Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Là một kiểu tổ chức kinh tế, kinh tế thị trường vừa là vấn đề của lực lượng sản xuất, vừa là vấn đề của quan hệ sản xuất. Phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nền sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa để trao đổi. Cũng phải trong những quan hệ xã hội như thế nào của sản xuất mới nảy sinh cái tất yếu kinh tế: người sản xuất hàng hóa phải mang sản phẩm dư thừa ra thị trường; kẻ mua và người bán trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường.
Trang 1BẢN CHẤT CỦA LÝ LUẬN KINH TẾ
1.1 Các Khái niệm Cơ bản
Nhiều luật sư nghĩ rằng kinh tế học là nghiên cứu về lạm phát, thất nghiệp, các chu kỳ kinh tế, và những hiện tượng kinh tế vĩ mô bí ẩn khác, không liên quan đến những mối quan tâm thường nhật của hệ thống pháp lý Thực ra lĩnh vực của kinh tế học rộng hơn nhiều Như được nhận thức trong cuốn sách này, kinh tế học là khoa học về sự chọn lựa hợp lý trong một thế giới – thế giới của chúng ta – mà trong đó các nguồn lực là hạn chế so với các ước muốn của con người Với định nghĩa như thế, nhiệm vụ của kinh tế học là tìm hiểu những ý nghĩa của việc giả định rằng con người là một người tối
đa hóa hợp lý mục đích trong cuộc đời, đó là những sự thỏa mãn của anh ta – mà chúng
ta sẽ gọi là “tư lợi” của anh ta Chúng ta không được lẫn lộn tối đa hóa hợp lý với sự tính toán có ý thức Kinh tế học không phải là một lý thuyết về ý thức Hành vi (cách ứng xử) hợp lý khi nó phù hợp với mô hình về sự chọn lựa hợp lý, bất kể trạng thái tinh thần của người chọn lựa Và chúng ta không được lẫn lộn tư lợi với sự ích kỷ; hạnh phúc (hay sự khốn khổ cũng vậy) của người khác có thể là một phần trong sự thỏa mãn của một người
Khái niệm con người là một người tối đa hóa hợp lý tư lợi của mình có ý nghĩa là con người đáp ứng trước các động cơ khuyến khích – đó là nếu điều kiện xung quanh của một người thay đổi theo cách thức sao cho anh ta có thể gia tăng những sự thỏa mãn của mình qua việc thay đổi hành vi, thì anh ta sẽ làm thế Từ định đề này dẫn đến ba nguyên lý cơ bản của kinh tế học:
1 Thứ nhất là quan hệ nghịch biến giữa giá được tính và lượng cầu (Luật về Cầu) Nếu giá của thịt bò rán tăng 10 xu một cân Anh, và nếu các giá khác vẫn không đổi, thì miếng thịt bò rán bây giờ sẽ có giá cao hơn đối với người tiêu dùng, một cách tương đối, so với giá của nó trước đây Là người ứng xử hợp lý và vì tư lợi, anh ta sẽ phản ứng bằng cách điều tra khả năng của các hàng thay thế mà trước đây anh ta ít thích hơn khi thịt bò rán còn ở giá cũ, nhưng bây giờ thì hấp dẫn hơn bởi vì chúng rẻ hơn so với thịt bò rán Nhiều người tiêu dùng sẽ tiếp tục mua thịt bò rán nhiều như trước; vì đối với họ, các hàng khác là hàng thay thế kém cho dù có giá tương đối thấp hơn phần nào Nhưng một số người mua sẽ giảm lượng thịt bò rán họ mua và thay thế bằng các thứ thịt khác (hay các thực phẩm khác, hay sản phẩm khác hoàn toàn), với kết quả là tổng lượng cầu thịt bò rán của người mua, và như thế là số lượng sản xuất ra, sẽ sụt giảm Hình 1.1 cho thấy điều đó Trong Hình 1.1, trục tung biểu thị số đô la Mỹ và trục
hoành biểu thị số đơn vị sản lượng Gia tăng giá từ p1 lên p2 dẫn đến sụt giảm lượng
cầu từ q1 xuống q2 Tương tự, chúng ta có thể tưởng tượng lượng cung giảm từ q1 xuống
q2 và nhận thấy rằng tác động sẽ là làm tăng giá của hàng hóa đang xét từ p1 lên p2 Bạn có thể thấy vì sao quan hệ nhân quả đi theo cả hai chiều hay không?
