• Các tạp chí khoa học và báo ngành sử dụng thuật ngữ khoa học
• Đối với báo chí nói chung, kí hiệu đơn vị đo lường nên dùng sau một một chữ số cụ thể
• Người tạo lập văn bản không tùy tiện trong việc sử dụng kí hiệu khoa học nhưng không rút gọn, không thay đổi mà phải dùng chính xác như tron quy ước
• Đối với báo phát thanh và báo hình nên giảm đến mức tối thiểu các kí hiệu khoa học hoặc chuyển các kí hiệu sang dạng đầy đủ
CÂU 6: Từ ngữ nghề nghiệp và tiếng lóng trong báo chí
Khái niệm từ ngữ nghề nghiệp:
Từ ngữ chuyên môn trong tiếng Việt là những từ ngữ sử dụng hạn chế trong một nghề nào đó của xã hội, những người không làm nghề đó có thể ít biết hoặckhông biết Ví dụ, nghề nông có các từ ngữ: cày vỡ, cày ải, bón lót, bón đón đòng, bón thúc, gieo thẳng, gieo vại, lúa chia vè, lúa đứng cái, lúa von,
Ngoài ra trong tiếng Việt còn có nhiều thành ngữ, tục ngữ thể hiện kinh nghiệm,cách thức làm việc, trong nghề nào đó Ví dụ trong nghề mộc có các câu: mộcgia nề giảm, cắt cưa đóng đanh,
Tiếng lóng:
Trang 11Khái niệm: Là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi
Tác dụng tích cực và tiêu cực của tiếng lóng trong văn bản báo chí
Tích cực:
Sử dụng tiếng lóng có tác dụng như một biện pháp tu từ nói giảm nhằm tránh những sắc thái đau buồn, hoặc thô hiển, khiếm nhã nếu dùng những từ ngữ toàndân để phản ánh
Tiếng lóng giúp nhà báo khắc họa sinh động những tính cách, những hoàn cảnh,hiện tựng xã hội trong bài viết
Tiếng lóng làm mới cách diễn đạt, khiến ngôn ngữ thể hiện dí dỏm, khỏe khoắn,sinh động, giàu hình ảnh hơn tên gọi chính thức sự vật, hiện tượng, Tiếng lóng hấp dẫn độc giả hơn những từ ngữ bình thường, quen thuộc đến mức “ đã mòn như những đồng xu”
Tiêu cực:
Tiếng lóng là ngôn ngữ dùng riêng cho một nhóm xã hội nên khi đưa lên mặt báo, nhiều độc giả sẽ hiểu lầm hoặc không hiểu nghĩa của nó Do đó, nên hạn chế đưa lên mặt báo những tiếng lóng quá xa lạ và có thể chú thích nếu không làm mất đi sự tế nhị trong diễn đạt
Dùng nhiều tiếng lóng trong một bài báo không chỉ làm cho bài báo trở nên khóhiểu, xa lạ với độc giả mà còn làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt
Câu 7: Từ ngữ được viết tắt và cách viết tắ trong ngôn ngữ báo chí
Từ ngữ được viết tắt sẽ trở thành chữ tắt trên văn bản
Ví dụ: Chữ tắt có tần số xuất hiện cao, quen thuộc với số đông người:
HTX: hợp tác xã
UBND: ủy ban nhân dân
Chữ tắt xuất hiện thấp, không quen thuộc với số đông người: