1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giam phan

80 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
Trường học Cao đẳng Sư phạm Lào
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vientiane
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trên thực tế, Lào có lịch sử chung với người Xiêm và các dân tộc khác thuộc hệ ngôn ngữ Thái, và Lān Xāng chỉ là một trong một số vương quốc Thái trong một vùng có một sự thống nhấ

Trang 1

Cộng hòa Dân chủ Nhân

dân Lào

Trang 2

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một quốc gia có đất liền bao quanh tại vùng Đông Nam Á Lào giáp giới nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi " hay Vạn Tượng ; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào Trước đây Lào còn có tên là Ai Lao (chữ Hán).

Trang 3

Sơ khai

 Tổ tiên người Lào là người Thái Sắc dân này phải rời bỏ Trung

quốc đi về phía nam vào thế kỷ 13 sau Công Nguyên Đến giữa thế

kỷ 14, Lan Xang, một vương quốc hùng mạnh được thành hình, với thủ đô là Luang Prabang Vương quốc Lan Xang được cho là có công du nhập vào Lào giáo lý Phật giáo hệ phái Tiểu Thừa và nền văn minh Khmer

Qua những cuộc chiến tranh với các lân quốc như Khmer, Miến

Điện, Việt Nam và Thái Lan, vương quốc Lan Xang đến thế kỷ 17,

mở rộng ảnh hưởng đến tận miền nam Trung quốc, Miến Điện và nhiều phần đất tại Việt Nam và Campuchia Nhưng trong hai thế kỷ sau đó, tranh chấp giữa các hoàng thân trong nước khiến vương quốc suy yếu Hậu quả là phần lớn lãnh thổ Lào chịu sự thống trị của Việt Nam và Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay.)

Trang 4

 Năm 1893, Lào bị Pháp bảo hộ Thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật chiếm Lào; nhưng sau khi Nhật thua, Pháp tái lập quyền cai trị và phục hồi chế độ quân chủ Tuy nhiên, mãi đến năm 1949, Pháp mới ban cho Lào quyền tự trị.

Phong trào chống đối bắt đầu lớn mạnh Năm 1950, lực lượng kháng Pháp thành lập Pathet Lao, tức phong trào cộng sản quy tụ thành phần quốc gia Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương vào năm 1954, Lào hoàn toàn được độc lập, và được thu nhận làm thành viên Liên Hiệp Quốc vào năm 1955

Cuối thập niên 1960 sang đầu những năm 1970, vào lúc chiến tranh diễn ra

ác liệt ở Việt Nam, xung đột cũng xảy ra ngay trong nước Lào giữa hai lực lượng chống cộng và thân cộng Thời gian chiến tranh lan rộng ở Việt Nam, quân đội miền Nam Việt Nam có lúc đã tiến sâu vào lãnh thổ Lào để truy kích lực lượng bộ đội cộng sản Việt Nam Do đó, Lào cũng trở thành bãi chiến trường Qua những trận oanh tạc dữ dội của không quân Hoa Kỳ, Lào trở thành quốc gia hứng chịu nhiều bom đạn nhất trong lịch sử chiến tranh

Trang 5

Lịch sử

 Lịch sử của Lào trước thế kỷ 14 gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu Vào thế kỷ 14 , vua Phà Ngùm (Fa Ngum) lên ngôi đổi tên nước thành Lan Xang Trong nhiều thế kỉ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Việt Nam, Miến Điện

và Xiêm Đến thế kỷ 18, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một

số công quốc còn lại Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh

hưởng của Pháp trong thế kỷ 19 và bị sáp nhập vào Liên bang

Đông Dương vào năm 1893 Trong Thế chiến thứ hai, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào Năm 1949 quốc gia này nằm dưới

sự lãnh đạo của vua Sisavang Vong và mang tên Vương quốc Lào Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp ước Genève, công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào

Trang 6

 Từ 1955 đến 1975, Hoa Kỳ dựng lên ở Lào một hệ thống chính

quyền dựa rất nhiều vào hậu thuẫn của họ Tình trạng bất ổn về

chính trị tại Việt Nam cũng đã lôi kéo Lào vào cuộc Chiến tranh Đông Dương lần hai và là yếu tố dẫn đến nội chiến và một vài cuộc đảo

chính Năm 1975 phong trào cộng sản Pathet Lào đã lật đổ chính

quyền hoàng tộc của vua Savang Vatthana và nắm quyền lãnh đạo đất nước này Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước

Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Ngày này cũng được lấy làm

ngày quốc khánh của Lào

 Lào là thành viên Liên Hiệp Quốc từ ngày 14 tháng 12 năm 1955 (lưu ý:chính phủ Lào này không phải là lực lượng Pathet) Quan hệ ngoại giao với Việt Nam cấp đại sứ được thiết lập từ ngày 6 tháng 9 năm 1962

