Sau những năm 70 các cầu thủ đã chuyển sang lối đánh ép xuống cuối sân, tăng cường phòng thủ và phản công toàn diện, đến cuối thế kỷ thì lối đánh toàn diện là sử dụng các quả đột kích, b
Trang 1(Dành cho sinh viên hệ đại học)
Tác giả: GVC.TS TRẦN THỦY Năm 2017
Trang 22
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG MÔN CẦU LÔNG 5
1 1 NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA MÔN CẦU LÔNG 5
1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CẦU LÔNG Ở TRÊN THẾ GIỚI 5
1.3 SỰ PHÁT TRIỂN CẦU LÔNG Ở VIỆT NAM 7
1.4 LUẬT CẦU LÔNG 7
1.4.1 Sân bãi, dụng cụ thi đấu 7
1.4.2 Đổi sân 9
1.4.3 Giao cầu 9
1.4.4 Phạm lỗi giao cầu 10
1.4.5 Giao cầu lại 10
1.4.6 Phạm lỗi đánh cầu 11
1.4.7 Hệ thống tính điểm 12
1.4.8 Thi đấu đơn 12
1.4 9 Thi đấu đôi 13
CHƯƠNG 2 CÁCH CẦM VỢT, CẦM CẦU, TƯ THẾ CHUẨN BỊ VÀ KỸ THUẬT DI CHUYỂN 15
2.1 CÁCH CẦM VỢT, CẦM CẦU, TƯ THẾ CHUẨN BỊ 15
2.1.1 Cách cầm vợt 15
2.1.2 Cách cầm cầu 15
2.1.3 Các tư thế chuẩn bị cơ bản 15
2.2 KỸ THUẬT DI CHUYỂN 15
2.2.1 Di chuyển đơn bước 16
2.2.2 Di chuyển đa bước 17
2.2.3 Di chuyển nhảy bước 18
2.3 CÁC BÀI TẬP DI CHUYỂN 19
2.4 MỘT SỐ SAI LẦM VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỮA 22
2.4.1 Một số sai lầm thường mắc và nguyên nhân 22
2.4.2 Cách sửa chữa 22
2.5 PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN KỸ THUẬT DI CHUYỂN 23
CHƯƠNG 3 KỸ THUẬT ĐÁNH CẦU 24
3.1 KỸ THUẬT ĐÁNH CẦU THẤP TAY 24
3.1.1 Kỹ thuật đánh cầu thấp tay bên phải 24
3.1.2 Kỹ thuật đánh cầu thấp tay bên trái 25
3.1.3 Một số bài tập kỹ thuật đánh cầu thấp tay 25
3.1.4 Một số sai lầm thường mắc và cách sửa 27
3.1.5 Phương pháp tổ chức luyện tập 28
3.2 KỸ THUẬT ĐÁNH CẦU CAO TAY 29
3.2.1 Kỹ thuật đánh cầu phải cao tay 29
3.2.2 Các bài tập phối hợp kỹ thuật đánh cầu phải cao tay 29
3.2.3 Một số sai lầm thường mắc và cách sửa chữa 31
3.2.4 Phương pháp tổ chức tập luyện 31
CHƯƠNG 4 KỸ THUẬT GIAO CẦU THUẬN TAY 32
Trang 33
4.1 GIAO CẦU THUẬN TAY 32
4.2 MỘT SỐ BÀI TẬP KỸ THUẬT GIAO CẦU 32
4.3 MỘT SỐ SAI LẦM THƯỜNG MẮC VÀ CÁCH SỬA 34
4.3 1 Một số sai lầm thường mắc 34
4.3.2 Cách sửa 34
4.4 PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TẬP LUYỆN 35
Bài 5 TỔ CHỨC THI ĐẤU TẬP 35
5.1 THI ĐẤU ĐƠN 35
5.2 THI ĐẤU ĐỒNG ĐỘI 36
5.3 BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC VÀ KỸ THUẬT 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 44
LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Giáo dục thể chất 4 (Cầu lông) là môn Thể thao tự chọn 1 thuộc chương trình môn học giáo dục thể chất dành cho sinh viên hệ đại học, Giáo trình được biên soạn dựa trên chương trình chi tiết môn học của Trường đại học Quảng Bình Mục đích nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung về luyện tập thể thao nâng cao sức khỏe và kiến thức chuyên môn về các điều Luật
cơ bản để vận dụng vào trong quá trình tập luyện – thi đấu, kỹ thuật cơ bản của môn Cầu lông (cách cầm cầu; cầm vợt; các bước di chuyển;,kỹ thuật đánh cầu thấp tay, kỹ thuật đánh cầu cao tay, kỹ thuật phát cầu thuận tay, thi đấu đơn và đồng đội) và các bài tập bổ trợ, bài tập thể lực phục vụ trong việc giáo dục tố chất vận động
Cấu trúc của Giáo trình “Giáo dục thể chất 4” được chia thành 05
chương, bao gồm:
Chương 1: Lý thuyết chung môn cầu lông (bao gồm lịch sử phát triển và Luật thi
