1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tư liệu quý về BSVH dân tộc

22 299 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Liệu Quý Về Bsvh Dân Tộc
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Tài Liệu Tham Khảo
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 480,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cụm di tích ATK còn nhiều địa danh đi vào lịch sử như: đèo De, núi Hồng, nhà ông Cao Nhật - một trong những cơ sở cách mạng đầu tiên của Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ 1939 -1945; rừng Mấn - nơi đ

Trang 1

Tài liệu tham khảo

chuyên đề giáo dục bản sắc văn hóa cho học sinh

THPT

1 Những phong tục ngày Tết

Ngày Tết, dõn tộc ta cú nhiều phong tục như khai bỳt, hỏi lộc, chỳc Tết, du xuõn, mừng thọ Từ già đến trẻ ai cũng biết, ngày tết trong nhà ớt nhất cũng phải cú cành hoa, bỏnh trưng, chai rượu

* Tống cựu nghinh tõn : Cuối năm quột dọn sạch sẽ nhà cửa, cựng hàng xúm vệ sinh nhà thờ, đường xúm, tắm giặt, mua sắm quần ỏo mới và mọi thứ thức ăn, vận dụng trong ngày tết

Nhiều gia đỡnh nhắc nhở, dặn dũ con chỏu từ phỳt giao thừa trở đi, khụng cói cọ nhau, khụng vứt rỏc bừa bói, khụng nghịch ngợm, trỏch phạt nhau Đối với hàng xúm lỏng giềng, trong năm cũ cú điều gỡ khụng hay khụng phải đều xuý xoỏ hết, tất cả mọi người dự lạ dự quen, sau phỳt giao thừa đều niềm nở, vui vẻ và chỳc nhau những điều tốt lành

* Hỏi lộc, xụng nhà, chỳc tết, mừng tuổi : Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ tiến bộ, thành đặt hơn năm cũ Lộc tự nhiờn đến càng sớm càng tốt, nhưng nhiều nhà chủ tự đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đỡnh chựa,

ở chốn nghiờm trang về nhà), tự mỡnh xụng nhà hoặc dặn trước người "nhẹ vớa" mà mỡnh thớch đến xụng nhà

Đỏng lẽ sỏng mồng một đụng vui lại hoỏ ra ớt khỏch, khụng ai dỏm đi đến nhà khỏc sớm, sợ trong năm mới gia đỡnh người ta xảy ra chuyện gỡ khụng hay lại đổ tại mỡnh "nặng vớa", vỡ tục xụng nhà chỉ tớnh người đầu tiờn đến nhà, từ người thứ hai trở đi khụng tớnh

Sau giao thừa cú tục mừng tuổi chỳc tết Trước hết con chỏu mừng tuổi ụng bà, cha mẹ ụng bà, cha mẹ cũng chuẩn bị một ớt tiền để mừng tuổi cho con chỏu trong nhà

và con chỏu hàng xúm làng giềng, bạn bố thõn thớch, đồng thời chỳc nhau những lời chỳc tốt đẹp Người nào thớch điều gỡ thỡ chỳc điều đú, chỳc sức khoẻ là phổ biến nhất, luụn hướng tới sự tốt lành và kiờng núi tới những điều rủi ro hoặc xấu xa

Quanh năm làm ăn vất vả, ớt cú điều kiện qua lại hỏi thăm nhau, nhõn ngày lễ tết đến chỳc mừng nhau, gắn bú tỡnh cảm Nhiều nhà, hễ đến chỳc tết nhau nhất thiết phải nõng ly rượu, nếm vài mún thức ăn gỡ đú chủ mới vui lũng, năm mới từ chối sợ bị

"giụng" cả năm

* Quà tết, lễ tết : Việc biếu quà tết cú ý nghĩa tỏ õn nghĩa tỡnh cảm, con rể tết bố mẹ

vợ, học trũ tết thầy giỏo, bệnh nhõn tết thầy thuốc Quà biếu, quà tết đú khụng đỏnh giỏ theo giỏ trị thị trường, nhưng cũng đừng nờn gũ bú, cõu nệ sẽ hạn chế tỡnh cảm: khụng cú quà ngại khụng dỏm đến