 Những năm cuối thập niên 1980, Lào thực hiện chính sách nới lỏng kiểm soát kinh tế Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc

Trang 7

Sơ khởi

 Nước Lào chỉ bắt đầu từ năm 1945 Ý tưởng về một quốc gia Lào riêng biệt được hình thành từ thế kỷ 19, khi những tư tưởng

phương tây về đặc tính quốc gia lan tới Đông Nam Á, và khi những

bộ tộc nói tiếng Lào bị áp lực từ hai quốc gia mạnh hơn và có ý đồ bành trướng ở bên cạnh là Xiêm (Thái Lan) và Việt Nam Biên giới hiện nay của Lào được người Pháp vẽ ra năm 1893 và 1904 Hiện nay “Lịch sử Lào” chính thức được tính từ Vương quốc Lān Xāng, được thành lập năm 1353 Nhưng trên thực tế, Lào có lịch sử

chung với người Xiêm và các dân tộc khác thuộc hệ ngôn ngữ Thái,

và Lān Xāng chỉ là một trong một số vương quốc Thái trong một

vùng có một sự thống nhất ngôn ngữ và văn hoá rộng trước khi các cường quốc bên ngoài xuất hiện

Trang 8

 Thái là nhóm ngôn ngữ có nguồn gốc từ nam Trung Quốc, gồm

người Lào, Xiêm, người Sán Chay ở đông bắc Miến Điện, người Choang ở tỉnh Quảng Tây Trung Quốc và người Thổ, người Nùng ở vùng núi phía bắc Việt Nam Trong thiên niên kỷ đầu tiên sau công nguyên, dưới áp lực bành trướng của người Hán Trung Quốc,

người Thái bắt đầu di cư xuống vùng Đông Nam Á Họ thế chỗ

những dân tộc vốn sống ở đó từ trước (gồm cả nền văn hoá ở thời

kỳ đồ sắt với những người đã tạo ra những chiếc chum đá khổng lồ

đã thành tên cho vùng Cánh đồng Chum ở trung tâm nước Lào) Sông Mekong chảy xuyên qua nước Lào ngày nay là một con

đường di cư chính, nhưng sức mạnh của Đế quốc Khmer (

Campuchia) đã ngăn không cho người Thái chiếm vùng đồng bằng sông Cửu Long Thay vào đó, vùng định cư chính của người Thái nằm xa hơn về phía nam, ở châu thổ sông Chao Phraya, nơi họ lập nên nhiều vương quốc tiền thân của nước Xiêm hiện đại hay Thái Lan

Trang 9

 Trong thiên niên kỷ đầu tiên sau công nguyên, các dân tộc Thái vẫn còn được tổ chức một cách lỏng lẻo thành nhiều thực thể nhỏ gọi là muang (mường) hay

mandalas Họ bị ảnh hưởng nhiều từ những nền văn

hoá văn minh hơn ở xung quanh: văn hoá Khmer ở phía đông nam, các văn hoá Hindu của Ấn Độ ở phía tây Đa

số các dân tộc Thái chuyển sang một hình thức tôn giáo kiểu Hindu giáo, hiện ta vẫn còn thấy những dấu vết của

nó trong các tôn giáo Lào hiện nay Giữa thế kỷ thứ 6 và thứ 9 sau công nguyên, Phật giáo bắt đầu lan tới những vùng do người nói tiếng Thái sinh sống, có lẽ qua Miến Điện, và trở thành tôn giáo chính Nhưng Lào vẫn giữ

Trang 10

 Sự nổi lên và suy sụp của nhiều quốc gia Lào thời kỳ đầu hiện nay chỉ còn được ghi lại trong truyền thuyết Vị lãnh đạo đầu tiên được ghi lại trong lịch sử Lào là Khun Lô, có lẽ ông đã chinh phục vùng Luang Phrabāng từ tay những nhóm người không phải Thái vào thế

kỷ thứ 12 Bởi vì sông Cửu Long bị chia thành ba vùng vận tải thuỷ riêng biệt theo độ dốc của nó, giữa Luang Phrabāng và Viêng Chăn (Vientiane) giữa Viêng Chăn và Savannakhēt, ba thành phố đó trở thành những trung tâm riêng biệt “tượng trưng” của Lào-Lum Mô hình này chỉ bị phá vỡ khi người Mông Cổ xâm lược năm 1253, khi đội quân do Kublai Khan chỉ huy tiến về hạ lưu sông Cửu Long để tấn công vương quốc Khmer Khi người Mông Cổ rút đi, một vương quốc mới là Sukhothai được người Xiêm dựng lên, sau này nó phát triển thành một nhà nước Xiêm hùng mạnh hơn với thủ đô ở