đấu môn Cầu lông)
Chương 2: Cách cầm cầu, cầm vợt, tư thế chuẩn bị và kỹ thuật di chuyển
Chương 3: Kỹ thuật đánh cầu (bao gồm đánh cầu thấp tay, đánh cầu cao tay) Chương 4: Kỹ thuật giao cầu thuận tay
Chương 5 Tổ chức thi đấu tập
Mục đích của giáo trình là trang bị và hướng dẫn phương pháp tập luyện - thi đấu môn Cầu lông, giúp sinh viên hiểu được quy luật của đường cầu bay trong không gian khi đánh cầu, vận dụng trong luyện tập nâng cao sức khỏe, hỗ trợ tốt cho học tập và sinh hoạt trong cuộc sống
Quá trình biên soạn cuốn giáo trình này đã tham khảo nhiều cuốn sách, giáo trình của các tác giả có uy tín trong nước và sự giúp đỡ của các giảng viên
Bộ môn Giáo dục thể chất trường Đại học Quảng Bình, nhưng chắc chắn rằng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của đồng nghiệp và bạn đọc
Chúng tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo trường Đại học Quảng Bình, lãnh đạo Khoa Giáo dục thể chất – Quốc phòng và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ hoàn thành cuốn Giáo trình này
TS TRẦN THỦY
Trang 55
CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG MÔN CẦU LÔNG
1 1 NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA MÔN CẦU LÔNG
Theo các tài liệu của Trung Quốc thì môn Cầu lông được bắt nguồn từ trò chơi Poona của ấn độ Trò chơi này được phổ biến rộng rãi ở vùng Poona và có tiền thân gần giống như môn Cầu lông ngày nay Khi chơi trò này người ta dùng bảng gỗ đánh vào một quả bóng được dệt bằng sợi nhung, ở trên có cắm lông vũ, hai người đánh qua lại cho nhau Tuy nhiên trên Thế giới vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc xuất xứ của môn Cầu lông, nhưng có rất nhiều ý kiến cho rằng nguồn gốc môn Cầu lông được bắt đầu từ trò chơi dân gian của một số dân tộc vùng Đông Nam á và Nam á vào khoảng cách đây khoảng hơn 2000
năm
Thực tế vào những năm 60 của Thế kỷ XIX, một số sĩ quan người Anh phục viên đã đem trò chơi này từ ấn độ về Anh Quốc và thay đổi dần cách chơi năm 1873 tại vùng Badminton của nước Anh, một sĩ quan quân đội đã phổ biến trò chơi này trong giới quí tộc của vùng Từ đó Badminton trở thành bằng tên gọi bằng Tiếng Anh của môn Cầu lông
1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CẦU LÔNG Ở TRÊN THẾ GIỚI
Năm 1874 ở nước Anh người ta đã biên soạn luật Cầu lông và đến năm
1877 luật thi đấu đầu tiên mới được hoàn thiện và ra mắt người chơi Năm 1893 Hội cầu lông nước Anh được thành lập Đây là một tổ chức xã hội đầu tiên của môn thể thao này trên Thế giới được thành lập để quản lý và tổ chức phong trào
Năm 1899 tổ chức Giải Vô địch Cầu lông toàn nước Anh lần thứ nhất và sau đó cứ mỗi năm giải được tổ chức một lần và duy trì cho đến ngày nay
Cuối thế kỷ XIX, môn Cầu lông đã được phổ biến rộng rãi ra ngoài nước đầu tiên là Châu Âu
Đầu thế kỷ XX, Cầu lông được lan truyền đến các nước châu á và châu
Mỹ châu Đại Dương và cuối cùng là đến châu Phi
Ngày 5/7/1934 Liên đoàn Cầu lông Thế giới được thành lập (gọi tắt IBF) tại Luân Đôn
Năm 1939, IBF đã thông qua luật thi đấu quốc tế, mà tất cả các nước hội viên đều phải tuân theo
Một số nước phát triển mạnh môn Cầu lông: Mĩ, Anh, Đan mạch, Canađa Malaixia, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan
Trang 66