Trang 2

* Lễ mừng thọ : Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở nước ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường

tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần, cửu tuần tính theo tuổi mụ Ngày tết, ngày xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ấn, học trò sẽ khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở cửa hàng lấy ngày Sau ngày mồng Một, tất cả "Tứ dân bách nghệ" đều chọn ngày "khai nghề", nếu mồng Một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu, riêng khai bút thì giao thừa xong chọn giờ hoàng đạo thì bắt đầu

* Lễ mừng thọ : Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở nước ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường

tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát tuần, cửu tuần tính theo tuổi mụ Ngày tết, ngày xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ấn, học trò sẽ khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở cửa hàng lấy ngày Sau ngày mồng Một, tất cả "Tứ dân bách nghệ" đều chọn ngày "khai nghề", nếu mồng Một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu, riêng khai bút thì giao thừa xong chọn giờ hoàng đạo thì bắt đầu

* Kiêng không hốt rác đổ đi trong ba ngày Tết : Tục này nguyên từ bên TQuèc, trong "Sưu thần kỳ" có chuyện người lái buôn tên là Ân Minh được thuỷ thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài năm thì giàu lên Một hôm nhân ngày mồng Một tết, Ân Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Ân Minh lại nghèo đi Kể từ đó kiêng không hót rác ngày tết, ta bắt chước và đến nay vẫn nhiều người theo tục này

* Cúng giao thừa ngoài trời : Dân tộc nào cũng coi phút giao thừa là thiêng liêng Các cụ ta quan niệm: Mỗi năm Thiên Đình lại thay toàn bộ quan quân trông nom thiên

hạ dưới hạ giới, đứng đầu là một ngài có vị trí như quan toàn quyền Và các cụ hình dung phút giao thừa là lúc bàn giao các quan quân quản hạ giới hết hạn kéo về trời và quan quân mới được cử thì ào ạt kéo xuống hạ giới tiếp quản thiên hạ Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới để mong các quan phù hộ cho một năm mới mọi sự tốt lành

2 Mâm ngũ quả

Ngày Tết, gia đình nào cũng có mâm ngũ quả dâng lên bàn thờ tổ tiên, ông bà Mâm ngũ quả bên cành đào, câu đối đỏ, bức tranh Tết, bánh chưng xanh tạo nên khung cảnh ấm áp của mỗi gia đình khi Tết đến xuân về

Không biết phong tục này có từ bao giờ, phải chăng vì đất nước ta vốn bốn mùa hoa trái, nhất là vào mùa Xuân hoa quả càng rộ Hoa qủa là lộc của thiên nhiên, đất trời Lộc Xuân càng quý Dâng lộc trời, cúng ông bà, tổ tiên trong những ngày đầu Xuân là một tục lệ đầy nét nhân văn

Trang 3

Cứ vào khoảng 28 tháng Chạp âm lịch thì nhà nhà đều cho bày biện một mâm ngũ quả kèm với nhiều sản vật khác trên bàn thờ Mâm ngũ quả thường bày trên một cái mâm bằng gỗ tiện, sơn son, có chân, gọi là mâm bồng Nếu không có mâm bồng, có thể bày trên một cái đĩa to, nhưng phải đặt trên chồng bánh chưng để tạo dáng cao, uy nghiêm, thành kính

Mâm ngũ quả có 5 loại Tại sao lại 5? Theo các vị cao niên, am tường về Nho giáo thì xuất xứ của mâm ngũ quả có liên quan đến quan niệm triết lý Khổng giáo của phương Ðông, thế giới được tạo nên từ năm bản nguyên - gọi là "ngũ hành": Kim - Mộc

- Thuỷ - Hỏa - Thổ, nghĩa là 5 yếu tố cấu thành vũ trụ Các vùng,các miền do mùa xuân hoa trái khác nhau, nên mâm ngũ quả cũng khác nhau như:chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, hồng xiêm, táo Mỗi quả mang một ý nghĩa: Chuối - phật thủ: như bàn tay che chở Bưởi - dưa hấu: căng tròn, mát lành, hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn Hồng - quýt: rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt

Theo quan niệm của dân gian thì "quả" (trái cây) được xem như biểu tượng cho thành quả lao động một năm Ông cha ta chọn 5 loại trái cây để cúng đêm giao thừa là ngụ ý rằng: Những sản vật này đựơc kết tinh từ công sức, mồ hôi, nước mắt của con người lao động, kính dâng lên đất trời, thần thánh trong giờ phút linh thiêng của vũ trụ vạn vật sinh tồn Tư tưởng, hình ảnh ấy đã ăn sâu và tâm thức của người Việt Nam bao đời nay

Mâm ngũ quả trong Nam cũng khác so với ngoài Bắc Trên mâm ngũ quả ở ngoài Bắc thường có: Bưởi, đào, quýt, chuối, hồng Có khi người ta thay bưởi bằng phật thủ hoặc lựu Mâm ngũ quả trong Nam vẫn cứ giữ nguyên truyền thống là mãng cầu, sung, dừa xiêm, đu đủ, xoài mà các bà thường quan niệm sơ đẳng là "cầu - sung - vừa - đủ - xài"

Vài năm gần đây, mâm ngũ quả cúng Tết đã có nhiều thay đổi nó không còn ngũ quả nữa mà đã trở thành "lục, thất, bát quả" vì bên cạnh có thêm những đặc sản cao cấp như: nho, lê, táo tùy theo cách nghĩ và túi tiền của mỗi gia đình Mâm ngũ quả làm quang cảnh ngày Tết và không gian cúng thêm phần ấm áp, rực rỡ mà hài hoà Nó thể hiện sinh động ý tưởng triết lý - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết Tìm hiểu về mâm ngũ quả cũng là tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử, truyền thống tốt đẹp để chúng ta nhớ lại ông bà, tổ tiên.

3 Di tÝch lÞch sö v¨n hãa

* ATK - an toàn khu kháng chiến

Trang 4

ATK - An toàn khu kháng chiến Lán Khuôn Tát – N¬i Bác Hồ sống và làm việc năm 1948

Vị trí: ATK thuộc xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

Đặc điểm: Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã sống và làm việc từ

1947 - 1954 để lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp

Ðiểm di tích lịch sử ATK này đã được Nhà nước xếp hạng quốc gia năm 1981 Hiện nay, ATK còn nhiều di tích về nơi ở và làm việc của Bác như nền nhà, hầm làm việc, cây râm bụt Bác trồng, phiến đá Bác thường nằm nghỉ trưa ATK là nơi ghi lại nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Ngày 6/12/1953, tại đồi Tỉn Keo, Bộ Chính trị BCH TW đã họp thông qua kế hoạch tác chiến - tấn công chiến lược Ðông Xuân 1953- 1954 để làm nên chiến thắng Ðiện Biên Phủ lẫy lừng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của dân tộc Nhiều sắc lệnh quan trọng của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được ký ban hành tại đây, trong đó có luật về nghĩa vụ quân sự, sắc lệnh tổng động viên về giảm tô và cải cách ruộng đất Thủ đô ATK cũng là nơi diễn ra các hoạt động ngoại giao của nước ta thời ấy

Năm 1990 tại đồi Tỉn Keo, tỉnh Thái Nguyên đã xây bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng trưng bày di tích lịch sử, nhà khách Tại trung tâm xã Phú Ðình cũng đã xây dựng nhà truyền thống, giới thiệu trưng bày nhiều hiện vật quý

Lán Khuôn Tát - Nơi Bác Hồ sống và làm việc năm 1948 : Bên cạnh các di tích

chính như đồi Tỉn Keo, Khuôn Tát, Nà Nom cụm di tích ATK còn nhiều địa danh đi vào lịch sử như: đèo

De, núi Hồng, nhà ông Cao Nhật - một trong những cơ sở cách mạng đầu tiên của Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ

1939 -1945; rừng Mấn - nơi đặt trạm liên lạc của Xứ uỷ Bắc Kỳ và là nơi mở lớp huấn luyện chính trị, quân

Vị trí: Bảo tàng Văn hoá các Dân tộc Việt Nam nằm ở trung

tâm thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Đặc điểm: Bảo tàng được xây dựng vào năm 1960 trên

một khuôn viên rộng, có nhiều cây cổ thụ Bảo tàng đã

trưng bày, giới thiệu nhiều hiện vật là di sản văn hoá truyền

thống của đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam Bảo tàng có

Trang 5

tổng diện tích 28.000m2 với hơn 3.000m2 sử dụng cho khu trưng bày, kho bảo quản hiện vật và các hoạt động khác.

