Vai trò của Nghệ thuật tạo hình trong cuộc sống CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VÀ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH 4.4.. Học phần nghệ thuật tạo hình sẽ giúp cho sinh viên h
Trang 11
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KIẾN THỨC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
1.1 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của Nghệ thuật tạo hình
1.2 Vai trò của Nghệ thuật tạo hình trong cuộc sống
CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VÀ KIẾN THỨC
CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
4.4 Thực hành nặn mẫu vật đơn giản
CHƯƠNG 5 TÌM HIỂU TÁC GIẢ, TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT
TẠO HÌNH, TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM
5.1 Tác giả, tác phẩm nghệ thuật tạo hình Việt Nam
5.1.1 Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892-1984)
5.1.2 Họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1854)
5.1.3 Họa sĩ Trần Văn Cẩn (1910-1994)
5.1.4 Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung (1912-1977)
5.1.5 Họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988)
5.1.6 Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm (1922-2016)
5.1.7 Họa sĩ Nguyễn Sáng (1923-1988)
5.2 Tranh dân gian Việt Nam
CHƯƠNG 6: THỰC HÀNH PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGHỆ
THUẬT TẠO HÌNH VÀ TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM
6.1 Phân tích các tác phẩm nghệ thuật tạo hình Việt Nam tiêu biểu
6.2 Phân tích tranh dân gian Việt Nam tiêu biểu
* Tài liệu tham khảo
Trang 22
LỜI NÓI ĐẦU
Nghệ thuật tạo hình là một trong những nội dung không thể thiếu trong quá trình tổ chức dạy trẻ hoạt động tạo hình Nếu dạy - học các môn học khác là khó thì dạy nghệ thuật càng khó hơn, cần phải mang tính nghệ thuật cao Song không phải là không dạy được, vì học nghệ thuật tạo hình đem lại niềm vui cho con người, làm cho con người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình, xung quanh mình, gần gũi và đáng yêu Nhưng tìm hiểu về nghệ thuật tạo hình như thế nào? Học phần nghệ thuật tạo hình sẽ giúp cho sinh viên hiểu thêm về các loại hình nghệ thuật tạo hình, tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm nghệ thuật tạo hình và tranh dân gian Việt Nam; nắm bắt cụ thể kiến thức và kỹ năng tạo hình như: vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, bố cục tranh và nặn Đặc biệt là được thể hiện kỹ năng thực hành tạo hình cơ bản
Bài giảng chia thành 6 chương:
Chương 1 Kiến thức chung về nghệ thuật tạo hình;
Chương 2 Các loại hình nghệ thuật và kiến thức cơ bản về NTTH;
Chương 3 Kỹ năng tạo hình;
Chương 4 Thực hành tạo hình;
Chương 5 Tìm hiểu tác giả, tác phẩm NTTH và tranh dân gian VN;
Chương 6 Phân tích tác phẩm NTTH và tranh dân gian VN tiêu biểu
Hiểu về Nghệ thuật tạo hình và các kiến thức cơ bản tạo hình ra sao? Học tốt hay bình thường? điều đó tùy thuộc vào ý thức học tập của mỗi người Mong muốn mọi người luôn tâm niệm rằng: mình đang được học môn nghệ thuật tạo hình, môn học mà các em rất thích, song ít có điều kiện để tìm hiểu, tiếp xúc Sự hào hứng học tạo hình của học sinh là nguồn động viên lớn, tạo điều kiện cho chúng ta dạy Nghệ thuật tạo hình tốt hơn nhằm đáp ứng lòng mong đợi của học sinh, của xã hội…
Đây là cuốn bài giảng được biên soạn lần đầu, trên cơ sở lựa chọn các nội dung tinh nhất từ các tài liệu tham khảo cộng với vốn hiểu biết, nghiên cứu và giảng dạy môn Nghệ thuật tạo hình của tác giả, mặc dù đã rất cố gắng, song do khả năng và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và sinh viên để bài giảng được hoàn thiện hơn!
Trang 3
3
CHƯƠNG I KIẾN THỨC CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
1.1 NGUỒN GỐC RA ĐỜI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
1.1.1 Khái niệm về Nghệ thuật tạo hình
Nghệ thuật tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc) là loại hình nghệ thuật mà người nghệ sỹ thể hiện tác phẩm của mình bằng ngôn ngữ tạo hình, thể loại, chất liệu để diễn tả lại hình tượng con người, sự vật, cảnh vật ở hiện thực khách quan bằng cách cảm, cách nhìn, cách hiểu và cách thể hiện thông qua tư duy thẩm mỹ của mình để hoàn thành tác phẩm nghệ thuật
1.1.2 Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của Nghệ thuật tạo hình
độ xã hội lạc hậu nguyên thuỷ thì loài người đã có những nhu cầu thẩm mỹ nhất định Có thể nói, nghệ thuật trang trí xuất hiện sớm nhất so với các lĩnh vực khác, bằng chứng cho thấy từ những đồ vật, công cụ lao động bằng đá thô sơ đã có những thể hiện trang trí phong phú theo ý thức thẩm mỹ của họ lúc bấy giờ
* Ở Việt Nam
Hình khắc ở trên hang Đồng Nội và hình khắc trên đất, đá ở Thái Nguyên
Ngày nay, nghệ thuật phát triển đạt đến trình độ văn minh hiện đại thì chúng