Ayutthaya (được thành lập năm 1351) Vương quốc Lān Nā, đóng

đô ở Chiềng Mai gồm cả những đặc trưng Xiêm và Lào cũng được thành lập vào khoảng thời gian này

Trang 11

Champāsak và có lẽ còn kéo dài về phía nam tới tận Stung Treng ở nơi hiện nay là biên giới phía bắc của Campuchia Vợ ông được cho là người

đã đưa Phật giáo tiểu thừa vào trong nước, nhánh Phật giáo này được các nhà sư truyền giáo từ Sri Lanka đưa sang Xiêm trong thế kỷ 13, và từ đó nó lan sang Đế chế Khmer Tuy nhiên, năm 1368, vợ Fā Ngum chết, chỉ một thời gian ngắn sau khi triều đình nhà Nguyên ở Trung Quốc sụp đổ Các sự kiện đó đã phá vỡ những mối quan hệ vốn có tác dụng duy trì quyền lực cho Fā Ngum, và năm 1373 ông bị lật đổ bởi một mưu đồ bên trong triều đình và bị thay thế bởi con trai mình là Unheuan, vị vua mới lấy tên là

Sāmsaentai ("Vua của 300,000 người Thái").

Trang 12

 Lān Xāng không phải là một quốc gia theo nghĩa hiện đại của từ này Nhà vua ở Xiang Dong Xiang Thong cai trị trực tiếp thành phố đó và vùng xung quanh Các vị lãnh chúa ở các vùng khác tự đặt ra thuế riêng của họ và tự cai trị theo kiểu mà họ cho là thích hợp Những trách nhiệm của họ đối với nhà vua chỉ là nộp cống, tham dự các nghi lễ lớn của triều đình, và đưa lực lượng của mình tới giúp vua khi xảy ra chiến tranh Vì thế Lān Xāng là một liên bang phong kiến lỏng lẻo chứ không phải là một vương quốc tập trung hành chính Nó có tính linh hoạt rất cao nhưng cũng có nghĩa rằng sự liên kết lẫn nhau phụ thuộc vào cá nhân nhà vua và chính quyền tôn giáo Trong nửa thế kỷ sau cái chết của Sāmsaentai năm 1416 có hàng loạt những vị vua kém cỏi nối tiếp nhau, và thời huy hoàng của Lān Xāng dần chấm dứt Tới thế kỷ 15 tất cả các dân tộc Thái phải đối mặt với những thách thức từ các quốc gia mạnh ở xung quanh, người Việt Nam ở phía đông, Miến Điện

ở phía tây (người Xiêm Ayutthaya đã tiêu diệt sức mạnh của người Khmer năm 1431) Năm 1479 người Việt Nam xâm lấn lãnh thổ của Lào, cướp phá Luang Phrabāng.

Trang 13

 Đối mặt với tình hình đó, vua Vixun (cai trị giai đoạn 1501-20) đã đưa ra hai bước quan trọng nhằm củng cố ngai vàng Đầu tiên ông

ra lệnh viết cuốn biên niên sử hoàng gia được gọi là Nithān Khun Bôrum (Câu chuyện về vua Bôrum), khẳng định tính hợp pháp của triều đình Thứ hai, ông mang từ Angkor về Lān Xāng nhiều tượng Phật bằng vàng, được gọi là Phra Bāng hay Tượng Phật linh thiêng (Theo niềm tin dân tộc bức tượng đó đã được đúc ở Sri Lanka vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên và sau đó được dâng lên các vị vua Khmer Quan điểm hiện nay cho rằng bức tượng đó có nguồn gốc Khmer và niên đại ở giai đoạn Đế chế Khmer.) Hai việc đó nhấn mạnh rằng nhà vua Lān Xāng vừa cai trị bằng quyền thừa kế chính thống từ vị vua huyền thoại Bôrum, vừa bằng những phẩm chất

(merit) tốt đẹp của mình, đó là khái niệm then chốt của Phật giáo

Trang 14

 Sau khi Vixun chết, hai vị vua tài giỏi khác là Phōthisālarāt 48) và con trai ông Xētthāthirāt (1548-71) duy trì được sức mạnh và

(1520-uy thế của vương quốc T(1520-uy nhiên, năm 1558, cuộc tấn công đầu tiên trong một loạt những cuộc tấn công của người Miến Điện diễn

ra Người Miến Điện cướp phá Chiềng Mai, chấm dứt sự tồn tại độc lập của Lān Nā, và phá huỷ các vùng phía tây Lān Xāng Để đương đầu, Xētthāthirāt đã lập lên một liên minh với Ayutthaya, và vào năm