Hiện nay, Bảo tàng lưu giữ hơn 20.000 đơn vị tài liệu hiện vật gốc quý hiếm thuộc di sản văn hoá của 54 dân tộc Việt Nam

* Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Vị trí: Ðường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Ðặc điểm: Lưu giữ các hiện vật, tài liệu phản ánh mọi mặt

đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của 54 dân tộc trên

khắp cả nước

Nằm trên một khu đất rộng 3ha, bảo tàng Dân tộc học Việt

Nam được khai trương vào cuối năm 1997 Ngay từ khi ra

đời, nơi đây đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch và các nhà nghiên cứu văn hoá, dân tộc học trong nước và quốc tế

Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000 ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-sét phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam

* Văn miếu - Quốc Tử Giám

Vị trí: Đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội.

Ðặc điểm: Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo

và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam Năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau

mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ.Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch Bên trong có những lớp tường ngăn ra làm 5 khu Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính, trên cổng có chữ Văn Miếu, dưới cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời

Lê sơ (thế kỷ 15) Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Ðại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai Hai bên còn hai cổng nhỏ Vẫn lối đi ấy dẫn đến Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê, chủ đề văn học) Hai bên gác cũng có hai cổng nhỏ Khu thứ ba là từ gác Khuê Văn tới Ðại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh

Hai bên hồ là hai khu vườn bia tức nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ (năm 1993 với sự tài trợ một phần của tổ chức doanh nghiệp Mỹ, Ban Quản lý Văn Miếu đã dựng được tám ngôi nhà che cho các bia này) Tiến sĩ là người đỗ cao nhất trong kỳ thi Ðình Ngày trước, người đi học sau khoảng 10 năm đèn sách đủ vốn chữ để dự thi Hương tức khoa thi tổ chức liên tỉnh, cứ ba năm mở một khoa Ðạt

Trang 6

điểm cao của kỳ thi này đạt học vị Cử nhân Năm sau các ông Cử tới kinh đô dự kỳ thi Hội Những người

đủ điểm chuẩn sẽ dự kỳ thi Ðình (thi Hội và thi Ðình thực ra là hai giai đoạn của một cuộc thi) Trúng tuyển kỳ thi này được gọi là Tiến sĩ Ðỗ Tiến sĩ có thể được bổ làm quan Hiện có 82 bia, xưa nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442, muộn nhất là bia khoa năm 1779 Ðó là những di vật quý nhất của khu di tích Bước qua cửa Ðại thành là tới khu thứ tư Một cái sân rộng, hai bên là dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho Cuối sân là nhà Ðại bái và Hậu cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1768, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt có khắc bài văn nói về công dụng của loại nhạc khí này

Bố cục của toàn thể Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng có từ đời Lê (thế kỷ 15 - thế kỷ 18) Riêng Khuê Văn Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng nằm trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như Văn Miếu ở Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê Văn Các, Ðại Thành Môn, Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ ) Khuê Văn Các ở Văn Miếu Hà Nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử

* Nhà sàn Bác Hồ

Vị trí: Nằm trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, thuộc Q Ba Đình,

Ðặc điểm: Đây là ngôi nhà Bác ở và làm việc từ năm 1958

Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau Ðó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17/5/1958 cho tới khi Người qua đời Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Ðoài; quýt Hương Cầm, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Ðông Mỹ; hồng Tiên Ðiền Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh

ao, cây cau vua gốc từ Caribê Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị Tầng trên là 2 phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.Nhân dân ta từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng Lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh quảng trường Ba Ðình lịch sử