ta vẫn cảm nhận được các yếu tố mỹ thuật từ cách đây vài nghìn năm nhưng vẫn
Trang 44
không mấy thay đổi về nguyên tắc trang trí Di sản văn hoá đồ đồng của Việt Nam
đã để lại các loại trống đồng đặc sắc với sự thể hiện những sinh hoạt, tập tục văn hoá tinh thần của người Việt cổ
Tượng người thổi khèn trên cán muôi ở Việt Khê – Hải Phòng
Tượng người trên cán dao ở Đông Sơn – Thanh Hóa
Trồng đồng và hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ
Trang 55
Hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Ngọc Lũ
Thời đại đồng thau gồm có 4 giai đoạn:
* Phùng Nguyên: Khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II (TCN)
* Đồng Đậu: Khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II (TCN)
* Gò Mun: Khoảng nửa sau thiên niên kỷ II (TCN)
* Đông Sơn: Từ thế kỷ VIII (TCN) đến thế kỷ II (SCN)
* Trên Thế giới
Các di chỉ để lại như các hình vẽ trong các hang động tiêu biểu như hang ta-mi-ra ở Tây Ban Nha và hang Lát-xcô ở Pháp,… đã cho nhân loại thấy được cuộc sống xã hội của con người phương Tây thời xưa cho đến nay
An-Hình vẽ bò rừng trong hang An-ta-mi-ra ở Tây Ban Nha
Trang 66
Hình vẽ trong hang Lát-xcô ở Pháp
Nhiều chuẩn mực về cái đẹp cho đến ngày nay con người vẫn còn áp dụng phù hợp Chẳng hạn chuẩn mực về vẻ đẹp của cơ thể con người như Tượng thần
Vệ Nữ thành Milo (Venus de Milo) là một bức tượng Hy Lạp cổ đại và là một tác
phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại nổi tiếng nhất Tượng được điêu khắc trên chất liệu cẩm thạch, hơi lớn hơn người thật với chiều cao 2,03 m Đây là một tỷ lệ mà nhân loại cho là tỷ lệ „„Vàng‟‟ để dánh giá vẻ đẹp cơ thể người phụ nữ trong mọi thời đại
Tượng Thần Vệ Nữ thành Milo (Venus de Milo)
Trang 77
1.1.1.2 Sự phát triển của Mỹ thuật
* Mỹ thuật thời Cổ đại
- Ai Cập cổ đại:
Nghệ thuật Ai Cập luôn hướng tới sự vĩnh hằng, sự trường tồn Điều này thể hiện trong kiến trúc, điêu khắc và bích họa Các tác phẩm nghệ thuật của Ai Cập được làm bằng chất liệu bền vững và chúng tồn tại cho đến tận ngày nay Quan niệm, lòng tin và sự bất diệt của linh hồn đã chi phối mạnh mẽ tới nghệ thuật tạo hình và tạo ra những tác phẩm nghệ thuật bất hủ
Nghệ thuật Ai Cập mang nặng tính tôn giáo Thông qua các phần còn lại ta thấy các nghệ sỹ Ai Cập đã rất ưu tiên đề tài tôn giáo, tín ngưỡng Bị ảnh hưởng của thần thoại, tôn giáo họ đã sáng tác ra nhiều hình tượng thần bí, siêu thực như hình tượng các vị thần đầu thú mình người, tượng nhân sư đầu người mình sư tử Chính đặc điểm thứ nhất đã nảy sinh đặc điểm thứ hai Những ước lệ tạo hình cổ
đã chi phối nghệ thuật Ai Cập trong hai lĩnh vực điêu khắc (phù điêu) và bích họa Các hình tượng phù điêu và bích họa Ai Cập đều được thể hiện nhìn chính diện nghiêm trang, ngay ngắn hoặc sự kết hợp của đầu mặt nghiêng, thân thẳng chân nghiêng Hai bàn chân nhìn nghiêng và được nhìn từ phía ngón cái là đặc điểm đặc biệt trong các hình tượng phù điêu và bích họa Ai Cập Sở dĩ người Ai Cập tạo hình như vậy vì họ quan niệm về sự toàn vẹn của hình tượng Họ muốn trên một hình tượng nhưng có thể nhìn thấy nhân vật ở tất cả các hướng Mặt khác các hướng chọn để diễn tả phải là hướng mà các đặc điểm thể hiện rõ đặc trưng nhất Ví dụ con mắt nhìn nghiêng không cho thấy rõ “mắt” bằng con mắt nhìn thẳng; bàn chân nhìn từ phía ngón cái và nghiêng có đặc điểm hơn Như vậy người Ai Cập đã rất khéo chọn lựa và khéo sắp xếp Nhìn thoáng qua ta thấy hình
vẽ Ai Cập có dạng vặn ra nhiều chi tiết tưởng như không hợp lý phải nghiên cứu mới thấy sự sáng tạo và tài năng của người Ai Cập khi tạo hình Như vậy mới có cái nhìn đúng đắn về giá trị của nghệ thuật Ai Cập
Kim Tự Tháp – Là công trình kiến trúc tiêu biểu của Ai Cập
Trang 8Qua ba loại hình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và tranh của Hy Lạp cổ đại ta
có thể thấy rõ đặc điểm đặc trưng nhất của nghệ thuật Hy Lạp Đó là một nền nghệ thuật gắn liền với thần thoại Mà thần thoại Hy Lạp vừa giải thích, mô phỏng tự nhiên, xã hội vừa là những trang viết huyền thoại về lịch sử Hy Lạp Quan niệm thần nhân đồng hình đã dẫn đến đặc điểm cho nghệ thuật Hy Lạp cổ đại Tính chất tôn giáo, thần thoại bọc lộ ở nội dung, đề tài Nhưng qua các hình tượng nhân vật các tác giả lại muốn ca ngợi vẻ đẹp của con người, một vẻ đẹp hoàn thiện về cả ngoại hình và nội tâm Các nghệ sỹ Hy Lạp đã bỏ được công thức chi phối trong nghệ thuật tạo hình buổi ban đầu, những ước lệ tạo hình cơ sở để tiến tới một nền nghệ thuật hiện thực giàu tính nhân văn Các loại hình nghệ thuật tạo hình đều phát triển và có thành tựu cao, để lại nhân loại nhiều tác phẩm vô giá Đó là nền móng,
là cơ sở cho nghệ thuật tạo hình châu Âu sau này
Đền Pác-tê-nông – Là công trình kiến trúc tiêu biểu của Hy Lạp
- La Mã cổ đại:
Trong mỹ thuật La Mã hai loại hình nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc phát triển mạnh hơn hội hoạ Kiến trúc La Mã phát triển nhiều thể loại phong phú, đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần cho cuộc sống của người La Mã Kích thước của chúng thường là to lớn, đồ sộ Có sự ảnh hưởng của kiến trúc Hy Lạp qua các hình thức cột được sử dụng Kiến trúc La Mã đặc biệt thành công trong việc ghép các tảng đá hình cái nêm để tạo nên các vòm mái, vòng cung Vật liệu sử dụng có thể là gạch, hoặc kết hợp gạch và đá Kiến trúc thường đi song đôi với điêu khắc cả ở thể loại tượng tròn cũng như chạm nổi Đôi khi chúng còn gắn bó
Trang 99
với nhau thành một tổng thể, một tác phẩm hoàn chỉnh: cái này làm tôn ý nghĩa và
vẻ đẹp của cái kia lên rất nhiều
Qua sự phát triển của mỹ thuật La Mã, ta thấy được cái đẹp mang tính chất hoành tráng, cao cả của La Mã Khác hẳn với vẻ đẹp thanh lịch tao nhã, nhẹ nhàng của nghệ thuật Hy lạp Điêu khắc La Mã đặc biệt sáng tạo trong thể loại tượng chân dung và những phù điêu mang tính lịch sử Tính chất lịch sử và nhân văn được bọc lộ rõ ràng
Mỹ thuật Hy Lạp và La Mã xứng đáng là những nền mỹ thuật đi tiên phong tìm tòi, để diễn tả hiện thực thông qua các đề tài thần thoại, tôn giáo Đây chính
là cơ sở phát triển mỹ thuật trong các giai đoạn sau, kể từ thời Phục hưng
Đấu trường Cô-li-dê - Là công trình kiến trúc tiêu biểu của La Mã
* Mỹ thuật thời Phục hưng
- Mỹ thuật thời Trung cổ:
Kế thừa các phong cách nghệ thuật của các nền nghệ thuật lớn trước đó Thời Trung cổ còn một phong cách nghệ thuật tồn tại nữa Đó là nghệ thuật của đế quốc Bi-dăng-xơ là mảnh đất nằm giữa vịnh Sừng vàng (Golden Horn) và biển Marmara Từ năm 330 Hoàng đế Công-xang-ti-nôp chọn Bi-dăng-xơ làm thủ đô của đế quốc Đông La Mã Trong các công trình kiến trúc đáng chú ý là nhà thờ Xô-phi-a (360-l354) Trong 10 thế kỷ nhà thờ thánh Xô-phi-a được xây dựng lại 6 lần Công trình được xem là lớn nhất Thiên chúa giáo (đến thế kỷ XV) Công trình được xây dựng là sự kết hợp thể thức kiến trúc mặt bằng chữ nhật của La Mã và mặt bằng chữ thập Hy Lạp Đặc biệt là những nóc tròn các kiến trúc sư cho dát bằng các kim loại quý như vàng, để tăng thêm phần sáng cho "ngôi nhà của chúa",
Trang 1010
đã tạo nét riêng biệt và sáng tạo cho kiến trúc Bi-dăng-tanh Đồng thời cũng đánh dấu sự tiến bộ của kỹ thuật xây cất kiến trúc thời kỳ này so với thời La Mã cổ đại Cùng với sự phục hồi của kiến trúc, điêu khắc cũng khục hồi trở lại từ thế kỷ
XI Lúc đầu chỉ là những phù điêu trang trí với đề tài hoa lá Do quy định nghiêm ngặt của giáo hội nên hình tượng người không được đề cập tới trong nghệ thuật tạo hình Theo quan niệm tôn giáo, kẻ nào làm việc tạo ra con người giống Chúa trời
sẽ bị trị tội Sau này khi không bị cản trở bởi những tư tưởng cực đoan đó nghệ thuật tạo hình mới có điều kiện phát triển, trong nghệ thuật Gô-tích hình tượng điêu khắc được sử dụng rộng rải Tượng người diễn tả các vị thánh và đề tài phát xét cuối cùng chiếm phần lớn diện tích trang trí kiến trúc như ở cổng phía nam của nhà thờ Sác-tơ-rơ (Chatres) ở Pháp Cổng này còn được gọi là cổng "Ngày phán xét cuối cùng và lòng từ bi" (1215-1240)
Điêu khắc Gô-tích phát triển từ phù điêu hình tượng nổi từ thấp đến cao dần,
và cuối cùng là tượng tròn Tính khoa học trong hình tượng điêu khắc cũng ngày một nâng cao Tỷ lệ cân đối hơn, hoàn thiện hơn Trong nghệ thuật Bi-dăng-tanh hầu như không sử dụng hình tượng điêu khắc mà chủ yếu là diện trang trí bằng các hoạ tiết phong phú và lộng lẫy về hình, màu sắc Các môtíp như hoa hồng, hoa cẩm chướng, lá nho… được sử dụng nhiều Hoa văn động vật không được người Bi-dăng-tanh chú trọng
Nhà thờ Thánh Xô-phi-a – Là công trình kiến trúc tiêu biểu thời Trung cổ
Cùng với phong cách kiến trúc lại có những thể loại tranh phù hợp Với phong cách Rô-măng khi nghệ thuật mới được phục hồi trở lại sau một thời gian hạn chế tàn lụi, thể loại tranh được phát triển là trang khuôn khổ nhỏ, với chức năng minh hoạ cho sách kinh thánh, hay còn gọi là các bức tiểu hoạ Thể loại này có màu sắc đơn giản Ngôn ngữ đặc trưng là nét Bố cục rất đơn giản, súc tích và dễ hiểu đồng
Trang 11bí thiêng liêng trong nhà thờ Thời Gô-tích chủ yếu là tranh thờ, tranh thánh Đề tài chính là tranh vẽ các vị thánh, chúa, Đức mẹ, Chúa hài đồng Có thể tranh đơn, nhưng cũng có thể bày nhiều bức tranh đơn ghép lại thành bức tranh tượng bình thường (bức bình phong về tranh thánh) bày ngang trước bàn thờ chúa Yếu tố màu sắc cũng được chú trọng, các màu xanh, đỏ, vàng rất được yêu thích Có thể nhận định một cách chính xác rằng nghệ thuật thời trung cổ đã tạo ra một biển người phù hợp với lí tưởng tôn giáo, niềm tin tôn giáo, ít chất hiện thực nhưng giàu tính siêu hình thần bí và biểu hiện cảm xúc, tình cảm tôn giáo: "kiểu người mộ đạo kinh thánh"