Năm 1988 tại Olympic Seol (Hàn Quốc), cầu lông được đưa vào chương trình biểu diễn của Đại hội Đến năm 1992 tại Bacxêlôna, Cầu lông trở thành môn thi đấu chính thức của Đại hội thể thao Olympic
1.2.1 Sự phát triển của đánh đơn
Từ những năm 50 của thế kỷ trước các vận động viên nam thường thể hiện uốn nắn với tốc độ không cao, chủ yếu dựa vào điểm rơi của cầu Kỹ thuật di chuyển còn nhiều hạn chế, nhưng do sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Cầu lông châu á đã làm xuất hiện lối đánh mới Để đối phó với các vận động viên châu Âu, châu Mỹ thì các vận động viên châu á đã dựa vào lối đánh linh hoạt của mình để áp dụng lối đánh nhanh tấn công, với việc áp dụng này dần dần đã chiếm ưu thế so với các cầu thủ châu Âu và châu Mỹ bằng các đường cầu nhanh, mạnh bằng các lối đánh biến hoá như chém cầu treo gần lưới (điển hình là các vận động viên Inđônêsia đã 7 lần dành được cúp Thomas ở hai thập kỷ này) Sau những năm 70 các cầu thủ đã chuyển sang lối đánh ép xuống cuối sân, tăng cường phòng thủ và phản công toàn diện, đến cuối thế kỷ thì lối đánh toàn diện là sử dụng các quả đột kích, biến đổi tốc độ đánh cầu, sử dụng các động tác bật nhảy, điểm rơi chính xác luôn làm chủ được trên sân
sang tấn công, tấn công tốc độ nhanh đến nâng cao kỹ thuật toàn diện ép vạch cuối sân và cuối cùng là đột kích biến đổi tốc độ
1.2.2 Sự phát triển của đánh đôi
Vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX các vận động viên nam của các nước châu Âu và châu á có sự khác biệt, cầu thủ châu Âu thì đánh chuẩn vào điểm rơi, cầu thủ châu á thì sử dụng đường cầu bay ngang để đánh trả Đến những năm 70 các cầu thủ Inđônêsia đã sử dụng lối đánh toàn diện để chiếm ưu thế Đến những năm 80 các cầu thủ trung quốc lại có lối đánh luân phiên tấn công liên tục kết hợp với phòng thủ để đánh trả cầu về cuối sân đối phương
Đến cuối thế kỷ XX đánh đôi nam thường dùng là tốc độ nhanh, tấn công biến hoá ngay từ quả đầu (chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaixia) Còn cách đánh đôi nữ được duy trì nhiều năm chủ yếu là tấn công trên lưới để người
ở trước chờ cơ hội dứt điểm Đến những năm 80 mới sử dụng kỹ thuật đánh toàn diện (điển hình là inđônêsia, Trung Quốc, Hàn Quốc)
Trang 77
1.3 SỰ PHÁT TRIỂN CẦU LÔNG Ở VIỆT NAM
Cầu lông du nhập vào Việt Nam theo hai con đường: thực dân hoá và Việt kiều về nước
Năm 1960 mới xuất hiện một vài câu lạc bộ ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Năm 1961 Hà Nội tổ chức thi đấu giao hữu giữa các thành viên lần đầu tiên tại vườn Bách thảo Hà Nội, song số người dân tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn ở mức độ thấp
Phong trào Cầu lông phát triển mạnh ở một số tình thành: Hà Nội , TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, An Giang, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lai Châu
Năm 1980 Giải vô địch Cầu lông toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại
Hà Nội Từ đó đến nay cứ mỗi năm một lần giải được tổ chức luân phiên theo tại các địa phương trong toàn quốc
Ngoài ra UBTDTT còn tổ chức thêm cho nhiều đối tượng trên qui mô toàn quốc: Giải vô địch trẻ thiếu niên toàn quốc, giải người cao tuổi, giải HS-SV toàn quốc
Tháng 10/1990 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam được thành lập