* Lăng Minh Mạng

Vị trí: Lăng Minh Mạng thuộc địa phận núi Cẩm Kê, xã Hương Thọ,

huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi

Trang 7

hợp lưu nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch tạo thành sông Hương chảy

qua Tp Huế Lăng cách Tp Huế 12km

Đặc điểm: Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc quy mô

gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ Lăng Minh Mạng toát lên vẻ

đường bệ, uy nghiêm nhưng rất hài hòa giữa các công trình kiến trúc và thiên nhiên

Tháng 4/1840, vua Minh Mạng đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn và gọi tên lăng là Hiếu Lăng Lăng được khởi công xây dựng vào tháng 9/1840

Ðến tháng 1/1841 công trình đang xúc tiến thì Minh Mạng lâm bệnh mất, vua Thiệu Trị lên nối ngôi và tiếp tục cho xây dựng lăng theo đúng thiết kế cũ Tháng 8/1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành Ðến năm 1843 thì việc xây lăng mới hoàn tất Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc qui mô gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ gồm Cung điện, Lâu đài, Đình tạ được bố trí cân đối trên một trục dọc từ Ðại Hồng Môn (ở ngoài cùng) tới chân tường của La Thành sau mộ vua

* Hồ Hoàn Kiếm

Vị trí: Thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Ðặc điểm: Hồ Hoàn Kiếm được coi là hòn ngọc của Thủ đô, hay như du khách nước ngoài gọi là "Lẵng

hoa giữa lòng thành phố"

Theo các nhà khoa học hồ là một đoạn sót lại của sông Hồng sau khi sông đã chuyển dòng như hiện nay

Sự việc sông nước biến thiên ấy diễn ra cách đây vài nghìn năm Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh Thế kỉ 15, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ Hồ Hoàn Kiếm với đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và tháp Rùa lung linh bóng nước là hình ảnh của thủ đô Hà Nội trong

mỗi trái tim người Việt Nam

* Đền Ngọc Sơn

Vị trí: Nằm trên đảo Ngọc Sơn thuộc hồ Hoàn Kiếm, thành

Đặc điểm: Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới xong đền Ngọc

Sơn lại là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc

Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi) Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên đảo là Ngọc Tượng và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn Tại đây đã có một ngôi đền được dựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông Về sau lâu ngày ngôi đền bị sụp đổ Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thuỵ Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội

Trang 8

từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương đế quân vào thờ và đổi tên là đền Ngọc Sơn (Văn Xương là nhân vật đời Kiến Vũ, năm 25 - 55 sau công nguyên bên Trung Quốc, sau khi chết được phong là thần chủ về văn chương khoa cử).

Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền Đền mới sửa được đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cây cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc Trên núi Ngọc Bội cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là tháp Bút Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét

về phương diện triết học Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn Đền chính gồm hai ngôi đền nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút được đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá Phía nam

có đình Trấn Ba (đình chắn song - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời) Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có 8 cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng

đá, bốn cột trong bằng gỗ Các nhân vật được thờ trong đền ngoài Văn Xương Đế Quân, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, Trần Hưng Đạo, còn thờ cả phật A Di Đà Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt

Sự kết hợp giữa đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những kỷ niệm xưa về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào, yêu nước chính đáng cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc

4 Các di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận

Quần thể di tích Cố đô Huế , năm 1993, là di sản văn hóa thế giới

Nhã nhạc cung đình Huế , năm 2003, là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại(trong tổng số 47 kiệt tác tương tự)

Vịnh Hạ Long , được công nhận hai lần, năm 1994, là di sản thiên nhiên thế giới, năm 2000, là di sản địa chất thế giới

Phố Cổ Hội An , năm 1999, là di sản văn hóa thế giới

Thánh địa Mỹ Sơn , năm 1999, là di sản văn hóa thế giới

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng , năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên năm 2005 là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại

Trang 9

* Thánh địa Mỹ Sơn

Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng

khoảng 70 km về phía tây nam Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của

vương quốc Chămpa Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ

Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây

dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadresvara Hơn hai

thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ

Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ TK thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa

Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế

kỷ XV Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến

trúc chămpa cũng như của Đông Nam Á

Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như

mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo

nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp

Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3

phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc Thân tháp

tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc Phần trên cùng

là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim

muông, sư tử động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con

người

Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu

trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá

Trang 10

* Động Phong Nha - chốn thần tiên

Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng của

tạo hoá đã ban tặng cho vùng

km về phía tây bắc Từ Ðồng Hới,

đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó

đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động Chỉ cách đây vài năm, đây còn là một con đường đất đỏ, mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn Nơi mà một thời bom đạn chiến tranh đã không chừa một tấc đất, một nhành cây, một ngọn cỏ Nhưng giờ đây, chính con đường này đã thổi một luồng sinh khí mới cho bộ mặt của cả vùng núi hoang sơ này

Nếu như đấng tạo hoá đã tạo ra con người thì hình như chính tạo hoá lại chở che cho chúng Trải qua bao cuộc chiến, Ðộng Phong Nha vẫn còn đó, nguyên sơ như hàng triệu năm về trước

Những làng quê yên bình nằm xen kẽ giữa những lùm tre thấp thoáng mái nhà nâu đỏ bên hữu ngạn sông Son Những O thôn nữ đứng gọi đò bên bến nước, những chiếc thuyền đưa khách ngước xuôi, chào hỏi nhau bằng ngôn ngữ của nhiều vùng làm sống động cả bến sông Thuyền cập bến cũng là lúc du khách bắt đầu một cuộc hành trình khám phá một mê hồn cung giữa chốn đời thường

Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với chiều dài lên đến khoảng trên 20 km, nhưng hiên nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ

ra mặt đất, nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Ðam cách đó hơn 20km về phía Nam Trước cửa động, cảnh núi non sông nước càng thêm quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện

ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người Người ta đã khéo đặt tên cho cảnh đẹp nơi đây là Ðộng Phong Nha (Ðộng Răng Gió) Vào mùa nước lớn nước sông Son dâng cao che khuất cửa hang, thuyền

du lịch không vào đây được Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương

Cửa động rộng khoảng 20 mét, cao 10 mét, có nhũ đá lô nhô Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn Xen lẫn với tiềng mái chèo như có tiếng chiêng "bi tùng bi" vẳng lên, người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiến trống Ðộng chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền bởi một hành lang nước dài đến 1500m Từ buồng thứ 14 ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa đến những buồng cũng to rộng không kém nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còng tiếp tục Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là Hang nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá cát Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kịch thích trí tưởng tượng.Phong Nha không giống như những điểm du lịch khác ở Việt Nam, động nằm trong khu rừng nguyên sinh

Kẻ Bảng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi Trong con mắt của những vị du khách du lịch, những cư dân bản địa nơi đây mang một phong cách rất riêng "Họ cư xử thân thiện và tình cảm mang tính cách của người nông dân thuần kiết hơn là nhìn nhân du khách như là một cơ hội để tìm kiếm nguồn tài chính Ðiều này càng làm cho Phong Nha thêm hấp dẫn khách du lịch"

Tháng 4 - 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha - Xuân Sơn được

tổ chức tại Quảng Bình Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:

1 Hang nước dài nhất 2 Cửa hang cao và rộng nhất 3 Bãi cát và đá rộng đẹp nhất

4 Hồ ngầm đẹp nhất 5 Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất 6 Dòng sông ngầm dài nhất Việt

7 Hang khô rộng và đẹp nhất

Trang 11

* Vịnh Hạ Long

Nằm ở vùng Ðông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần vịnh

Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm

Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn Phía tây nam Vịnh giáp

đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với

đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn từ 106o58' - 107o22'

kinh độ Ðông và 20o45' - 20o50' vĩ độ Bắc với tổng diện tích 1553

km² gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980

Ðảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Ðầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động Ði giữa Hạ Long,

ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá, đảo thì giống hình một người đang đứng hướng về đất liền (hòn Ðầu Người), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Cặp Gà, hòn Lư Hương Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc Hình dáng những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Ðầu Gỗ, động Sửng Sốt, động Tam Cung Ðó thực sự

là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là kỳ quan đất dựng giữa trời cao Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Ðồn - nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ ghi bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Ðằng - nơi đã từng chứng kiến hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hoá Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Ðồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây

Ngày đăng: 06/07/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w