- Mỹ thuật thời Phục hưng:
* Nghệ thuật kiến trúc
Thời Trung cổ, kiến trúc Bigăngtanh chiếm lĩnh hầu hết các thành thị lớn của
ý như Ra-ven-nơ, Vơ-ni-dơ, Phờ-lô-răng-xoa phần còn lại của bán đảo chịu ảnh hưởng của kiến trúc Rô măng, Gô tích Thời tiền Phục hưng, nhà kiến trúc thiên tài Brunenlếtky (1377-1446) đã cho ra đời kiến trúc Phục hưng bằng “nhà thờ Thánh Mẫu Mang và hoa”, mà đỉnh nóc nhà thờ là một khối tròn đa diện Những công trình xây dựng sau như đền Pít-ti, nhà thờ Tháng Lô-răng, đền Rít-các-đi với nhà kiến trúc lớn An-béc-ti (1391-1472) là thành tựu quan trọng của kiến trúc thời kỳ Phục hưng và đại Phục hưng Ý
* Nghệ thuật điêu khắc
Đại diện tiêu biểu cho điêu khắc thời tiền Phục hưng đó là Giacôpôđelakecxia (1374 - l438) tác giả mộ I.Ta-li-a ở nhà thờ Lút-cơ Tiếp theo ông là nhà điêu khắc nổi tiếng Ghi-béc-ti (1378- l456), người trúng tuyển cuộc thi làm cửa tây lễ đường Phơ-lô-răng-xơ ông đã bỏ ra 40 năm trời, từ khi mới 25 tuổi đến lúc 74 tuổi mới hoàn thành công trình này Người đời sau xem cánh cửa này là “cửa Thiên đàng” Người có thể so sánh với Ghi-bec-ti là Đô-na-ten-lô (1386-1466) với tác phẩm tuyệt vời, tượng nhà tiên tri Đavit, Nữ thánh May đơ len, Thánh Goóc-giơ
Điêu khắc giai đoạn đại Phục hưng bằng thiên tài Mi-ken-lăng-giơ (1475- 1564), ông vừa là nhà điêu khắc, vừa là hoạ sỹ, vừa là kiến trúc sư, thi sĩ Tác phẩm nổi tiếng của ông như: quần tượng Pi-ét-ta (Maria-khóc con), tượng tròn Đa-vít (cao 5,5m), tranh trên đền Xtin-nơ mãi mãi là niềm tự hào của nước Ý
Trang 1212
Mi-ken-lăng-giơ (1501-1504) - Đa-vít - Tượng đá cẩm thạch
* Nghệ thuật hội hoạ:
Các hoạ sỹ tiền Phục hưng còn hơn cả các nhà điêu khắc trên con đường phấn đấu nhiều mặt để đi đến cho tả thực hơn về người, cảnh vật, màu sắc, không khí Trong buổi đầu tiền Phục hưng hai hoạ sỹ nổi bật ở Phờ-lô-răng-xơ là Madayxiô và Pharaănggiơlicô
Hoạ sỹ Ma-dắc-xi-ô (1401-l428) với các tác phẩm: “Món nợ Thánh Pie”, “A đam và E va bị đuổi khỏi vườn địa đàng” v.v là bài học, là mục tiêu phấn đấu Hoạ sỹ Phơ-răng-giơ-lic-ô (1378-1455) với những tác phẩm đầy vẻ chân thật, hấp dẫn mạnh mẽ được mọi người ca ngợi hết lòng Cùng với hai tên tuổi trên, sau này xuất hiện Pau-lô U-xen-lô (1397-1475), Bô-ti-xen-li (1445-1510) với những tác phẩm nghiên cứu về cảnh, màu sắc, ánh sáng trong diễn đạt những đề tài kinh thánh
Trang 1313
Lê-ô-na đờ Vanh-xi(1495-1498) - Bữa tiệc cuối cùng - Tranh tường
Thời đại Phục hưng không có phát minh gì mới trong nghệ thuật tạo hình, cơ
sở khoa học của hình họa căn bản đã được xây dựng trong thời tiền Phục hưng song chưa có một thời nào của lịch sử nhân loại đã sinh ra những thiên tài mỹ thuật
vĩ đại như thời Phục hưng Ý
Ra-pha-en (1505) - Đức Mẹ đồng trinh và Chúa hài đồng – Sơn dầu
Trang 1414
Nói đến mỹ thuật thời đại Phục hưng phải kể đến Lê-ô-na đơ Vanh-xi lăng-giơ, Ra-pha-en Thực ra không phải chỉ bấy nhiêu mà còn nhiều hoạ sỹ không kém phần lớn lao, về mặt nào đó có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sau Đó là Ti-dia-nô-vê-sen-li (Tisiên), Tanh-tô-rê, Cô-re-giơ, Rô-být-ti Như đã nói trên, thời đại Phục hưng với trung tâm nghệ thuật là thủ đô Rô ma nhưng thực ra phải kể đến khi Giáo hoàng Gnynlơ đệ nhị cho thiết kế và xây dựng giáo đô Vaticăng thì các nghệ sỹ mới đổ về Rô ma ngày càng nhiều, tạo nên những tác phẩm bất hủ
Mi-ke Mỹ thuật Châu Âu:
* Trường phái Dã thú
Theo Từ điển thuật ngữ mỹ thuật: “Trường phái Dã thú là trường phái hội hoạ
có cách dùng màu nguyên chất, chói lọi và sự đơn giản về hình cũng như về luật xa gần Trường phái Dã thú mang tính tiên phong trong nền nghệ thuật châu Âu nửa đầu thế kỷ XX”
Ma-tít-xơ (1905) - Thiếu nữ và chiếc mũ - Sơn dầu 80,6 x 59,7cm
Các hoạ sỹ Dã thú cho rằng nghệ thuật là phải thể hiện những cảm xúc mạnh
mẽ trước tự nhiên Phương tiện để thể hiện cảm xúc đó là màu sắc Đề tài không quan trọng Nét và hình của hội hoạ Dã thú thường sử dụng bút pháp phóng đại, cường điệu trong những biến dạng của hình thể Tranh Dã thú rút ngắn chiều sâu không gian và giản lược các mô típ, làm cho tranh mang hiệu quả trang trí nhiều hơn mô tả thực Luật xa gần, sáng tối, không được các hoạ sỹ Dã thú chú trọng nên tranh của họ trông đơn giản, hiền lành, trong sáng giống tranh trẻ con Ma-tít-xơ
Trang 1515
cho rằng: Hiện thực cuộc sống đã quá phức tạp Hoạ sỹ phải làm thế nào để hiên thực ấy trong tranh của mình được đơn giản và dễ hiểu Có hai đối tượng nhìn sự vật và các hiện tượng đơn giản nhất Một là trẻ con và hai là người nguyên thuỷ
Họ chủ trương hãy nhìn bằng con mắt trẻ thơ Họ hướng về nghệ thuật nguyên thuỷ, đưa các yếu tố biểu hiện của nghệ thuật nguyên thuỷ vào đề tài hiện đại Tất