Trang 2Luật về Cầu không chỉ vận hành đối với hàng hóa có giá rõ ràng Các giáo viên chưa được nhiều người ưa chuộng đôi khi cố gắng làm tăng số học sinh nhập học trong lớp mình bằng cách nâng điểm trung bình của học sinh trong lớp của mình Họ làm thế bởi vì khi các yếu tố khác như nhau thì người cho điểm khó có số học sinh nhập học trong lớp ít hơn người cho điểm dễ Một kẻ phạm tội bị kết án đã thụ án xong được nói là đã “trả nợ cho xã hội”, và một nhà kinh tế học sẽ nhận thấy phép ẩn dụ này thích hợp Sự trừng phạt là, ít nhất cũng trên quan điểm của kẻ phạm tội (tại sao không phải trên quan điểm của xã hội, trừ khi sự trừng phạt là dưới hình thức phạt tiền?), cái giá mà xã hội tính cho hành động phạm tội Điều này dẫn nhà kinh tế học đến chỗ tiên đoán rằng gia tăng mức độ nghiêm khắc của việc trừng phạt hoặc gia tăng khả năng xảy ra sự áp đặt việc trừng phạt sẽ làm tăng giá của tội phạm và vì thế làm giảm tỷ lệ tội phạm Kẻ phạm tội sẽ được khuyến khích thay thế hành động phạm tội bằng hành động khác Các nhà kinh tế học gọi các giá không liên hệ đến tiền là “các giá mờ”
2 Những người tiêu dùng trong thí dụ về thịt bò rán của chúng ta – và kẻ phạm tội – được giả định là cố gắng tối đa hóa độ thỏa dụng (hạnh phúc, vui sướng, thỏa mãn) Điều như thế cũng đựơc cho là đúng đối với các nhà sản xuất thịt bò, mặc dù trong trường hợp những người bán, ta thường nói đến tối đa hóa lợi nhuận chứ không phải tối
đa hóa độ thỏa dụng Những ngưới bán tìm cách tối đa hóa chênh lệch giữa chi phí của họ và doanh thu bán hàng của họ, nhưng lúc này chúng ta chỉ quan tâm đến giá thấp nhất mà một người bán hợp lý và vì tư lợi sẽ tính Giá thấp nhất đó là giá mà các nguồn lực, được sử dụng hết trong việc làm ra (và bán) sản phẩm của người bán, có thể có được trong mục đích sử dụng kế cái tốt nhất của nó – giá thay thế (alternative
Lượng Hình 1.1
q2 q1
Trang 3price) Khi nói đến chi phí của một hàng hóa là nhà kinh tế học muốn nói đến giá thay thế này, và điều này gợi ý tại sao một người bán hợp lý lại không bán với giá thấp hơn chi phí Thí dụ, chi phí của việc làm ra một máy xén cỏ là giá nhà sản xuất phải trả đối với vốn, lao động, vật liệu, và các nguồn lực khác được sử dụng hết trong việc làm
ra chiếc máy đó Giá đó phải cao hơn giá mà các nguồn lực lẽ ra có thể được bán cho người trả giá kế giá cao nhất (cao thứ hai), bởi vì nếu như nhà sản xuất không sẵn lòng trả cao hơn giá đó thì ông ta đã không phải là người trả giá cao nhất và đã không nhận được các nguồn lực nói trên
Một hệ luận của khái niệm về chi phí như là giá thay thế là chi phí chỉ phát sinh khi có người nào đó bị khước từ sử dụng một nguồn lực Vì tôi có thể thở bao nhiêu không khí tôi muốn mà không tước đi của bất cứ ai một lượng không khí nào anh ta muốn, nên không ai trả tiền cho tôi để tôi nhường bớt không khí của tôi cho anh ta; vì thế cho nên không khí không tốn chi phí.1 Đối với nhà kinh tế học, chi phí là “chi phí