Năm 1993 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn Cầu lông châu á "ABC"
Năm 1934 Liên đoàn Cầu lông Việt Nam trở thành thành viên chính thức của IBF
1.4 LUẬT CẦU LÔNG
1.4.1 Sân bãi, dụng cụ thi đấu
1.4.1.1 Sân hình chữ nhật được xác định bởi các đường biên rộng 40cm
Ghi chú: (l) Độ dài đường chéo sân đôi là 14m723
(2) Độ dài đường chéo sân đơn là 14m366
(3) Sân ở sơ đồ A dùng cho cả thi đấu đơn và đôi
(4) Các dấu thử cầu tuỳ ý như trình bày ở sơ đồ B
1.4.1.2 Các đường biên của sân phải dễ phân biệt và tốt hơn là màu trắng hoặc màu vàng
1.4.13 Tất cả các đường biên hình thành nên phần khu vực mà chúng xác định
Trang 88
1.4.1.4 Hai cột lưới cao 1m55 tính từ mặt sân Chúng phải đủ chắc chắn và đứng thẳng khi lưới được căng trên đó Hai cột lưới và các phụ kiện của chúng không được đặt vào trong sân
1.4.1.5 Hai cột lưới được đặt ngay trên đường biên đôi bất kể là trận thi đấu đơn hay đôi
1.4.1.6 Lưới phải được làm từ những sợi dây ni lông (dây gai) mềm màu đậm,
và có độ dày đều nhau với mắt lưới không nhỏ hơn 15mm và không lớn hơn 20mm
1.4.1.7 Lưới có chiều rộng 760mm và chiều dài ngang sân là 6,1 m
Hình 1 Sơ đồ sân đánh đơn và đánh đôi 1.4.1.8 Đỉnh lưới được cặp bằng nẹp trắng nằm phủ đôi lên dây lưới hoặc dây cáp chạy xuyên qua nẹp Nẹp lưới phải nằm phủ lên dây lưới hoặc dây cáp lưới
Trang 99
1.4.1.9 Dây lưới hoặc dây cáp được căng chắc chắn và ngang bằng với đỉnh hai cột lưới
1.4.1.10 Chiểu cao của lưới ở giữa sân tính từ đỉnh lưới đến mặt sân là l,524m,
và cao l,55m ở hai đầu lưới tại biên dọc sân đánh đôi
1.4.1.11 hông có khoảng trống nào giữa lưới và cột lưới tốt nhất là buộc toàn bộ
chiều rộng hai đầu lưới vào hai cột lưới
1.4.2 Đổi sân
Các VĐV sẽ đổi sân:
- Khi kết thúc ván đầu tiên;
- Khi kết thúc ván hai, nếu có thi đấu ván thứ ba; và
- Trong ván thứ ba, khi một bên ghi được 11 điểm trước
- Nếu việc đổi sân chưa được thực hiện như nêu thì các VĐV sẽ đổi sân ngay khi lỗi này được phát hiện và khi cầu không còn trong cuộc Tỷ số ván đấu hiện có vẫn giữ nguyên
1.4.3 Giao cầu
1.4.3.1 Trong một quả giao cầu đúng:
- Không có bên nào gây trì hoãn bất hợp lệ cho quả giao cầu một khi: cả bên giao cầu và bên nhận cầu đều sẵn sàng cho quả giao cầu Khi hoàn tất việc chuyển động của đầu vợt về phía sau của người giao cầu, bất cứ trì hoãn nào cho việc bắt đầu quả giao cầu (3.2) sẽ bị xem là gây trì hoãn bất hợp lệ;
- Người giao cầu và người nhận cầu đúng trong phạm vi ô giao cầu đối diện chéo nhau mà không chạm đường biên của các Ô giao cầu này
- Một phần của có hai bàn chân người giao cầu và người nhận cầu phải còn tiếp xúc với mặt sân ở một vị trí cố định từ khi bắt đầu quả giao cầu (3.2) cho đến khi quả cầu được đánh di;
- Vợt của người giao cầu phải đánh tiếp xúc đầu tiên vào đế cầu
- Toàn bộ quả cầu phải dưới thắt lưng của người giao cầu tại thời điểm nó được mặt vợt của người giao cầu đánh đi Thắt lưng được xác định là một đường tưởng tượng xung quanh cơ thể ngang với phần xương sườn dưới cùng của người giao cảm
- Tại thời điểm đánh quả cầu, thân vợt của người giao cầu phải luôn hướng xuống dưới
Trang 10- Khi có ý định thực hiện quả giao cầu, người giao cầu phải đánh trúng quả cầu
1.4.3.2 Khi các VĐV đã vào vị trí sẵn sàng, chuyển động đầu tiên của đầu vợt