1560 ông chuyển thủ đô về hạ lưu dòng sông tới Viêng Chăn, là nơi

dễ phòng ngự hơn và gần với đồng minh Xiêm Ông đã xây dựng ở

đó một điện vĩ đại, là Ho Phra Kaeo, ông đưa bức tượng Phật Lục Bảo là vật sùng kính từ xa xưa của quốc gia (được người Lào cứu được khi Chiềng Mai thất thủ) vào đó làm biểu tượng mới của thời cai trị của ông Phra Bāng bị bỏ lại phía sau ở Xiang Dong Xiang Thong để bảo vệ thành phố, thành phố này hiện được đổi tên thành Luang Phrabāng ("Phra Bāng vĩ đại")

Trang 15

 Năm 1569 người Miến Điện lại tấn công, chiếm Ayutthaya và đặt Lān Xāng vào tình trạng nguy hiểm Người Miến Điện chiếm Viêng Chăn một thời gian ngắn năm 1570, nhưng chỉ sau vài tháng

Xētthāthirāt đã buộc họ phải rút lui, và làm tăng uy tín của ông lên cao hơn bao giờ hết Nhưng những năm sau đó ông lại tìm cách tấn công Campuchia Trong khi đang thực hiện tham vọng của mình, ông bị giết và quân đội của ông tan rã Việc này khiến Lān Xāng lại

bị để trống không được bảo vệ trước người Miến Điện, và trong 60 năm tiếp sau đó Lān Xāng là vùng phụ thuộc của Miến Điện, thỉnh thoảng nó bị chiếm giữ trực tiếp Có nhiều giai đoạn không hề có một vị vua nào và nước Lào dường như sẽ bị người Miến Điện hay người Xiêm sáp nhập

Trang 16

 Nhưng vào năm 1637 Surinyavongsā, vị vua vĩ đại nhất và là vua cuối cùng của Lān Xāng, lên ngôi

và tái lập nền động lập của vương quốc Ông thiết lập các quan hệ thân thiện với vua Xiêm là Narai

ở Ayutthaya, và liên minh đó đủ mạnh để đối phó với người Miến Điện và người Việt Nam trong

nhiều năm Dưới thời cai trị của ông, vương quốc ngày càng thịnh vượng và Viêng Chăn được xây dựng thêm nhiều đền chùa và cung điện (chỉ một

số ít còn tồn tại) Thành phố trở thành trung tâm truyền bá Phật giáo lớn, với các nhà sư từ Xiêm

và Campuchia tới học trong các wat (trường) của

Trang 17

 Cũng trong thời cai trị của Surinyavongsā những người Châu Âu đầu tiên đã đặt chân tới Lào Một thương gia Hà Lan, Gerritt van Wuysthoff đã đi đường sông từ Phnom Penh tới Lào khoảng năm

1641 Những miêu tả của ông đã gây sự chú ý của các thầy tu dòng Tên, những người luôn nhiệt tình muốn trở thành người đầu tiên dẫn dắt linh hồn cho các dân tộc mới được phát hiện Nhà truyền giáo đầu tiên, Giovanni-Maria Leria, nhanh chóng nối bước van

Wuysthoff và ông đã ở đó sáu năm, học tiếng và nghiên cứu tôn giáo và phong tục Lào Đa số những hiểu biết về Lān Xāng và giai đoạn lịch sử tiếp sau của nó đều được lấy từ những bản ghi chép của Leria Ông thuyết phục được một số người cải sang Thiên chúa giáo, nhưng điều thành công hơn cả là ông đã khiến cho thế giới bên ngoài biết về sự giàu mạnh của vương quốc Lào

Trang 18

 Hai hoàn cảnh cùng tác động đã gây ra sự sụp đổ của Lān Xāng

Surinyavongsā chỉ có một người con trai, và ông đã ra lệnh xử tử người này

vì tội thông dâm Vì thế, khi Surinyavongsā chết năm 1694, không có ai là người kế vị và một cuộc chiến giành ngôi diễn ra và các nước lân cận của Lān Xāng cũng nhanh chóng dính dáng vào Nguyên nhân thứ hai là sự

tách biệt của vương quốc Cả người Xiêm và người Việt Nam đều đã có quan hệ với người Châu Âu trong thời gian dài hơn Lào, và đều đã sử dụng súng cầm tay, trong khi nước Lào nằm tách biệt riêng trong lục địa không thể buôn bán trực tiếp với người Châu Âu Bị chia cắt và không có người lãnh đạo, họ không phải là đối thủ tương xúng với người Xiêm được trang

bị súng và những cố vấn Châu Âu Sau một thập kỷ chiến tranh và hỗn

loạn, năm 1707 Lān Xāng bị chia thành ba vùng, là các vương quốc chư hầu của người Xiêm ở Luang Phrabāng, Viêng Chăn và Champāsak Viêng Chăn và Champāsak phải nộp cống cho cả người Việt Nam và người Xiêm

- một việc sẽ có tầm quan trọng lớn sau này.