cơ hội” – đó là lợi ích bị bỏ qua do việc sử dụng nguồn lực theo cách không để cho một người nào khác sử dụng nó Sau đây là hai thí dụ nữa về chi phí cơ hội: (1) Chi phí chính của giáo dục đại học đối với một sinh viên là thu nhập bị bỏ qua mà sinh viên này lẽ ra đã nhận được nếu anh ta đi làm việc thay vì đi học; chi phí này vượt trội học phí (2) Giả sử các chi phí lao động, vốn, và các vật liệu khác của một thùng dầu mỏ tổng cộng chỉ có 2 đô la Mỹ ($), nhưng bởi vì dầu mỏ chi phí thấp đang bị làm cạn kiệt dần một cách nhanh chóng, một thùng dầu được dự kiến sẽ tốn chi phí 20$ để sản xuất mười năm sau Nhà sản xuất nào giữ lại được dầu của mình trong thời gian lâu như thế sẽ có thể bán với giá 20$ một thùng lúc đó 20$ này là chi phí cơ hội của việc bán dầu bây giờ – mặc dù không phải là chi phí cơ hội ròng, bởi vì nếu nhà sản xuất chờ để bán dầu của mình sau, ông ta sẽ mất số tiền lãi lẽ ra ông ta có thể kiếm được bằng cách bán dầu bây giờ và đem đầu tư số tiền thu được Tuy nhiên, giả sử giá hiện tại của dầu chỉ là 4$ một thùng, vì thế nếu nhà sản xuất bán dầu bây giờ, ông ta sẽ kiếm được chỉ có 2$ lợi nhuận Nếu ông ta đầu tư 2$ này, thì không có khả năng tăng lên đến 20$ (trừ đi chi phí sản xuất lúc đó) sau mười năm Vì thế, ông ta khấm khá hơn nếu để dầu nằm nguyên trong lòng đất Lưu ý rằng, người ta kỳ vọng dầu mỏ càng khan hiếm trong tương lai, thì giá trong tương lai sẽ càng cao, và vì thế càng có khả năng dầu mỏ sẽ được để lại trong lòng đất – để giảm nhẹ sự khan hiếm trong tương lai
Các lực cạnh tranh có khuynh hướng làm cho chi phí cơ hội trở thành giá tối đa cũng như tối thiểu Một giá cao hơn chi phí cơ hội là thỏi nam châm hút các nguồn lực vào hoạt động sản xuất hàng hóa đang được đề cập, cho đến khi sự gia tăng sản lượng đẩy giá, theo Luật về Cầu, xuống đến mức chi phí (tai sao cạnh tranh sẽ không đẩy giá xuống thấp hơn chi phí cơ hội?) Quá trình này được minh họa trong Hình 1.2 Trong
hình này, D là đường biểu diễn cầu đối với hàng hóa được đề cập và S biểu diễn chi phí cơ hội của việc cung cấp một đơn vị sản lượng ở các mức sản lượng khác nhau S
1 Điều đó không có nghĩa là không khí sạch là không tốn chi phí
Trang 4còn có tên gọi khác là đường (cong) chi phí biên của ngành Chi phí biên là thay đổi trong tổng chi phí do thay đổi một đơn vị sản lượng tạo ra; nói cách khác, đó là chi phí sẽ tránh được bằng cách sản xuất ít đi một đơn vị Định nghĩa này giúp bạn thấy được
tại sao giao điểm của D và S biểu hiện giá cân bằng và sản lượng cân bằng trong điều
kiện cạnh tranh “Cân bằng” có nghĩa là điểm ổn định, đó là, điểm mà ở đó trừ khi các điều kiện về cầu hay cung thay đổi, không có động cơ khuyến khích những người bán thay đổi giá hay sản lượng Tại sao điểm nào nằm về phía trái hay về phía phải của giao điểm này cũng biểu hiện một mức giá – sản lượng mất cân bằng, không ổn định?