cả những điều đó lý giải vì sao tranh của các hoạ sỹ Dã thú lại được nhận xét là có màu sắc như “ảo ảnh”, như “điên dại”, đầy vẻ “huyền ảo” Đó là sự do sáng tác Tranh Dã thú có nét vẻ ngộ nghĩnh, ngây thơ như tranh vẽ thiếu nhi
Hội hoạ Dã thú thực sự là một sự đổi mới trong nghệ thuật tạo hình Nghệ thuật không phải chỉ mô tả hiệc thực mà nghệ thuật là sự biểu hiện cảm xúc của tác giả trước cuộc sống
* Trường phái Lập thể
Trường phái Lập thể (Cubisme) là một trường phái hội hoạ hiện đại trong đó các vật thể được thể hiện như được tạo nên bằng các hình hình học Nghệ thuật Lập thể ra đời ở Pa-ri (Pháp) Nối tiếp khuynh hướng Dã thú, năm 1907 Nó tồn tại đến năm 1914
Pi-cát-xô (1907) - Những cô gái A-vi-nhông - Sơn dầu 2,43 x 2,53m
Thành viên của nhóm Lập thể là các hoạ sỹ Pháp, đứng đầu là Pi-cát-xô (Picasso 1881-1973).Nếu Ma-tít-xơ và các hoạ sỹ Dã thú say sưa với cường độ và
Trang 1616
độ sâu huyền bí trong tranh Van-gốc và Gô-ganh thì có một số hoạ sỹ lại thích thú với sự tìm tòi, nghiên cứu về hình thể của Xê-dan Họ đi theo hướng mà Xê-dan đã chỉ ra: “Thiên nhiên tồn tại ở chiều sâu hơn là bề mặt Hãy quy tất cả thành khối trụ, khối cầu, khối chóp và đặt tất cả dưới phép thấu thị” (Xê-dan) Sự “phát minh” này của Xê-dan đã gợi ý để các hoạ sỹ đẩy cao hơn việc nghiên cứu về hình thể của các sự vật Các hoạ sỹ theo trường phái này tin rằng họ sẽ đưa lại cho người xem những hình thể mới cơ bản và bản chất của sự vật, thoát khỏi ngoại hình vốn
có và được hiện ra dưới con mắt nhìn
* Trường phái Trừu tượng
Nghệ thuật Trừu tượng là trào lưu hội hoạ có từ những năm 1910-1914 Đó là nghệ thuật không thể hiện đối tượng một cách hiện thực, như mắt mọi người nhìn thấy mà biểu thị những ý nghĩ, cảm xúc của người nghệ sỹ về một số mặt nào đó của đối tượng Trong nghệ thuật tạo hình, trừu tượng là sự phát huy yếu tố biểu đạt của đường nét, màu sắc, hình khối để thể hiện những ý tưởng tạo hình, hay những cảm xúc về màu sắc, hình
Kan-đin-xki (1925) Màu vàng, màu đỏ, màu xanh - Sơn dầu 127 x 200cm
Có rất nhiều kiểu trừu tượng như trừu tượng hình học, trừu tượng biểu hiện, trừu tượng sáng tạo Hội hoạ Trừu tượng như là sự kết hợp của Lập thể hay Dã thú: lập thể về hình và dã thú về màu sắc Nghệ thuật Trừu tượng cũng xuất hiện ở nhiều nước như Pháp, Đức, hà Lan và Nga Sau này nghệ thuật Trừu tượng trở
Trang 1717
thành một trường phái nghệ thuật lan tràn khắp các nước tư bản châu Âu, châu Á, châu Mỹ Thời kỳ phát triển mạnh nhất là khoảng giữa thế kỷ XX Nghệ thuật Trừu tượng có thể coi là hệ quả tất yếu của nghệ thuật Lập thể Khi Lập thể có chiều hướng xa sút một số hoạ sỹ Lập thể đã chuyển sang vẽ Trừu tượng Hai hoạ
sỹ có sự chuyển hướng đầu tiên là Rô-be Đờ-lô-nay (Robert Delaunay 1885-1941)
và Phrăng Kúp-ka (Frank Kupka 1871-1957)
Kan-đin-xki trở thành hoạ sỹ Trừu tượng và nhà lý luận Trừu tượng đầu tiên Trong các bức tranh sáng tác từ 1910 của Kan-đin-xki ta thấy ba yếu tố ngôn ngữ hội hoạ được ông sử dụng triệt để, đó là hình, màu sắc và bố cục
Ngày nay, nghệ thuật Trừu tượng được chấp nhận, nhưng ở bước đầu hình thành, không phải ai cũng hiểu tranh của Kan-đin-xki Bởi đó là một cái mới trong nghệ thuật tạo hình, cái mới đó không thể cảm nhận từ cái nhìn mà chỉ có thể nhận biết nó bằng lý trí, bằng những quan niệm thẩm mỹ mới thế kỷ XX
* Trường phái Siêu thực
Siêu thực là điều vượt quá hiện thực, mang lại sự lạ lùng, thậm chí là kỳ dị Nghệ thuật Siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ XX nó cố diễn tả tiềm thức bằng cách trình bày các vật thể và sự việc như là nhìn thấy trong giấc mơ
Từ năm 1924, 1925, li bắt đầu đi vào phong cách Siêu thực Tranh của
Đa-li có màu sắc tươi sáng Các hình tượng trong tranh được sắp xếp theo một lô-gích, một trật tự của riêng hoạ sỹ Trật tự ấy mang màu sắc triết lý, tư duy trừu tượng Tuy vậy có nhiều tác phẩm bọc lộ một cách sâu sắc các ý tưởng của hoạ sỹ và đơn giản về hình tượng giúp người xem có thể cảm nhậ được ý đồ chủ quan của nghệ
sỹ Tác phẩm Sự dai dẳng của ký ức vẽ năm 1931 là môt trong những tác phẩm
thành công của ông Trong bức tranh này, Đa-li đã diễn tả bầu trời xanh, biển, những dãy núi màu vàng sáng chạy đậm ra biển, mặt đất đậm Trên nền thực đó, hoạ sỹ “vắt” ở trên một cành cây khô, một chiếc bục và hình kỳ dị ba mặt đồng hồ như được làm bằng chất dẻo Ta có thể liên tưởng khái niệm ký ức, thời gian với
ba mặt đồng hồ trên Ngoài ra ta còn thấy trên bục có một vật kỳ lạ màu đỏ, có nhiều con kiến đang vây quanh Vật này trông giống như một chiếc đồng hồ quả quýt Nhưng nhũng con kiến đen, mọng được diễn tả cẩn thận, kỹ càng, gợi cảm giác gì thì người xem khó cảm nhận được Đó là thế giới Siêu thực của Đa-li, mà
có lẽ tác giả là người hiểu sâu sắc nhất Đôi khi Đa-li lại tìm thấy cảm hứng từ các tác phẩm của bậc thầy trước như từ tranh: “Tiếng chuông chiều” của hoạ sỹ Pháp:
Giăng Phrăng-xoa Mi-lê (Jean Francois Miller) Đa-li đã vẽ Tiếng chuông chiều
theo phong cách Siêu thực Với phong cách Siêu thực, tranh của ông lại mang đến cho chúng ta một cảm xúc thẩm mỹ khác
Trang 1818
Tác phẩm Đứa trẻ đang xem sự ra đời của con người mới (1943) của Đa-li đã cho ta thấy tầm triết lý cao siêu, trí tưởng tượng phong phú của hoạ sỹ Ta thấy một quả trứng khổng lồ đang nứt làm đôi Từ vết nứt đó chảy ra một giọt máu đỏ Một con người đang vùng đạp để được sinh ra Vỏ trứng mềm, dẻo gợi cho ta về Trái Đất với các lục địa diễn tả bằng màu vàng Góc bên trái là người mẹ và một đứa bé khoả thân, thể hiện rất kỹ, tỷ mỉ Toàn bộ bức tranh trong hoà sắc vàng, ấm áp Đa-li gọi tranh của mình là “những tấm ảnh trong mơ vẽ bằng tay” Ông muốn chứng minh rằng thế giới thực chứa đựng nhiều sự phi lý và nghệ thuật phải làm những cái đó Tuy vậy, có thể thấy rằng Đa-li đã tạo được cho tranh của mình một cách biểu hiện mới lạ Cho dù có những tác phẩm khó lý giải vì đó là những hình ảnh không có thực Nhưng thế mới là nghệ thuật: càng khó càng gây sự say mê, sự thu hút muốn tìm hiểu Nhà văn Pháp An-be Ca-muy (Albert Camus) đã viết về nghệ thuật Siêu thực như sau: “Thật là một cuộc nổi loạn thực sự, một sự bất phục tùng hoàn toàn chủ nghĩa Siêu thực muốn lên án tất cả và muốn mọi cái phải làm lại từ đầu” Cuộc “nổi loạn” đó đã tạo ra những giá trị nhất định và mở đường cho nhiều hoạ sỹ đi trên con đường đó và sáng tạo
Đa-li (1943) - Đứa trẻ đang xem sự ra đời của con người mới - Sơn dầu
Trang 1919
Đa-li, bằng tranh của mình đã muốn dẫn chúng ta từ thế giới hiện thực đến thế giới tâm linh mà ta chưa tiếp cận được Phong cách của ông được nhiều hoạ sỹ tiếp nhận và đi theo
- Mỹ thuật Châu Á:
* Mỹ thuật Trung Quốc
Trung Quốc là một trung tâm văn minh của thế giới cổ đại Về mặt mỹ thuật, Trung Quốc có nhiều thành tựu to lớn, nhất là lĩnh vực hội họa Tranh của họ mang tinh thần triết lý cao siêu, mang tâm trạng sâu sắc của người vẽ và có nhiều ý nghĩa tượng trưng Vì thế mà nó mang đậm tính dân tộc, tính Á Đông và có ảnh hưởng đến nhiều nước xung quanh như Triều Tiên, Nhật Bản… trong một số lĩnh vực nhất định Nền mỹ thuật đó phát triển liên tục hơn 4000 năm lịch sử, đóng góp vào kho tàng mỹ thuật thế giới một phong cách độc đáo, rực rỡ muôn màu và những tác phẩm vô giá Các nghệ sỹ hiện đại Trung Quốc đã tiếp thu tinh thần đó, kết hợp với phong cách phương Tây để tạo ra một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc mà vẫn mang theo tinh thần, hơi thở của cuộc sống hiện đại
Tử Cấm Thành – Công trình kiến trúc tiêu biểu của Trung Quốc
* Mỹ thuật Ấn Độ
Xã hội Ấn Độ chia thành nhiều giai cấp, nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn, đạo Phật ra đời không phân biệt giai cấp, tuyên truyền từ bi bác ái, nên được nhiều người ngưỡng mộ, tạo nên thời kỳ thịnh hành của Phật giáo từ thế kỷ 3
Trang 2020
đến thế kỷ thứ 7 Đạo Bà-la-môn cải biến thành Ấn Độ giáo, trở thành quan trọng nhất về mặt tín ngưỡng cũng như về mặt văn hoá chiếm 85% dân số
Ấn Độ giáo, căn bản dựa trên sự sùng bái ba vị thần chính: Baraman, VíchNu,
Si va và các thần hoá thân khác như: Ra Ma, Savarati, Látkơmi, Pácvati Nghệ thuật Ấn Độ giáo có những tác phẩm được liệt vào hạng tuyệt tác của Mỹ thuật thế giới như điêu khắc ở đền Enlora, êlêphăngta và Mavalipuram
Tượng Mahêxamuốcti, tượng nữ thần Damunra có thể sánh với tượng Thiên vương Mylasa và Vê-nuýt Hy Lạp Một trong những trung tâm quan trọng của nghệ thuật Ấn Độ giáo là Malipuram gần thành phố Mađôra ngày nay Những di tích mỹ thuật nổi tiếng này thuộc về thời vua Palava ở thế kỷ thứ VI Tác phẩm nổi tiếng “Sự xuống thế của sông Hằng” với cách diễn tả thế giới loài vật đầy sinh động và tình cảm
Kiến trúc Ấn Độ là một trong những nền kiến trúc lớn nhất của thế giới Do
ảnh hưởng của tôn giáo (3 tôn giáo) Vì vậy ở kiến trúc Ấn Độ cũng có ba thể loại:
- Kiến trúc Ấn Độ giáo (Kiến trúc Cung đình)
- Kiến trúc Phật giáo (Kiến trúc chùa Hang)
- Kiến trúc Hồi giáo (Kiến trúc ngoài trời)
Thành Tát-ma-han, công trình kiến trúc tiêu biểu của Ấn Độ
* Mỹ thuật Nhật Bản
Nhật Bản là một đất nước bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ cách biệt với các dân tộc văn minh trên các lục địa Á-Âu Vì vậy đến đầu thế kỷ thứ VI S.CN, người Nhật vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, về mỹ thuật không có gì đáng kể Giữa thể kỷ VI, vua Cao Ly gửi tặng bang chúa Damôtô, thủ lĩnh đầu tiên của Thiên
Trang 2121
hoàng Nhật một bức tượng và các quyển kinh Phật kèm theo những lời ca tụng về Thích ca Các vị tăng lữ từ Trung Quốc, Cao Ly qua Nhật truyền đạo, đồng thời cũng là những người thầy dạy văn hoá và mỹ thuật cho người Nhật