Trang 19

 Hiện nay lịch sử chính thức của Lào miêu tả Lān Xāng là quốc gia dân tộc Lào, và vì thế là tổ tiên trực tiếp của nước Lào hiện nay Quan điểm này vẫn còn phải xem xét nhiều Không có sự phân biệt thực tế rõ ràng giữa người Xiêm, người Lào và những dân tộc nói tiếng Thái trước thế kỷ 19 Văn hoá và tôn giáo của họ hầu như giống nhau và các ngôn ngữ cũng có liên quan gần gũi Các vị vua Lān Xāng là người Lào-Lum, nhưng các dân tộc thuộc quyền cai quản của họ lại nói nhiều loại ngôn ngữ, gồm cả tiếng Xiêm, tiếng Khmer và nhiều nhóm ngôn ngữ Lào-Thoeng, Lào-Sūng nhỏ khác Lào-Lum coi những người Lào ở miền núi là dân kém văn minh (mọi rợ), coi họ là khā (bọn nô lệ) và maeo (bọn man rợ) Nền tảng quyền lực của nhà vua là triều đình và tôn giáo chứ không phải dân tộc hay quốc gia Khi cần thiết, họ nộp cống cho người Xiêm, người Việt Nam, người Miến Điện nay những vị quan cai trị Trung Quốc với sự sốt sắng như nhau Như

sẽ thấy, chỉ sau khi Lān Xāng sụp đổ, khi người Xiêm đã hấp thụ một số tư tưởng Châu Âu về tính ưu việt quốc gia và áp đặt một chế độ bán thuộc địa lên Viêng Chăn Lào, một ý thức dân tộc Lào mới bắt đầu xuất hiện.

Trang 20

Sự cai trị của người Xiêm và người Việt

 Với sự sụp đổ của Lān Xāng, sự chú ý của người Châu Âu tới nước Lào giảm sút, và chỉ có một vài người tới đây trong thế kỷ 18 Có ít tài liệu về những sự việc xảy ra bên trong nước Lào ở thời kỳ này Năm 1763, cuộc xâm lăng lớn nhất của người Miến Điện đã diễn ra Tất cả các vùng lãnh thổ Lào đều bị chinh phục Năm 1767, vương quốc Ayutthaya sụp đổ Một lần nữa, các dân tộc Thái có nguy cơ trở thành thần dân của Miến Điện Nhưng người Xiêm ngay lập tức phát động một cuộc phản công Taksin, một vị tướng gốc Hán, đã tổ chức kháng chiến, đẩy lùi người Miến Điện và lập ra một thủ đô mới

ở Bangkok, từ đó ông bắt đầu cuộc chinh phục toàn bộ các dân tộc Thái Taksin tấn công người Miến Điện ở phía bắc năm 1774 và

chiếm Chiềng Mai năm 1776, thống nhất vĩnh viễn hai nước Xiêm

và Lān Nā Tướng của Taksin trong chiến dịch này là Thong Duang, được biết đến với danh hiệu Chaophraya Chakri Năm 1778, Chakri dẫn một đội quân Xiêm khác đi về phía bắc, chiếm Viêng Chăn và lập ra chế độ thống trị Xiêm trên toàn bộ Lào

Trang 21

 Người Xiêm đến Lào không phải với tư cách những người giải

phóng Viêng Chăn bị cướp bóc sạch trơn Báu vật được tôn kính nhất, Phật Ngọc, bị đem về Bangkok và vẫn ở đó cho tới nay Vị vua ở Viêng Chăn trốn thoát nhưng đã chết một thời gian ngắn sau

đó Từ đó bắt đầu thời cai trị của các vị vua bù nhìn do Xiêm dựng lên Nhiều gia đình quý tộc Lào bị lưu đầy và bị buộc phải di cư

sang đất Xiêm Champāsak cũng bị đặt dưới quyền kiểm soát của Xiêm, mặc dù một số mường Lào ở miền núi phía đông vẫn tiếp tục triều cống cho triều đình Việt Nam tại Huế Năm 1792, người Xiêm chiếm Luang Phrabāng, nhưng thủ đô cũ này được đối xử tốt hơn