Ngay cả trong tình trạng cân bằng cạnh tranh dài hạn, không có gì bảo đảm rằng tất cả việc bán hàng đều xảy ra ở các giá bằng với các chi phí cơ hội của hàng hóa Điều này ngầm ẩn trong độ dốc lên của đường cung trong Hình 1.2 Thực tế chi phí sản xuất hàng được đề cập tăng theo số lượng sản xuất ra hàm ý rằng việc sản xuất hàng này đòi hỏi một nguồn lực nào đó vốn rất khan hiếm so với cầu, như là đất màu mỡ hay nằm ở địa điểm tốt Thí dụ, giả sử rằng đất trồng bắp tốt nhất có thể sản xuất bắp với chi phí là 1$ một giạ (bushel), chi phí này bao gồm cả các chi phí trực tiếp trong việc sản xuất bắp (lao động, phân bón hóa học, v.v) lẫn giá trị của đất trong mục đích sử dụng kế cái tốt nhất của nó, và giả sử rằng giá thị trường của bắp được sản xuất trên đất như thế sẽ là 10$ một giạ nếu không có lượng bắp nào khác được sản xuất Rõ ràng là có các động cơ khuyến khích mở rộng sản xuất, và vì không thể mở rộng đất tốt nói trên, nên đất xấu hơn sẽ được chuyển vào việc sản xuất bắp – đó là đất đòi hỏi các nhập lượng lao động, phân bón hóa học, và v.v nhiều hơn để sản xuất cùng một lượng bắp – và quá trình tái phân bổ này sẽ tiếp tục cho đến khi giá và chi phí biên trở nên bằng nhau, như trong Hình 1.2 Tại điểm này, giá thị trường sẽ bằng chi phí của nhà
Lượng Hình 1.2
Trang 5sản xuất cận biên Giả sử chi phí là 2,50$ Tất cả nông dân trồng bắp sẽ bán bắp với giá 2,5$ một giạ, nhưng những nông dân sản xuất trên đất tốt nhất sẽ chỉ chịu chi phí cơ hội (xã hội) 1$
Chênh lệch giữa tổng doanh thu của ngành được thể hiện trong Hình 1.2 (đó là,
p x q) và tổng chi phí cơ hội của sản xuất (diện tích dưới đường S về phía trái của q
được gọi là đặc lợi kinh tế (tiếng Anh là economic rent (tiền thuê kinh tế), không được lẫn lộn chữ rent ở đây với chữ rental (số tiền thuê)) Đặc lợi (rent) đối với các mục đích của chúng ta là chênh lệch (dương) giữa tổng doanh thu và tổng chi phí cơ hội Ai nhận được các đặc lợi (rents) trong Hình 1.2? Không phải là các nhà sản xuất bắp, mà là các chủ sở hữu của đất tốt nói trên Sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất sẽ xóa bỏ các đặc lợi của nhà sản xuất, tất cả đặc lợi còn lại sẽ được thu nhận bởi các chủ sở hữu của nguồn lực tạo ra các đặc lợi này Nếu các chủ sở hữu đất, hay những người khác, có thể gia tăng lượng đất lý tưởng một cách không tốn chi phí, thì cạnh tranh giữa họ sẽ xóa bỏ sự khan hiếm đất tốt vốn tạo ra các đặc lợi, và như thế xóa bỏ chính các đặc lợi đó Như vậy, trong điều kiện cạnh tranh, những chủ sở hữu kiếm được các đặc lợi là những chủ sở hữu của các nguồn lực không thể được mở rộng nhanh chóng và với chi phí thấp để đáp ứng cầu gia tăng đối với hàng hóa mà các nguồn lực này được sử dụng để sản xuất ra