về phía trước của người giao cầu là lúc bắt đầu quả giao cầu
1.4.3.3 Khi đã bắt đầu (3.2), quả giao cầu được thực hiện khi nó được mặt vợt người giao cầu đánh đi, hoặc khi có ý định thực hiện quả giao cầu, người giao cầu đánh không trúng quả cầu
1.4.3.4 Người giao cầu sẽ không giao cầu khi người nhận cầu chưa sẵn sàng Tuy nhiên, người nhận cầu được xem là đã sẵn sàng nếu có ý định đánh trả quả cầu
1.4.3.5 Trong đánh đôi, khi thực hiện quả giao cầu, các đồng đội có thể đứng ở
bất cứ vị trí nào bên trong phần sân của bên mình, miễn là không che mắt người giao cầu và người nhận cầu của đối phương
1.4.4 Phạm lỗi giao cầu
1.4.4.1 Lỗi ô giao cầu xảy ra khi một VĐV: Đã giao hoặc nhận cầu sai phiên; hay đã giao hoặc nhận cầu sai ô giao cầu
1.4.4.2 Nếu một lỗi ô giao cầu được phát hiện, lỗi đó phải được sửa và điểm số hiện có vẫn giữ nguyên
1.4.5 Giao cầu lại
1.4.5.1 "Giao cầu lại" do Trọng tài chính hô, hoặc do một VĐV hô (nếu không
có Trọng tài chính) để ngừng thi đấu
1.4.5.2 Sẽ là "Giao cầu lại" nếu:
- Người giao cầu giao trước khi người nhận cầu sẵn sàng;
- Trong khi giao cầu, cả người giao cầu và người nhận cầu cùng phạm lỗi;
- Sau khi quả giao cầu được đánh trả, quả cầu bị:
+ Mắc trên lưới và bị giữ lại trên lưới, hoặc + Sau khi qua lưới bị mắc lại trong lưới;
Trang 111.4.6.1 Nếu giao cầu không đúng luật;
1.4.6.2 Nếu khi giao cầu, quả cầu:
- Bị mắc trên lưới và bị giữ lại trên lưới;
- Sau khi qua lưới bị mắc lại trong lưới;
hoặc
- Được đánh bởi đồng đội người giao cầu
1.4.6.3 Nếu trong cuộc, quả cầu:
- Rơi ở ngoài các đường biên giới hạn của sân (có nghĩa là không ở trên hay không ở trong các đường biên giới hạn đó);
- Bay xuyên qua lưới hoặc dưới lưới;
- Không qua lưới;
- Chạm trần nhà hoặc vách;
- Chạm vào người hoặc quần áo của VĐV;
- Chạm vào bất kỳ người nào hay vật nào khác bên ngoài sân; (Khi cần thiết do cấu trúc của nơi thi đấu, thẩm quyền cầu lông địa phương có thể, dựa vào quyền phủ quyết của Liên đoàn thành viên của mình, áp dụng luật địa phương cho trường hợp cầu chạm chướng ngại vật)
- Bị mắc và dính trên vợt khi thực hiện một cú đánh;
- Được đánh hai lần liên tiếp bởi cùng một VĐV với hai cú đánh Tuy nhiên, bằng một cú đánh, quả cầu chạm vào đầu vợt và khu vực đan lưới của vợt thì không coi là một "Lỗi";
Trang 1212
- Được đánh liên tục bởi một VĐV và một VĐV đồng đội; hoặc
- Chạm vào vợt mà không bay vào phần sân của đối phương;
1.4.6.4 Nếu, khi quả cầu trong cuộc, một VĐV:
- Chạm vào lưới, các vật chống đỡ lưới bằng vợt thân mình hay quần áo;
- Xâm phạm sân đối phương bằng vợt hay thân mình, ngoại trừ trường hợp người đánh có thể theo quả cầu bằng vợt của mình trong quá trình một cú đánh sau điểm tiếp xúc đầu tiên với quả cầu ở bên lưới của phần sân người đánh;
- Xâm phạm sân của đối phương bên dưới lưới bằng vợt hay thân mình mà làm cho đối phương bị cản trở hay mất tập trung; hoặc
- Cản trở đối phương, nghĩa là ngăn không cho đối phương thực hiện một
cú đánh hợp lệ tại vị trí quả cầu bay qua gần lưới;
- Làm đối phương mất tập trung bằng bất cứ hành động nào như la hét hay bằng cử
1.4.6.5 Nếu một VĐV vi phạm những lỗi hiển nhiên, lặp lại, hoặc nhiều lần
1.4.7 Hệ thống tính điểm