so với những gì đã xảy ra cho Viêng Chăn Nó không bị cướp phá,

và vị vua ở đó vẫn giữ được ngôi vị của mình sau khi đã thần phục người Xiêm

Trang 22

 Năm 1782, Chaophraya Chakri phế truất Taksin khỏi

ngôi vua nước Xiêm, lên ngôi và trở thành vua Rama I, lập ra triều Chakri mà hiện vẫn giữ ngôi vị ở Thái Lan Dưới ảnh hưởng ngày càng tăng từ phía tây, các vị vua triều Chakri bắt đầu chuyển đổi hình thức nước Xiêm vốn gồm nhiều vùng khác nhau thành một quốc gia kiểu hiện đại, dù đây là một quá trình chậm chạp, khó khăn

và đã kéo dài hơn một thế kỷ Ban đầu, các vương quốc Lào ở xa không bị ảnh hưởng nhiều Họ phải nộp cống

và tuân phục Bangkok, và vẫn được để yên.

Trang 23

 Trong các năm 1795 và 1828, vương quốc Lào trở thành một nước chư hầu của Việt Nam Năm 1802, quân nhà Nguyễn phá thành phố Viêng Chăn, và giành quyền kiểm soát vùng bắc Lào.

 Vì thế khi vua Ānuvong ở Viêng Chăn, lên ngôi năm 1804, bắt đầu xây

dựng lại sức mạnh đất nước, với sự giúp đỡ ngầm từ phía Việt Nam,

Bangkok cũng không để ý lắm Ānuvong xây dựng ngôi chùa Wat Sisakēt tráng lệ để làm biểu tượng cho sự hồi sinh của Lào Tới năm 1823 ông tin rằng mình đã đủ sức mạnh để gạt bỏ ách thống trị của người Xiêm Ông dễ dàng chiếm quyền kiểm soát vùng Viêng Chăn, trong khi các đồng minh của mình chiếm Champāsak Sau đó quân đội Lào vượt sông Mê Kông, với

tham vọng giải phóng cao nguyên Khōrāt là nơi các dân tộc nói tiếng Lào sinh sống và tuyên bố độc lập khỏi nước Xiêm Ānuvong là vị vua Lào đầu tiên đi tiên phong với vai trò một người yêu nước, kêu gọi sự đoàn kết

thống nhất và dẫn dắt các bộ tộc Lào Nhưng những thành công đầu tiên của ông không kéo dài.

Trang 24

 Vua Luang Phrabāng liên kết với người Xiêm, người Việt Nam không giúp đỡ, và vua Xiêm Rama III huy động

quân đội phản công Năm 1827, quân Lào thua trận

chiến quyết định ở phía nam Viêng Chăn Thành phố

(trừ một số đền chùa) bị đốt cháy trụi và dân cư bị trục xuất Năm sau đó, Ānuvong bị bắt và chết trong tù tại

Bangkok Vương quốc Viêng Chăn bị tiêu diệt hoàn toàn

và trở thành một tỉnh của Xiêm: đây là một sự phát triển mới trong lịch sử Thái, phản ánh sức mạnh ngày càng tăng của các tư tưởng Châu Âu

Trang 25

 Giữa thế kỷ 19 là khoảng thời gian tồi tệ nhất trong lịch sử Lào Vua Luang Phrabāng vẫn giữ được độc lập danh nghĩa bằng cách nộp cống cho Trung Quốc và Việt Nam cũng như nước xiêm Khi Xiêm phát triển cơ cấu của một quốc gia hiện đại, phần còn lại của lãnh thổ Lào bị Bangkok cai trị trực tiếp theo cách càng ngày càng chặt chẽ và đàn áp Lãnh thổ Lào thưa thớt dân cư vì những cuộc tái định cư ép buộc, và các thành phố đầy những người dân nhập cư Trung Quốc và Việt Nam Nếu cuộc khởi nghĩa của Ānuvong cho thấy sự khởi đầu của một tinh thần dân tộc Lào thực sự, thì tới

những năm 1860, dường như nước Lào sẽ nhanh chóng đánh mất vai trò của một thực thể quốc gia và trở thành một vùng phụ thuộc của vương quốc Xiêm

Trang 26

Lịch sử Lào

thành lập vương quốc Lan Xang năm 1353, trải qua các thời kỳ phong kiến, thuộc địa của Việt Nam, Xiêm, Pháp, Nhật, và độc lập ngày nay.