Thu nhập rất cao mà một ít ca sĩ, vận động viên và luật sư kiếm được có chứa đựng các đặc lợi kinh tế do sự khan hiếm cố hữu của các nguồn lực họ kiểm soát – một giọng ca hay, kỹ năng và sự quyết tâm của vận động viên, các kỹ năng phân tích và pháp lý của vị luật sư thành công Thu nhập của họ có thể cao hơn nhiều so với thu nhập tiềm năng cao nhất của họ trong một công việc thay thế khác cho dù họ bán các dịch vụ của họ trên một thị trường cạnh tranh hoàn toàn Một loại đặc lợi kinh tế khác được nhà độc quyền thu nhận, nhà độc quyền tạo ra sự khan hiếm giả tạo về sản phẩm của mình
Trở lại khái niệm về tình trạng cân bằng, hãy tưởng tượng rằng chính phủ đã ấn định một trần giá (giá trần) lên thứ hàng hóa được thể hiện trong Hình 1.2, và mức trần này thấp hơn giá cân bằng (nếu không thì sẽ không hiệu quả), như thế đẩy đường ngắt
quãng p xuống Kết quả là, bây giờ p cắt đường cung về phía trái của đường cầu - có
nghĩa là cung sẽ không đủ đáp ứng cầu Lý do là giá thấp hơn làm giảm động cơ khuyến khích làm ra thứ hàng hóa này của các nhà sản xuất và đồng thời làm tăng mong muốn mua nó của người tiêu dùng Hậu quả là tình trạng thiếu hụt Làm thế nào phục hồi tình trạng cân bằng? Bằng cách dùng phương pháp phi giá cả là phân bổ cung cho cầu Thí dụ, những người tiêu dùng có thể được yêu cầu xếp hàng để mua sản phẩm này; chi phí của thời gian của họ sẽ xác định độ dài của hàng người nối đuôi nhau Những hàng người nối đuôi nhau thật phổ biến trong các thị trường mà giá được điều tiết, và chúng ta sẽ thảo luận các thí dụ trong sách này Việc tháo bỏ qui định
Trang 6điều tiết giá luôn luôn làm giảm, và thường xóa bỏ được, các hàng người nối đuôi nhau chờ đợi
3 Nguyên lý cơ bản thứ ba của kinh tế học là các nguồn lực có khuynh hướng chuyển về những sử dụng có giá trị nhất của chúng nếu việc trao đổi mua bán tự nguyện – tức là thị trường - được cho phép Tại sao nhà sản xuất máy xén cỏ trong thí dụ trước đây đã trả tiền nhiều hơn cho lao động và vật liệu so với những người sử dụng cạnh tranh của các các nguồn lực này? Câu trả lời là ôâng ta nghĩ rằng mình có thể sử dụng chúng để nhận được giá cao hơn cho thành phẩm của mình so với những người có nhu cầu cạnh tranh có thể; các nguồn lực này đáng giá nhiều hơn đối với ông ta Tại sao chủ trang trại A đề nghị mua trang trại của chủ trang trại B với giá cao hơn giá tối thiểu của bất động sản này của B? Đó là vì bất động sản này đáng giá nhiều hơn đối với A so với B, có nghĩa là A có thể sử dụng nó để sản xuất một sản lượng có giá trị hơn như được đo lường bằng các giá mà những người tiêu dùng sẵn lòng chi trả Thông qua quá trình trao đổi mua bán tự nguyện, các nguồn lực được chuyển dịch đến những người sử dụng nào mà trong đó giá trị đối với người tiêu dùng, như được đo lường bởi độ sẵn lòng chi trả, là cao nhất Khi các nguồn lực đang được sử dụng ở nơi giá trị của chúng cao nhất, chúng ta có thể nói rằng chúng đang được sử dụng một cách hiệu quả
Một giả định tuy hữu ích về phương pháp luận nhưng không thực tế là không có các