Những tác phẩm đầu tiên có giá trị nghệ thuật là những tranh, tượng mang chủ
đề Phật giáo Dần dần do sự phát triển giao lưu bằng đường thuỷ, nhiều người Nhật
đã vượt biển sang Trung Quốc học tập mỹ thuật (chủ yếu thời Đường, Tống) Tuy
nhiên, do sự hạn chế về giao lưu nên các nghệ sĩ Nhật Bản học hỏi, tìm tòi trong thiên nhiên và thực tiễn xã hội là chủ yếu Chính điều đó đã tạo cho mỹ thuật tinh thần dân tộc và ít ảnh hưởng của bên ngoài
Một số giai đoạn phát triển mỹ thuật Nhật Bản
Kiến trúc Nhật Bản mang theo hai đặc điểm: Thần đạo và Phật giáo
- Kiến trúc mang tính Thần đạo; kiến trúc Phật giáo
Nghệ thuật hội hoạ- đồ hoạ có các trường phái như: Ka-nô, Tô-sa, Kô-rin…
Chùa Tô-đai-di, công trình kiến trúc tiêu biểu của Nhật Bản
1.2 VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRONG CUỘC SỐNG 1.2.1 Nghệ thuật tạo hình là một trong những hình thái nghệ thuật đặc biệt của xã hội
Trang 2222
- Nghệ thuật thị giác (Mỹ thuật, Kiến trúc, Sân khấu, Điện ảnh, Múa…)
- Nghệ thuật thính giác (Âm nhạc…)
- Nghệ thuật ngôn ngữ (Văn, Thơ, Truyện, Bút ký…)
1.2.2 Mỹ thuật đối với vật chất và tinh thần
- Mỹ thuật có tầm quan trọng đối với giá trị vật chất, đó là tạo ra cái đẹp cho nhu cầu của cuộc sống con người
- Đối với đời sống tinh thần, nó có mục đích giáo dục thẩm mỹ và nhân cách con người
Trang 2323
CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VÀ KIẾN THỨC CƠ BẢN
VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH
2.1 NGHỆ THUẬT HỘI HỌA
2.1.1 Ngôn ngữ hội họa
Hội họa là một môn nghệ thuật sử dụng các yếu tố tạo hình: Đường nét, hình, khối, màu sắc, bố cục, nhịp điệu, để xây dựng hình tượng nghệ thuật, phản ánh
sự vật, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống và để biểu diễn không gian trên mặt phẳng
2.1.2 Thể loại hội họa
2.1.2.1 Tranh chân dung
Tô Ngọc Vân (1943) – Thiếu nữ bên hoa huệ - Sơn dầu
Trần Văn Cẩn (1943) – Em Thúy - Sơn dầu
Trang 2424
Lê-ô-na Đờ Vanh-xi – Nàng Mô-na Li-sa - Sơn dầu
2.1.2.2 Tranh phong cảnh
Bùi Xuân Phái (1984) – Phố hàng Mắm - Sơn dầu
Clốt-đờ Mô-nê – Ấn tượng Mặt Trời mọc - Sơn dầu
Trang 2525
2.1.2.3 Tranh tĩnh vật
Vũ Thái Hà – Tĩnh vật – Sơn dầu Trần Hay – Tĩnh vật – Sơn dầu
Xê-zan – Tĩnh vật – Sơn dầu
Van-gốc – Tĩnh vật – Sơn dầu
Trang 2626
2.1.2.4 Tranh sinh hoạt
Nguyễn Phan Chánh – Chơi ô ăn quan – Lụa
Trần Văn Cẩn (1957) – Mùa Đông sắp đến – Sơn mài
Lê-ô-na Đờ Vanh-xi – Bữa tiệc cuối cùng – Tranh tường
Trang 2727
2.1.2.5 Tranh lịch sử
* Tranh lịch sử chiến tranh
Nguyễn Sáng (1963) – Kết nạp Đảng ở ĐBP – Sơn mài
* Tranh sinh hoạt xã hội mang tính lịch sử xưa và nay
Trần Văn Cẩn (1958) – Tát nước đồng chiêm – Sơn mài
2.1.3 Chất liệu hội họa
2.1.3.1 Màu nước, màu bột
- Màu nước (tem-pe-ra): Được chế tạo từ màu bột loại mịn nhất, nghiền đều
với chất keo kết dính và hoàn chỉnh dưới dạng keo sền sệt, đựng trong ống thiếc mềm hoặc dưới dạng bánh khô (thỏi vuông hoặc tròn…) Màu nước có tính chất nhẹ, trong trẻo Khi vẽ, người ta lấy màu đặt lên bảng pha màu (nên dùng bảng pha màu không thấm nước bằng nhựa hoặc kính…) hòa với nước trong để vẽ
Màu nước vẽ trên giấy nên pha loãng vừa phải đủ để màu loang nhẹ, trong trẻo, không nên vẽ màu dày quá hoặc di đi di lại nhiều lần vì làm như vậy sẽ mất đi
độ trong của màu nước Giấy vẽ màu nước là loại giấy có mặt gồ ghề, có hạt để tụ màu và đọng nước Ở châu Á, màu nước còn được vẽ trên một số loại giấy cổ
Trang 2828
truyền, mỏng, thấm nước nhanh Ví dụ như giấy dó (Việt Nam) hoặc giấy xuyến chỉ (Trung Quốc) Khi vẽ màu nước người ta không dùng màu trắng để vẽ hoặc pha với các màu khác để tạo nên những mảng sáng vì màu trắng nhẹ, khi khô sẽ nổi lên mặt tranh làm cho tranh bị đục và “mốc” Những mảng sáng trong tranh màu nước thường được chừa nền giấy rồi phủ một lớp màu mỏng để tạo hoà sắc cho tranh Trước khi vẽ màu nước người ta thường làm cho giấy hơi ẩm bằng cách quét một lớp nước mỏng trên mặt giấy Như vậy khi vẽ màu dễ loang đều, không đóng bờ trên giấy, bạn có thể pha màu trực tiếp trên giấy vẽ hoặc pha màu ở ngoài rồi vẽ, mỗi cách đều có những ưu điểm riêng
Bút vẽ màu nước là loại bút làm bằng lông thỏ (giống như bút viết chữ nho), mềm, giữ nước nên không làm sờn mặt giấy Màu nước có vẻ đẹp nhẹ nhàng, trong trẻo, với những mảng màu loang tự nhiên tạo nên vẻ đẹp lung linh huyền ảo
Bô-ti-xen-li (1485) – Ngày sinh thần vệ nữ – Màu nước (tem-pa-ra)