 Người Lào, nhóm dân tộc chính sống tại nước Lào hiện nay, là một nhánh của các dân tộc sử dụng hệ ngôn ngữ Thái, những người mà cho tới thế kỉ

8 đã thiết lập vương quốc Nam Chiếu hùng mạnh ở phía tây nam Trung Quốc Từ Nam Chiếu, người Thái đã di cư dần dần về phía nam, vào sâu trong bán đảo Trung Ấn; sự di cư của họ đã được đẩy mạnh vào thế kỉ 13 khi quân Nguyên Mông của hoàng đế Hốt Tất Liệt xâm chiếm miền Nam Trung Hoa Cùng với các dân tộc Thái khác, người Lào đã dần dần chiếm lĩnh địa bàn của các bộ lạc thổ dân bản địa (thường được gọi chung là

người Kha, nghĩa là "nô lệ") đã sống từ thế kỉ 5 tại nơi mà nay là nước Lào, dưới quyền cai trị của đế quốc Khmer Trong các thế kỉ 12 và 13, người Thái thiết lập lãnh địa Muong Swa (sau là Luang Prabang), do các lãnh đạo người Thái cai trị.

Trang 27

Trước 1945

 Từ khi Fa Ngum dựng nước, những người kế tục ông, đặc biệt là vua Photisarath ở thế kỷ 16 đã giúp đưa Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo chính trong nước Trong thế kỷ 17, Lang Xang rơi vào giai đoạn suy tàn và tới cuối thế kỷ 18, nước Xiêm (Thái Lan hiện nay) đã thiết lập được quyền kiểm soát lên toàn bộ nước Lào ngày nay Lãnh thổ bị chia thành ba quốc gia phụ thuộc lẫn nhau với quốc gia lớn nhất Luang Prabang ở phía bắc, Vientiane ở trung tâm, và Champassak ở phía nam Vùng Vientiane Lào đứng lên khởi nghĩa năm 1828 nhưng bị dẹp tan, và vùng này bị sáp nhập vào Xiêm Sau khi chiếm Việt Nam, người Pháp đưa Lào vào trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp thông qua các hiệp ước với nước Xiêm năm 1893 và 1904

Trang 28

 Các cuộc bầu cử được tổ chức vào năm 1955, và chính phủ liên hiệp đầu tiên, do Hoàng tử Souvanna Phouma lãnh đạo được thành lập năm 1957 Chính phủ liên hiệp sụp đổ năm 1958 vì sức ép của Hoa Kỳ Năm 1960 các đơn vị quân đội thực hiện một cuộc đảo chính yêu cầu cải cách và một

chính phủ trung lập Chính phủ liên hiệp thứ hai ra đời, và lại do Souvanna Phouma lãnh đạo, nhưng chính phủ này không giữ được quyền lực Những lực lượng cánh hữu dưới quyền của tướng Phoumi Nosavan loại bỏ những người trung dung ra khỏi chính phủ cùng trong năm đó.

Trang 29

 Một hội nghị Genève lần thứ hai được tổ chức năm 1961-62, quy định tính độc lập và trung lập của nước Lào, nhưng thoả thuận này lại bị cả Hoa Kỳ

và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà phá vỡ và chiến tranh lại nhanh chóng

diễn ra Lào bị kéo vào Chiến tranh Đông Dương lần hai (1954-1975) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng vùng cán xoong của Lào làm đường vận chuyển hậu cần và chuyển quân từ miền Bắc Việt Nam vào miền Nam Để chống lại nỗ lực này, Hoa Kỳ thành lập lực lượng của tướng Vàng Pao với mục đích quấy phá các cơ sở và lực lượng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đặt tại Lào Xung đột cũng diễn ra giữa Quân đội quốc gia Lào và lực lượng Pathet Lào với hậu thuẫn là Quân đội Nhân dân Việt Nam Trong gần một thập kỷ, phần đông nam Lào là nơi phải chịu nhiều trận ném bom dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh [cần chú thích], khi Hoa Kỳ tìm cách phá huỷ đường mòn Hồ Chí Minh chạy xuyên nước Lào Khu vực này của Lào cũng nhiều lần bị Quân lực Việt Nam Cộng hòa xâm lấn (ví dụ Chiến dịch Lam Sơn 719) và các đội thám báo Mỹ thâm nhập với mục đích phá hoại tuyến đường hậu cần trên.

Trang 30

 Một thời gian ngắn sau Hiệp định hoà bình Paris dẫn tới sự rút quân của Mỹ khỏi Việt Nam, một cuộc ngừng bắn diễn ra giữa Pathet Lào

và chính phủ dẫn tới việc thành lập một chính phủ liên minh mới Tuy nhiên, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà không thực sự rút quân khỏi Lào và Pathet Lào vẫn là một đội quân phụ thuộc vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Pathet Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam đã có thể chiếm toàn bộ quyền lực mà chỉ gặp phải một sự chống đối ít ỏi Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nhà vua buộc phải thoái vị và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

được thành lập

 Chính phủ cộng sản mới do Kaysone Phomvihane lãnh đạo áp đặt nền kinh tế tập trung hoá và đưa nhiều thành viên của chính phủ và quân đội trước đây vào các "trại cải tạo", trong số đó có nhiều người Hmong Các chính sách của chính phủ đã khiến 10% dân số phải

bỏ nước ra đi Lào phụ thuộc nhiều vào viện trợ của Liên Xô thông qua Việt Nam cho tới khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991 Trong thập