cơ hội lợi nhuận không được khai thác (lợi nhuận ở đây theo nghĩa là đặc lợi (rent), chứ không phải là chi phí của vốn cổ phần), Cơ hội lợi nhuận là thỏi nam chân thu hút các nguồn lực vào một hoạt động nào đó Nếu thỏi nam châm này không có tác dụng, nhà kinh tế học xem đó như là một dấu hiệu không phải cho thấy rằng người ta đần độn hay có những thị hiếu kỳ cục hay không còn là những người tối đa hóa hợp lý nữa, mà cho thấy rằng có những rào cản đói với sự di chuyển tự do của các nguồn lực Rào cản có thể là các chi phí thông tin cao, các ngoại tác, sự khan hiếm cố hữu như trong thí dụ đặc lợi của đất trên đây, hay những điều kiện kinh tế khác, được bàn luận trong cuốn sách này Nếu không có những rào cản như thế, thì trên thị trường được thể hiện trong Hình 1.2, mỗi người bán sẽ (như cho thấy trong Hình 1.3) đối mặt với đường cầu nằm
ngang bằng với p cho dù toàn bộ thị trường đối mặt với đường cầu dốc xuống (mà có
thể xem là tổng của một số rất lớn các đường cầu của từng doanh nghiệp, mỗi đường cầu này chỉ dốc xuống một tý không đáng kể, nghĩa là xấp xỉ nằm ngang) Ý nghĩa của đường cầu nằm ngang là nếu người bán nâng giá của mình lên, dù cho nâng giá ít đến đâu, cao hơn giá thị trường, thì doanh số bán sẽ tiến đến zero; bởi vì bằng cách nâng giá của mình và qua đó mở ra một khoảng cách giữa giá và chi phí biên, người bán này sẽ tạo ra một cơ hội lợi nhuận mà một người bán khác sẽ ngay lập tức chộp lấy khỏi tay anh ta
Trang 71.2 Tính Hiện thực của các Giả định của Nhà kinh tế học
Người đọc nào thiếu hiểu biết trước về kinh tế học có thể bị khó khăn bởi những điều có vẻ là những giả định không thực tế trầm trọng làm nền tảng cho lý thuyết kinh tế Giả định cơ bản, rằng hành vi của con người là hợp lý, dường như mâu thuẩn với những kinh nghiệm và những quan sát trong cuộc sống hằng ngày, mặc dù sự mâu thuẩn này kém trầm trọng một khi người ta hiểu rằng khái niệm về tính hợp lý được các nhà kinh tế học sử dụng mang tính khách quan chứ không phải chủ quan, thế nên không phải là điều sơ xuất khi nói về một chú ếch hợp lý Cho dù thế, các giả định của lý thuyết kinh tế mang tính một chiều và mờ nhạt khi được xem như là những điều mô tả về hành vi của con người – đặc biệt là hành vi của những “tác nhân” kinh tế khác thường như quan tòa, người thưa kiện hay bị kiện, các bậc cha mẹ, và những người khác mà chúng ta sẽ gặp họ trong phân tích kinh tế về luật Tuy nhiên, ý tưởng trừu tượng là điều quan trọng trong vệc tìm hiểu về khoa học, và kinh tế học có tham vọng trở thành khoa học Thí dụ, định luật Newton về vật thể rơi tự do dựa trên giả định cơ bản thiếu thực tế là các vật thể rơi tự do trong chân không Tuy nhiên định luật này vẫn là một lý thuyết hữu ích bởi vì nó tiên đoán khá chính xác hành vi của một loạt nhiều vật thể rơi tự do trong thế giới thực Tương tự, một lý thuyết kinh tế về luật sẽ không thể hiện được sự phức tạp hết sức, sự phong phú và sự lộn xộn của các hiện tượng – tội phạm hay tố tụng hay hôn nhân hay bất cứ gì khác – mà lý thuyết này tìm cách làm sáng tỏ Nhưng việc thiếu tính hiện thực của nó hiểu theo nghĩa là sự hoàn chỉnh mô tả, thay vì làm mất giá trị của lý thuyết này, lại là một điều kiện tiên quyết của lý thuyết Một lý thuyết mà tìm cách tái tạo một cách chính xác sự phức tạp của thế giới thực nghiệm trong các giả định của nó sẽ không còn là một lý thuyết – một sự giải thích – mà là một sự mô tả