1.4.7.1 Một trận đấu sẽ thi đấu theo thể thức ba ván thắng hai, trừ khi có sắp xếp cách khác (thi đấu một ván 21 điểm; hoặc thi đấu ba ván 15 điểm cho các nội
dung đôi + đơn nam và ba ván 11 điểm cho nội dung đơn nữ)
1.4.7.2 Bên nào ghi được 21 điểm trước sẽ thắng ván đó, ngoại trừ trường hợp ghi ở (1.4.7.4 và 1.4.7.5)
1.4.7.3 Bên thắng một pha cầu sẽ ghi một điểm vào điểm số của mình Một bên
sẽ thắng pha cầu nếu: bên đối phương phạm một "Lỗi" hoặc cầu ngoài cuộc vì đã chạm vào bên trong mặt sân của họ
1.4.7.4 Nếu tỷ số 20 đều, bên nào ghi trước 2 điểm cách biệt sẽ thắng ván đó 1.4.7.5 Nếu tỷ số 29 đều, bên nào ghi điểm thứ 30 trước sẽ thắng ván đó
1.4.7.6 Bên thắng ván sẽ giao cầu trước ở ván kế tiếp
1.4.8 Thi đấu đơn
1.4.8.1 Ô giao cầu và Ô nhận cầu:
- Các VĐV sẽ giao cầu và nhận cầu từ trong Ô giao cầu bên phải tương ứng của mình khi người giao cầu chưa ghi điểm hoặc ghi được điểm chẵn trong ván đó
Trang 131.4.8.3 Ghi điểm và giao cầu:
- Nếu người giao cầu thắng pha cầu, người giao cầu sẽ ghi cho mình một điểm Người giao cầu sẽ tiếp tục giao cầu từ Ô giao cầu còn lại
- Nếu người nhận cầu thắng pha cầu, người nhận cầu sẽ ghi cho mình một điểm Người nhận cầu lúc này trở thành người giao cầu mới
1.4 9 Thi đấu đôi
1.4.9.1 Ô giao cầu và Ô nhận cầu:
- Một VĐV bên giao cầu sẽ giao cầu từ ô giao cầu bên phải khi bên họ chưa ghi điểm hoặc ghi được điểm chẵn trong ván đó
- Một VĐV bên giao cầu sẽ giao cầu từ ô giao cầu bên trái khi bên họ ghi được điểm lẻ trong ván đó
- VĐV có quả giao cầu lần cuối trước đó của bên giao cầu sẽ giữ nguyên
vị trí đứng mà từ ô đó VĐV này đã thực hiện lần giao cầu cuối cho bên mình
Mô hình ngược lại sẽ được áp dụng cho đồng đội của người nhận cầu
- VĐV của bên nhận cầu đang đứng trong ô giao cầu chéo đối diện sẽ là người nhận
- VĐV sẽ không thay đổi vị trí đứng tương ứng của mình cho đến khi họ thắng một điểm mà bên của họ đang nắm quyền giao cầu
- Bất kỳ một giao cầu nào cùng được thực hiện từ Ô giao cầu tương ứng với số điểm mà bên giao cầu đó có
1.4.9.2 Thứ tự đánh cầu và vị trí trên sân: Sau khi quả giao cầu được đánh trả, cầu được đánh luân phiên bởi một trong hai VĐV của bên giao cầu và một trong hai VĐV của bên nhận cầu cho đến khi cầu không còn trong cuộc
1.4.9.3 Ghi điểm và giao cầu:
- Nếu bên giao cầu thắng pha cầu, họ sẽ ghi cho mình một điểm Người giao cầu tiếp tục thực hiện quả giao cầu từ Ô giao cầu tương ứng còn lại
Trang 14- Từ người giao cầu đầu tiên khi bắt đầu ván đấu ở ô giao cầu bên phải
- Đến đồng đội của người nhận cầu đầu tiên Lúc này quả giao cầu được thực hiện từ ô giao cầu bên trái,
- Sang đồng đội của người giao cầu đầu tiên,
- Đến người nhận cầu đầu tiên,
- Trở lại người giao cầu đầu tiên, và cứ tiếp tục như thế
1.4.9.5 Không VĐV nào được giao cầu sai phiên, nhận cầu sai phiên, hoặc nhận hai quả giao cầu liên tiếp trong cùng một ván đấu
1.4.9.6 Bất kỳ VĐV nào của bên thắng ván cũng có thể giao cầu đầu tiên ở ván tiếp theo, và bất kỳ VĐV nào của bên thua ván cũng có thể nhận cầu đầu tiên ở ván tiếp theo
Trang 1515
CHƯƠNG 2 CÁCH CẦM VỢT, CẦM CẦU, TƯ THẾ CHUẨN BỊ VÀ KỸ
THUẬT DI CHUYỂN 2.1 CÁCH CẦM VỢT, CẦM CẦU, TƯ THẾ CHUẨN BỊ
2.1.1 Cách cầm vợt
thuận xoè ra đặt sát mặt vợt, tiếp đó vuốt nhẹ từ mặt vợt xuống cán vợt Ngón cái