Trang 31

Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9

ủy viên Bộ Chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng Các quyết

sách quan trọng của chính phủ do Hội đồng bộ trưởng biểu quyết thông qua

 Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991 Trong năm sau đó đã diễn

ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu Các thành viên quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín Quốc hội do cuộc bầu cử năm 1997 tăng lên thành 99 đại biểu đã thông qua các đạo luật mới mặc dù cơ quan

Trang 32

 Louang Namtha: Luông Nậm-thà

 Louang Phrabang: Luông Pha-băng

 Oudomxai: U-đôm-xay

 Phongsali: Phong-xa-lỳ

 Salavan: Xa-la-van

Trang 33

 Viêng Chăn *: thành phố Vientiane

 Tỉnh Viêng Chăn: tỉnh Vientiane

Trang 34

Kinh tế

 Lào - một trong số ít các nước cộng sản còn lại - đã bắt đầu dỡ bỏ việc

kiểm soát tập trung hóa và tăng cường phát triển doanh nghiệp tư nhân vào năm 1986 Kết quả từ một xuất phát điểm thấp là rất ấn tượng Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7% trong các năm 1988-2001 ngoại trừ một khoảng thời gian tụt xuống do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu năm 1997.

 Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng Lào vẫn còn là một đất nước với cơ

sở hạ tầng lạc hậu Tại đây không có đường sắt, hệ thống đường bộ mặc

dù đã được cải tạo nhưng vẫn đi lại khó khăn, hệ thống liên lạc viễn thông trong nước và quốc tế còn giới hạn, điện sinh hoạt chỉ mới có ở một số khu vực đô thị.

 Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng.

Trang 35

Địa lý

 Lào là một đất nuớc không có biển ở Đông Nam Á với những cánh rừng rậm rạp bao phủ các khu vực núi đồi lởm chởm Đỉnh cao nhất

là Phou Bia cao 2.817 m với một số đồng bằng và cao nguyên

Sông Mê Kông chảy qua phần lớn biên giới phía tây với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông với Việt Nam

 Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới với đặc trưng là có mùa mưa và mùa khô trong đó mùa mưa diễn ra hàng năm từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn , các

thành phố lớn khác là: Louang Phrabang, Savannakhet và Pakse

 Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá

Trang 36

Dân cư

 Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm

 Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao

(Yao hay Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào Một cách tổng quát họ được biết đến như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao

 Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là nơi sinh sống của các bộ lạc thuộc sắc tộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lao

Thơng Có một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đã rời khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối

Trang 37

 Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân tộc Lào hay tập quán của người Lào mà nó bao hàm ý nghĩa chính trị nhiều hơn Nó có thể bao hàm cả các sắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang sinh sống ở Lào và là công dân Lào Tương tự

như vậy từ "Lào" có thể chỉ đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc sắc tộc Lào đang sinh sống

ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan)

 Tôn giáo chính là Phật giáo nguyên thuỷ, cùng với những điểm

chung của thờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn tại một cách hòa bình của thờ cúng tinh thần Có một số ít

người theo đạo Kitô và đạo Hồi

 Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, một kiểu phát âm của Nhóm ngôn ngữ Thái Người Lào vùng trung và cao nguyên nói

tiếng của bộ lạc mình

Trang 38

Văn hóa

nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của ống

Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát triển

ngày nay là Cánh đồng Chum.

Trang 39

Một số di tích về nền văn hóa Lào

Cánh đồng chum là một khu vực văn hóa lịch sử gần thành phố Khăm Muộn, thuộc tỉnh Xiêng Khoảng của

Lào, nơi có hàng ngàn chum bằng đá nằm rải rác dọc

theo cánh đồng thuộc Cao nguyên Xiêng Khoảng tại cuối phía bắc của dãy núi Trường Sơn Trong Chiến tranh

Việt Nam và Chiến tranh bí mật, Cánh đồng chum được

đề cập đến một cách đặc thù để chỉ cả vùng đồng bằng Xiêng Khoảng chứ không phải chỉ địa điểm văn hóa này.

Trang 40

Cánh đồng chum

Ngày đăng: 07/07/2013, 01:26

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình này chỉ bị phá vỡ khi người  Mông Mông Cổ Cổ  xâm lược năm 1253, khi   xâm lược năm 1253, khi  đội quân do - Giam phan
Hình n ày chỉ bị phá vỡ khi người Mông Mông Cổ Cổ xâm lược năm 1253, khi xâm lược năm 1253, khi đội quân do (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w