Lượng Hình 1.3
Trang 8Tất cả điều này không phải gợi ý rằng nhà phân tích được chọn lựa tự do các giả định Kiểm định quan trọng của một lý thuyết là khả năng giải thích thực tại của nó Nếu nó giải thích chẳng ra gì, thì lý do có thể là các giả định của nó không đủ thực tế; nhưng chúng ta không cần cố gắng đánh giá các giả định một cách trực tiếp để đánh giá lý thuyết Được đánh giá bằng kiểm định về năng lực giải thích, lý thuyết kinh tế là một thành công đáng kể (mặc dù chỉ một phần); vì thế có lẽ giả định rằng con người là những người tối đa hóa hợp lý những sự thỏa mãn của mình không thiếu thực tế đến mức như những người không phải là nhà kinh tế học có thể thoạt nghĩ Lý thuyết kinh tế giải thích rất nhiều hiện tượng thị trường và phi thị trường, như tương quan nghịch biến, được đề cập trong phần đầu của chương này, giữa các trần giá (giá trần) và các hàng người nối đuôi nhau; tương quan nghịch biến giữa việc kiểm soát đặc lợi (rent control) và trữ lượng nhà ở; quan hệ đồng biến trên các thị trường tài chính giữa rủi ro và sinh lợi kỳ vọng; quan hệ giữa giá của hợp đồng tương lai và giá thị trường giao ngay; sự phụ thuộc của số người đi học đại học vào suất sinh lợi tài chính từ giáo dục đại học; thực tế rằng hàng hóa tốt nhất có khuynh hướng được vận chuyển đi những nơi cách xa nhất và hàng hóa xấu nhất được tiêu dùng ở quê nhà; và nhiều điều khác nữa Đa phần cuốn sách này liên quan đến việc đề xuất những cách giải thích kinh tế cho các hiện tượng pháp lý được rập theo các thuật ngữ kinh tế
Bài tập
1 Giả sử mọi người đều không ích kỷ, đều có lòng từ thiện và vị tha Liệu kinh tế học có kém quan trọng đối với việc sắp xếp xã hội không? Cá nhân có lòng từ thiện phân bổ các nguồn lực như thế nào? Phải chăng anh ta có thể sử dụng thị trường – nghĩa là bán cho người trả giá cao nhất – chứ không đem cho không hàng hóa? Tại sao?
2 Thị trường chỉ là một phương pháp hướng dẫn sự phân bổ các nguồn lực đến những sử dụng khác nhau Một phương pháp khác có thể là các quyết định hành chính của một cơ quan chính phủ Bạn kỳ vọng hai phương pháp này khác nhau như thế nào?
3 Một trong các chi phí của việc trừng phạt tội hối lộ hoặc nhận hối lộ là tiền lương cao hơn cho công chức Hãy giải thích
6 Hãy giải thích bửa ăn khách tự phục vụ ở nhà hàng minh họa như thế nào cho khái niệm chi phí biên
Richard Posner, “Fundamental Economic Concepts,” E CONOMIC A NALYSIS OF L AW 3-19 (2 nd Ed 1992) (Little Brown and Company) (ISBN 0-316-71444-5)