và ngón trỏ tạo thành góc nhọn nắm lấy hai má trái và phải của cán vợt Ba ngón còn lại nắm tự nhiên ở phần gần dưới của ngón trỏ, ngón trỏ cách 3 ngón này khoảng 1cm Mặt vợt và chiều dẹt của cẳng tay cùng nằm trên một mặt phẳng không gian, tay cầm vợt thoải mái để điều kiển linh hoạt, không gò bó làm cản trở đến động tác đánh cầu của cổ tay
2.1.2 Cách cầm cầu
Cầm cầu có 2 kiểu cơ bản đó là: Cầm vào phần cánh của cầu (dùng 2 ngón, ngón trỏ và ngón cái cầm nhẹ vào phần cánh cầu, các ngón khác nắm lại tự nhiên); Cầm vào phần núm cũng dùng ngón trỏ và ngón cái cầm nhẹ vào phần núm cầu, các ngón khác nắm lại tự nhiên
2.1.3 Các tư thế chuẩn bị cơ bản
Tư thế 1: Hai chân đứng song song, khoảng cách rộng bằng vai, góc độ khớp gối khoảng 1350
– 1500 , trọng tâm ở giữa hai chân, lưng cong tự nhiên, đầu ngữa
Tư thế 2: Chân ngược bên với tay cầm vợt phía trước, chân kia ở sau đứng trên mũi bàn chân, khoảng cách giữa hai chân rộng bằng vai, trọng tâm dồn vào chân trước, góc độ khớp gối khoảng 1600 – 1650 , lưng cong tự nhiên
2.2 KỸ THUẬT DI CHUYỂN
Di chuyển là cơ sở quan trọng để thực hiện tiếp các hoạt động của tay trong mỗi lần đánh cầu Với diện tích sân tương đối rộng lại chỉ có 1 đến 2 VĐV
ở trên sân, đồng thời đối phương lại luôn tìm các điểm xa người để đánh cầu vào
đó nên di chuyển gần như là điều kiện bắt buộc trước khi thực hiện kỹ thuật đánh cầu của tay Di chuyển tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các động tác tay chủ động và hiệu quả Nếu di chuyển không tốt sẽ luôn bị động và làm giảm
uy lực của kỹ thuật đánh cầu Căn cứ vào phương pháp di chuyển mà người ta chia kĩ thuật di chuyển của cầu lông ra làm các loại sau:
- Di chuyển đơn bước
Trang 162.2.1 Di chuyển đơn bước
Di chuyển đơn bước là sự di chuyển chỉ có sự thay đổi vị trí của 1 chân, còn chân kia vẫn giữ nguyên, kỹ thuật này được sử dụng nhiều trong các trường hợp cầu đối phương đánh sang ở gần người Kỹ thuật di chuyển thường áp dụng phối hợp với các kỹ thuật phòng thủ
2.2.1.1 Di chuyển tiến phải
Nếu đối phương đánh cầu sang ở bên phải, phía trước thì dùng chân trái làm trụ, chân phải bước chếch lên trước sang phải một bước dài, ngắn tùy theo điểm cầu rơi, góc bước khoảng 450, chân phải khuỵu gối, trọng tâm dồn nhiều vào chân phải, người hơi đỗ về ở phía trước ở tư thế đánh cầu phải
2.2.1.2 Di chuyển tiến trái
Nếu đối phương đánh cầu sang ở bên trái, phía trước thì dùng chân trái làm trụ, mũi chân xoay sang trái tạo với hướng đánh cầu 1 góc 80- 900
Chân phải bước chếch lên trước sang trái một bước dài, ngắn tùy theo điểm cầu rơi, trọng tâm dồn nhiều vào chân phải, người hơi đỗ về ở phía trước ở tư thế đánh cầu trái
2.2.1.3 Di chuyển lùi phải
Nếu cầu rơi sát người hoặc phía sau bên phải thì vẫn dùng mũi chân trái làm trụ, xoay gót chân phải sang trái Chân phải bước lùi về sau 1 bước rộng khoảng 50 - 60cm, góc bước khoảng 1350, toàn thân tạo thành tư thế đánh cầu phải
2.2.1.4 Di chuyển lùi đánh trái
Nếu cầu rơi sát người hoặc phía sau bên trái thì vẫn dùng mũi chân phải làm trụ, xoay gót chân phải sang trái Chân trái bước lùi về sau sang trái 1 bước rộng khoảng 50 - 80cm, góc bước khoảng 1350, toàn thân tạo thành tư thế đánh cầu trái
Trang 1717
2.2.2 Di chuyển đa bước
2.2.2.1 Di chuyển lên 2 góc gần lưới: Đây là kỹ thuật di chuyển để phối hợp với