- Màu bột: Là loại màu khô, ở dạng bột, pha với keo hoặc hồ để vẽ Màu bột thường dùng là bột hóa chất, khả năng thẩm thấu của màu với keo và nước không giống nhau bởi có màu nặng, màu nhẹ Trước khi dùng màu, bạn nên nghiền màu bằng bút lông to hay dao nghiền màu trên bảng pha màu Màu bột khi vẽ có hiệu quả riêng: trong trẻo, mềm mại, có thể vẽ dày hay vẽ mỏng theo ý người vẽ Khả năng diễn tả của màu bột không kém nhiều so với sơn dầu, tuy nhiên màu bột có nhược điểm là chóng khô nên khi đang vẽ thì màu có chỗ khô, chỗ ướt, gây khó khăn cho việc diễn tả tương quan đậm nhạt, vì màu bột khi ướt thắm và đậm hơn khi khô khá nhiều Keo pha màu bột phải vừa độ, vì nếu đặc quá thì màu sẽ đanh lại, làm mất sự trong trẻo, còn nếu loãng quá thì màu không bám vào giấy Màu bột
có thể hòa loãng và rửa sạch trong nước, khi vẽ màu bộtkhông nên vẽ quá dày vì
vẽ dày màu dễ bong tróc Màu bột là một trong những chất liệu dễ vẽ, giá thành không cao nên được sử dụng khá rộng rãi
Trang 29Sơn dầu rất bền vững và có thể vẽ nhều trên các loại vật liệu khác nhau: vải,
gỗ, kim loại, bìa hoặc giấy, Quá trình thể hiện và gia công chất liệu đơn giản, không gò bó, nét màu tự do phóng túng, có thể vẽ đậm hay nhạt, dày hay mỏng tùy theo ý thích Ở Việt Nam, năm 1925 sơn dầu mới được nhập vào và được các họa
sỹ tiếp thu một cách nhanh chóng và đạt nhiều thành công rực rỡ, đóng góp nhiều cho nền Mỹ thuật Việt Nam
Nguyễn Sáng (1972) – Thiếu nữ bên hoa sen – Sơn dầu
Trang 3030
Tô Ngọc Vân (1943) – Hai thiếu nữ và em bé – Sơn dầu
Pi-e Ô-quýt Rơ-noa (1900) – Người đàn bà tắm – Sơn dầu
Trang 3131
2.1.3.3 Sơn mài
Thuật ngữ sơn mài ra đời từ những năm 30 thế kỷ XX, được dùng trong Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (sơn ta) Sơn mài được chiết xuất và chế biến từ nhựa cây sơn Người Trung Quốc biết sử dụng cây sơn từ rất sớm (1384 Tr CN) Ông tổ nghề sơn nước ta là Trần Tướng Công (tức Trần Lãm người làng Bình Vọng, Thường Tín, Hà Đông)
Sơn mài có đặc điểm như: chất liệu sơn mài khá bề vững nên tranh giữ được lâu dài; giàu chất trang trí vì kỹ thuật phù hợp với trang trí, nhất là màu sắc; dùng bảng màu truyền thống nên phù hợp với thị hiếu người Việt Nam
Hạn chế: Chất liệu kỹ thuật phức tạp, thủ công, khả năng diễn đạt hiện thực kém (tả chất, tả khối), Tuy vậy, sơn mài là một trong nhứng chất liệu quý và hiếm
Nguyễn Tư Nghiêm (1990) – Gióng – Sơn mài
Nguyễn Văn Thạch – Đàn gà – Sơn mài
Trang 3232
Nguyễn Văn Thạch – Chiều về – Sơn mài
Đào Minh Trí – Cá và vũ trụ – Sơn mài
Đào Minh Trí – Sự sinh sôi – Sơn mài
Trang 33Đồ họa là một loại hình nghệ thuật mà đặc trưng ngôn ngữ của nó là dùng đường nét thể hiện Tác phẩm có thể nhân ra nhiều lần nhờ ván in và nhiều phương tiện kỹ thuật in ấn khác
Đặc trưng ngôn ngữ của đồ họa là các yếu tố biểu đạt như đường, nét, chấm, vạch khắc to, nhỏ, nông sâu, dày thưa, song song hay đan chéo, và các mảng màu để xây dựng hình tượng Màu sắc tranh đồ họa đơn giản, một màu hoặc nhiều màu nhưng rất hài hòa và cô đọng
2.2.2 Thể loại đồ họa
2.2.2.1 Đồ họa in ấn
* Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam (hai dòng tranh tiêu biểu)
- Tranh dân gian Đông Hồ
Gà đàn
Lợn ăn cây ráy
Trang 3434
Hái dừa Đánh ghen
Đám cưới chuột
Thầy đồ cóc
Trang 3535
- Tranh dân gian Hàng Trống
Cá chép trông Trăng Ngũ Hổ
Tố nữ
Trang 3636
* Tranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam
Trần Văn Cẩn – Gội đầu Nguyễn Đức Hòa – Bắt cua
Trần Khánh Chương – Ngũ quả
Trang 3737
Đường Ngọc Cảnh – Lá Bàng mùa Thu
Đỗ Hữu Huề - Ngư dân Quảng Bình
Trang 3838
2.2.2.2 Đồ họa giá vẽ
* Tranh cổ động
Trang 3939
* Tranh minh họa
2.2.3 Chất liệu đồ họa
- Chất liệu chủ yếu là mực in, màu nước, màu dầu, màu sáp,…
- Chất liệu đồ họa phụ thuộc vào kỹ thuật in như: khắc gỗ, khắc kẽm (khắc kim loại), in đá và in lưới Ngoài ra còn có chine-collé (kỹ thuật in trên chất liệu giấy mỏng), collography, in độc bản, khắc nguội, chấm và nét, khắc nạo, linocut (in trên ván lót sàn), aquatint (kỹ thuật rắc nhựa thông lên bản in) và in bằng sáp ong (như trên vải hoa của người Mông)
- Khối tương phản, đối lập như khối lồi, lõm, đặc, thủng, đóng và mở
Việc kết hợp các loại khối tương phản này tạo ra hiệu quả mới lạ và đầy biểu hiện đối với thị giác
Nếu ngôn ngữ của hội họa là đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục là biểu hiện không gian ảo trên mặt phẳng hai chiều thì ngôn ngữ của điêu khắc là mảng, khối là quan hệ tác phẩm với không gian đa chiều xung quanh
Cùng với mảng, khối và bố cục thì chất liệu cũng là tiếng nói riêng mạnh mẽ của nghệ thuật điêu khắc: Đá đồng, gỗ, xi măng (bê tông),
Trang 40từ các phía trước, sau, phải, trái, trên và dưới; mà mỗi phía đều như nó hiện có
Michelangelo – Thương khó – Đá cẩm thạch Antonio – Hercules và Antee
Mạnh Đình – Chân dung Tào Mạt Lưu Danh Thanh – Chân dung
Tượng tròn có nhiều loại, có loại đặt trong nhà, cũng có loại đặt ngoài trời Tượng đặt ở trong phòng có các kích cỡ nhỏ hoặc nhỡ để hợp với không gian của phòng, chất liệu có thể là thạch cao, đá, gỗ, đất nung Nhưng nếu đặt ở ngoài không gian rộng thì tượng phải đồ sộ, chất liệu thường là: đá, đồng, xi măng