các kỹ thuật đánh cầu nhằm đỡ lại những quả khi đối phương bỏ nhỏ sang hoặc
để tấn công trên lưới
TTCB: Đứng giữa sân
Thực hiện: Khi thấy đối phương bỏ nhỏ cầu vào góc phải hoặc trái thì di chuyển bằng cách bước chân trái về trước 1 bước theo hướng cầu rơi sau đó bước chân phải, trọng tâm dồn vào chân phải, dùng sức chân đạp mạnh theo hướng ngược với hướng vừa di chuyển, đưa chân phải trở về vị trí ban đầu tiếp đến là chân trái, thân người trở về TTCB
2.2.2.2 Di chuyển về 2 góc cuối sân: Đây là kĩ thuật dùng để phối hợp với các
kĩ thuật đánh trả những quả cầu đối phương đánh sang rơi vào 2 góc cuối sân bên mình
TTCB: Đứng ở vị trí giữa một bên sân cầu lông trong TTCB thứ nhất Thực hiện kĩ thuật: khi thấy đối phương đánh cầu sang góc phải cuối sân bên mình thì thực hiện kĩ thuật di chuyển bằng cách nhấc chân trái lùi một bước
về sau sang phải tiếp theo chân phải lùi tiếp một bước nữa Phối hợp với các kĩ thuật đánh cầu ở góc phải cuối sân Sau đó lại đạp mạnh chân phải theo hướng ngược với hướng vừa di chuyển để đưa chân về vị trí chuẩn bị ban đầu Chân trái cũng rút tiếp về vị trí và tư thế chuẩn bị ban đầu để đánh quả cầu sau
Khi đối phương đánh trả cầu sang góc trái cuối sân mình thì thực hiện di chuyển bằng cách lùi chân trái một bước về sau sang trái Tiếp theo chân phải vòng phía trước - sang trái- ra sau theo hướng cầu rơi, đồng thời với bước chân phải thân người quay gần 1800 theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ, lưng hướng lưới và phối hợp với các kĩ thuật đánh cầu trái sau đó đạp mạnh chân phải
để đưa chân phải trở về vị trí chuẩn bị, chân trái cũng rút tiếp theo sau để trở về
vị trí và TTCB ban đầu
2.2.2.3 Di chuyển ngang bước chéo: Khi ở TTCB cơ bản, đứng giữa sân, nếu di
chuyển sang phải thì đạp mạnh chân trái, đồng thời quay người 900 sang phải, đổ trọng tâm sang phải, bước chân trái về trước sau đó bước tiếp chân phải, gối khuỵu, trọng tâm thấp, cứ như thế bước luân phiên đến đường biên dọc Bước cuối cùng chân phải ở trước chạm mép đường biên, gối phải khuỵu nhiều, trọng tâm lúc này dồn vào chân phải, người ở tư thế đánh cầu phải Sau đó dùng lực đạp mạnh chân phải quay vòng thân người sang trái - ra sau 1800, đồng thời với
Trang 182.2.2.4 Di chuyển ngang bước đệm
Khi đứng ở vị trí giữa trên sân cầu lông, trong TTCB cơ bản thứ nhất Khi
di chuyển sang bên phải, bước chân trái sang ngang một bước nhỏ tới sát vị trí của chân phải Tiếp theo chân phải bước tiếp một bước rộng sang ngang, bên phải đồng thời thực hiện kĩ thuật đánh cầu phải Lúc này trọng tâm dồn vào chân phải, dùng lực của chân đạp mạnh chân phải theo hướng ngược với hướng di chuyển để thu chân phải về vị trí ban đầu Tiếp theo là chân trái bước một bước nhỏ về vị trí ban đầu Chân phải lại bước tiếp một bước rộng lên trước, sang trái
để phối hợp với kĩ thuật đánh cầu trái Lúc này trọng tâm lại dồn vào chân phải, dùng lực của chân phải đạp mạnh theo hướng ngược lại để thu chân về vị trí ban đầu và lại tiếp tục di chuyển sang phải
2.2.3 Di chuyển nhảy bước
2.2.3.2.Nhảy lên cao
Nhảy lên cao đánh cầu thường xuyên được áp dụng phối hợp trong các kĩ thuật tấn công Với kĩ thuật này cho phép ta khống chế chiều cao của đường cầu bay đến, tranh thủ đánh cầu sớm, nhanh và đập cầu có hiệu quả hơn